B.2.2.47.
PHI PHÁP CHẾ HẠN GIỚI
(giới
chế hạn phi pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Nhược Phật tử giai dĩ tín tâm thọ Phật giới giả...”
cho đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử đã có lòng tin thọ giới của Phật. Nếu quốc
vương, hoàngh tử, các quan, bốn bộ đệ tử ỷ thế lực,
quyền uy phá diệt giới luật Phật pháp, lập ra những điều
luật khắt khe, hạn chế bốn bộ đệ tử của Phật, không
cho họ xuất gia hành đạo, cũng không cho tạo lập hình tượng
Phật và Bồ Tát cũng như tháp và kinh luật. Lại đặt ra
chức quan đổng lý hạn chế tứ chúng và lập bộ sổ ghi
số Tăng. Tỳ kheo Bồ Tát lại phải đứng dưới đất, còn
bạch y lại được ngồi trên tòa cao. Hoặc làm nhiều việc
phi pháp tựa như bắt binh nô thờ chủ. Hàng Bồ Tát là những
vị lẽ ra phải được mọi người cúng dường, mà ngược
lại, bị bắt làm tay sai của các quan chức. Ðó là phi pháp,
phi luật. Nếu quốc vương và các quan có lòng tốt thọ giới
của Phật, chớ làm những tội phá Tam Bảo ấy. Nếu cố
làm thì phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Thuyết
pháp mà không đúng theo lễ nghi là chứng tỏ không có lòng
kính trọng Pháp Bảo, và dĩ nhiên đó không phải là hành
vi của một người Phật tử. Tự ỷ uy thế của mình mà
phá diệt Phật pháp, là không có tâm tôn trọng Tam Bảo, tội
lỗi ấy đương nhiên rất nặng.
Là
người Phật tử, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù phải hy
sinh tính mạng của mình để hộ trì Tam Bảo, cũng phải làm
để cho ngôi Tam Bảo được cửu trụ vĩnh viễn trên thế
gian, đem phước lợi cho tất cả chúng sanh. Không được quay
lại nương cậy quyền thế của mình mà làm những việc tổn
hại chánh pháp.
Người
có quyền thế, thế lực đã bẩm thọ lời phú chúc của
Phật Ðà, lại đã bẩm thọ Quang Minh Kim Cương Bửu Giới,
là đệ tử của Tam Bảo. Ðã là đệ tử của Tam Bảo mà
không hộ trì Tam Bảo, trở lại ỷ quyền thế, lập ra pháp
cấm chế, là trái với lời phó chúc của Ðức Phật và cũng
là trái với sơ tâm thọ giới của chính mình, làm cho mặt
trời trí huệ bị che lấp, thuyền chánh pháp bị đắm chìm,
đôi mắt sáng của chúng sanh bị mờ tối. Thử nghĩ tội
này lớn biết dường nào! Trái lời phó chúc của Ðức Phật,
tự lập điều cấm chế, đó là nhân duyên phá hoại Phật
pháp. Cho nên Ðức Phật đặc biệt chế lập giới điều
này, ngăn cấm và bảo phải chấm dứt hẳn.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là Phật tử
đã thọ Bồ Tát giới, lúc tối sơ, tất nhiên đều có lòng
tin mà thọ chánh giới của Phật. Tức là do lòng tin làm nhân
để thọ giới. Vì nếu không có lòng tin thì tuyệt nhiên
không bao giờ chịu bẩm thọ giới pháp của Phật. Ðã như
vậy, trước sau cần phải nhất tâm như một, không được
trái với sơ tâm. Cho nên nếu “quốc vương, hoàng tử, các
quan, bốn bộ đệ tử” do lòng tin bẩm thọ giới pháp của
Phật, sau đó lại tự ỷ mình thân thế cao quý thay đổi
sơ tâm thọ giới, khởi ác niệm “phá diệt giới luật Phật
pháp”, dám cả gan lập ra pháp luật để phá diệt Phật
pháp. Việc làm như thế gây tạo tội ác lớn biết dường
nào!
Bốn
bộ đệ tử của Phật là tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc,
ưu bà di, bản thân các vị vốn không đủ thế lực, uy quyền
chế lập pháp luật để phá diệt Phật pháp. Nhưng những
bọn xu viêm phụ thế (hùa theo người có thế lực), nương
theo thế lực của quốc vương, hoàng tử, bá quan, tác oai
tác quái, mới làm việc phá hoại Phật pháp.
Những
hạng người này, sở dĩ làm việc phá hoại pháp luật của
Phật vì ba nguyên nhân sau đây:
1.
Vì họ dù đã bẩm thọ giới pháp, nhưng tâm cống cao ngã
mạn chưa trừ, nên khi họ thấy người xuất gia ngồi ở
trên cao thì sanh tâm bất mãn, nên sanh ác niệm phá hoại Phật
pháp.
2.
Vì họ có những điểm không đúng pháp. Thầy, bạn thấy
những khuyết điểm đó, vì họ chỉ ra và khuyên bảo họ
nên sửa đổi. Nhưng họ lại nghĩ rằng: “Ta là một nhân
vật có địa vị trong xã hội, mà bị những người xuất
gia chỉ trích lỗi lầm, ta làm sao có thể phục tùng, thọ
nhận lời chỉ trích được”. Vì muốn che đậy lỗi lầm
của mình, nên họ mới khởi tâm niệm ác phá diệt Phật
pháp.
3.
Vì lúc tối sơ, tín tâm của họ rất thuần khiết, nên đem
thân tâm tắm gội trong Phật pháp. Về sau thấy trong Phật
pháp có những hạng người xuất gia bất hiếu, phá hoại
Phật pháp. Họ cho rằng Phật giáo đồ chẳng qua chỉ toàn
là những hạng người như vậy, nên thối thất tâm kính tín
Tam Bảo lúc ban đầu và sanh khởi ác niệm phá hoại Phật
pháp.
Vì
thế, người xuất gia đối với những người có quyền thế
phải tìm mọi biện pháp dẫn dắt, khiến cho họ bước lên
con đường chánh của Phật pháp và hộ trì chánh pháp của
Như Lai.
Phá
diệt Phật pháp, chế lập ra điều lệ, nghĩa là hạn chế
bốn bộ đệ tử của Phật, không cho xuất gia hành đạo.
Ở đây nói bốn bộ đệ tử không phải như nghĩa thông thường
chỉ cho tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, mà chỉ
cho cư sĩ, vợ cư sĩ, đồng nam, đồng nữ.
“Cũng
không cho tạo lập hình tượng Phật và tháp, lại cũng không
cho viết chép kinh luật”:
-
Không cho người đời xuất gia thì tăng bảo phải tiêu diệt,
ấy là phá hoại Tăng Bảo.
-
Không cho tạo lập hình tượng Phật thì Phật Bảo bị tiêu
diệt, ấy là phá hoại Phật Bảo.
-
Không cho viết chép hoặc ấn hành kinh điển, thì Pháp Bảo
phải bị tiêu diệt, ấy là phá hoại Pháp Bảo.
Như
thế Tam Bảo bị tiêu diệt. Nhân thiên mất hẳn phước điền
quý báu vô thượng. Bấy giờ trên thế gian này biến thành
cảnh đại hắc ám và nhân loại trở thành những người
tội ác. Thật là một điều đáng sợ vô cùng!
Tiến
thêm một bước nữa, vì muốn khống chế chúng tăng, chính
quyền bấy giờ mới đặt ra chức quan Ðổng Lý, hạn chế
tứ chúng và lập sổ bộ ghi số lượng Tăng. Nghĩa là chính
quyền cai trị bấy giờ, chẳng những không cho gia tăng nhân
số chúng xuất gia mới, mà đối với chúng xuất gia sẵn
có từ trước, lại đặc biệt chế lập một chức quan thống
nhiếp chúng tăng để ngăn cấm các loại hoạt động của
người xuất gia.
Lại
còn lập sổ bộ ghi chép danh tánh của chúng Tăng, để biết
rõ số lượng nhiều ít nhất định, không được có sự
tự ý thêm bớt. Khi có việc phục dịch nào, thì cứ y theo
quy điều đã lập mà thi hành. Chúng tăng trong Phật pháp và
nhân dân bá tánh ngoài đời đều như nhau. Như trường hợp
hiện nay,Tăng nhân phải phục vụ binh dịch và tham gia nghĩa
vụ lao động v.v... hoàn toàn giống như nhân dân trong nước,
không có điểm nào khác biệt. Ðối với chúng tăng xuất
gia mà còn triệt để hạn chế như vậy, thì nói gì đến
việc tôn kính ngôi Tam Bảo!
Kinh
Bảo Tích, quyển 4 nói: “Nếu người con đi xuất gia mà cha
mẹ ngăn cản sẽ bị quả báo bần cùng trong bảy đời”.
Thử xét, ngăn cản con xuất gia mà còn bị quả báo như vậy,
huống chi là tội phá diệt Tam Bảo! Khổ quả ấy đương
nhiên không thể hạn lượng!
Trong
kinh Phú Pháp Tạng nói: Một hôm Xà Dạ Na tôn giả vào thành
khất thực. Tôn giả trông thấy một con phi điểu, sắc mặt
của ngài bỗng nhiên hiện một nét cười buồn bã.
Người
đệ tử theo hầu thấy lạ, bèn hỏi tôn giả vì sao ngài
mỉm cười mà lại ẩn nét buồn như vậy.
Tôn
giả đáp: - Vào thời quá khứ, có một kiếp nọ, ta rất
muốn xuất gia. Nhưng cha mẹ ta không đồng ý, và bắt buộc
ta phải cưới vợ. Sau khi cưới vợ một thời gian, vợ ta
sinh được đứa con trai. Lúc bé lên sáu tuổi, ta lại khẩn
thiết cầu xin cha mẹ cho đi xuất gia, nhưng cha mẹ ta vẫn
không bằng lòng, lại còn bảo bé con ôm chân ta lại khóc
lóc, kêu la mà nói rằng: - Nếu cha muốn bỏ con đi xuất gia
tu hành thì ai nuôi dưỡng con và con biết nương tựa vào ai?
Vậy cha nên giết con đi rồi sau mới có thể xuất gia tu hành
theo ý muốn.
Vì
bé ấy làm chí nguyện xuất gia của ta không được toại.
Từ ấy đến nay trải qua chín mươi mốt kiếp, nó bị trôi
lăn trong sanh tử luân hồi, trải qua trong lục đạo và ta
chưa từng trông thấy lại đứa con ấy. Nay nhờ tu hành chứng
Thánh Quả, ta dùng đạo nhãn trông thấy con phi điểu này
chính là đứa con đời trước của ta. Vì nó ngu si dại dột
mà mãi chịu trong cảnh sanh tử luân hồi, chịu không biết
bao nhiêu điều thống khổ, thực là đáng thương. Chính vì
lẽ đó nên bất giác lòng ta cảm thấy buồn.
Theo
chuyện kể trên, chúng ta thấy rằng ngăn cản người đi xuất
gia chắc chắn bị tội báo đọa trong ác đạo. Khi ra khỏi
ác đạo, dù được sanh trong nhân gian, nhưng bị quả báo
đui mù.
Cho
nên người có trí huệ, thấy người phát tâm xuất gia phải
tìm mọi phương tiện giúp đỡ cho thành tựu, không được
dụng tâm làm lưu nạn.
Kinh
Lão Nữ Nhân cũng nói: “Khi Phật còn tại thế, có một lão
nữ nhân bần cùng khổ sở. Sau khi nghe Phật giảng nói chánh
pháp, bỗng nhiên tâm ý khai ngộ. Ðây là một điều rất
khó có.
Ngài
A Nan thấy thế, thỉnh vấn Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Lão
nữ nhân này vì sao có được trí huệ như vậy?
Ðức
Phật đáp: - Lão nữ nhân này không phải là người tầm thường.
Chính là mẹ trong vô lượng kiếp về trước của ta, khi ta
phát tâm học đạo.
Ngài
A Nan hỏi tiếp: - Bạch Thế Tôn! Ðã là mẹ của Thế Tôn
sao lại bị quả báo nghèo cùng khổ sở như vậy?
Phật
đáp: - Vào thời quá khứ, lúc Ðức Phật Câu Lưu Tôn xuất
thế, ta muốn xuất gia làm sa môn học đạo, mẫu thân đối
với ta có tâm từ ái quá nặng, không muốn xa rời, nên không
cho ta xuất gia. Vì thế, ta buồn rầu không thiết đến việc
ăn uống mỗi ngày.
Mẹ
ta cũng do nhân duyên ấy, chiêu cảm khổ quả bần cùng trong
năm trăm đời. Nhưng trong đời ngắn ngủi này, khi sang mạng
kết thúc, mẹ ta liền vãng sanh về nước của đức A Di Ðà”.
(Phật
Câu Lưu Tôn ở đây không phải là Phật thứ bảy trong bảy
đức Phật. Vì Phật Câu Lưu Tôn, vị thứ tư trong bảy đức
Phật, chỉ cách đức Phật Thích Ca hai đức Phật. Tức Là
Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp Phật rồi đến Phật
Thích Ca Mâu Ni. Còn Phật Câu Lưu Tôn ở đây chỉ là trùng
danh với đức Câu Lưu Tôn vừa nói. Ngài là một trong một
ngàn đức Phật trong Hiền kiếp này).
Theo
hai quyển kinh trên, chúng ta thấy con ngăn cản cha mẹ, cha
mẹ ngăn cản con không cho xuất gia, bị chiêu cảm khổ báo
như vậy, huống chi vợ chồng, anh em, bè bạn làm chướng
ngại ngăn cản nhau ư? Tội ấy đương nhiên càng nặng hơn
nhiều. Thế nên Phật tử đã có tín tâm thọ giới pháp của
Phật, với việc ấy cần phải từng phút giây tự thận trọng
lấy mình, không được ngăn cản việc xuất gia của người.
Trong
kinh Nhân Vương Bát Nhã có một đoạn thuyết minh rằng:
“Một
hôm Phật bảo vua Ba Tư Nặc:
-
Này đại vương! Sau khi ta diệt độ, lúc chánh pháp sắp diệt,
ta đem Tam Bảo này phú chúc cho các quốc vương, các ông phải
lưu tâm ủng hộ Phật pháp. Ðại vương nên biết: đời ác
trược sau này, các quốc vương, hoàng tử, các quan tự ỷ
địa vị cao quý làm việc phá diệt Phật pháp của ta, ngang
nhiên đặt ra những điều luật cấm chế các đệ tử của
ta, không cho xuất gia, cũng không cho tạo lập hình tượng
Phật, tháp Phật và kinh luật. Lại đặt ra chức quan thống
nhiếp chúng tăng, đặt sổ bộ ghi chép tăng sự. Tỳ kheo
bắt đứng dưới đất, bạch y ngồi trên tòa cao...”
Ðoạn
kinh này hoàn toàn phù hợp với những giới điều đức Phật
chế lập ở đây.
Ðối
với Tăng Bảo xuất gia, những bậc Bồ Tát tỳ kheo tu hành
đã không có tâm tôn trọng cung kính, không biết rằng muốn
đem Phật pháp truyền bá trong nhân gian, làm cho huệ mạng
của chúng sanh không bị đoạn tuyệt, là hoàn toàn nương
nhờ vào những vị Bồ Tát tỳ kheo đã thực hành công hạnh
tự lợi, lợi tha. Như thế, lẽ ra hàng quốc vương, hoàng
tử v.v... phải hết lòng tôn trọng, phải kính nhường để
Bồ Tát xuất gia ngồi ở tòa cao mới đúng.
Nếu
ngược lại, để cho Bồ Tát xuất gia đứng dưới đất thì
đâu phải là tinh thần tôn trọng và cung kính? Bạch y vốn
là người chưa thọ giới cần phải hướng về Bồ Tát tỳ
kheo cầu đạo pháp giải thoát, đối với ngôi Tam Bảo phải
kính thờ tôn trọng. Ðúng nguyên tắc, phải đứng ở dưới
đất, nhưng trái lại, chẳng những không thực hành như vậy,
lại còn nghiễm nhiên ngồi tòa cao như thế, làm sao đúng
với tinh thần và tư cách của người cầu pháp? Việc này
thật đúng như trong kinh nói: “Làm nhiều việc phi pháp”,
đặt chư Bồ Tát tỳ kheo vào tình thế như “binh nô thờ
chủ”. Nghĩa là tăng nhân bị quyền thế áp bức, còn bị
lăng nhục đủ điều. Thật là sự tôn nghiêm của Phật pháp
hoàn toàn không còn gì nữa.
Những
vị Bồ Tát du hành giáo hóa trong nhân gian, đáng lẽ nên được
mọi người cúng dường mới phải, lẽ đâu lại bắt chư
vị làm tay sai của các quan chức? Như thế là hoàn toàn phi
pháp, phi luật, và đâu phải là bổn ý của Ðức Phật đã
phó chúc trên hội Linh Sơn?
Kẻ
quyền quý trên thế gian đối xử với tăng nhân như vậy,
dĩ nhiên là điều phi pháp. Nhưng bản thân của tăng nhân
cũng phải có tinh thần vô úy, không nên đi làm tay sai cho
các quan chức. Sinh mạng này có thể hy sinh, nếu để bị
nhục, tuyệt đối là không được. Chủ yếu là làm thế
nào cho chánh pháp của Như Lai được lưu hành trong thế gian,
bản thân mình dù có chết cũng chẳng hề gì, nếu để chánh
pháp của Như Lai bị hoại diệt thì bản thân mình dù còn
sống, nhưng sống một cách vô nghĩa, thì còn giá trị gì?
Trong
Giới Kinh Nghĩa Sớ Phát Ẩn, quyển 5 nói: “Rất đáng buồn
thương cho đời mạt pháp, ít khi thấy có người làm quốc
vương hay bá quan có thiện ý vào chùa tăng lập tăng tịch.
Phần nhiều chỉ toàn thấy những làm tăng ni lại đem tài
sản trong chùa để vào dân sản, tự mình tự động nhập
vào dân tịch, thật đáng buồn vô cùng!”
Ðến
như việc Bồ Tát tỳ kheo đứng dưới đất hoặc làm tay
sai cho các quan cũng là lỗi của tăng nhân, chứ không phải
chỉ hoàn toàn là lỗi của vua quan. Cứ xem vài thái độ sau
đây:
Cúi
đầu, co gối mà tham bái với Ô Sào; xa lánh chốn trần gian
ô trược, vua ba phen hạ chiếu cung thỉnh mà không vào cung.
Ðó là đức Tín Tổ (Ðạo Tín). Ðứng dưới đất mà làm
tay sai chẳng phải là chính do tăng nhân tự rước lấy là
gì nữa?!
Về
chuyện “cúi đầu, co gối mà tham bái” là nói về tích
ông Bạch Cư Dị đời nhà Ðường, lúc làm quan Thái Thú tại
Hàng Châu, ông vào trong non yết kiến Ô Sào thiền sư thỉnh
vấn Phật pháp.
Sau
khi bái kiến, Bạch hỏi Thiền Sư: - Thế nào là đại ý của
Phật pháp?
Thiền
sư đem hai câu: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”
(chớ làm những việc ác, nên làm những việc lành) mà chỉ
dạy cho Bạch Cư Dị.
Bạch
lại nói: - Tưởng gì cao siêu mầu nhiệm, chớ đối với
hai câu ấy, trẻ con ba tuổi đều nói được. Vậy Thiền
Sư không nên cho cho đó là đại ý của Phật pháp.
Thiền
sư đáp rằng: - Ðúng thế! Trẻ con ba tuổi đều nói được,
nhưng ông già tám mươi làm không được.
Bạch
Cư Dị sau khi nghe lời huấn từ ấy liền tỏ ngộ đạo lý
vô cùng, bèn đối trước thiền sư cung kính làm lễ rồi
lui ra.
“Ba
phen hạ chiếu cung thỉnh mà không đến” là nói về triều
nhà Ðường, vua Thái Tông hạ chiếu cung thỉnh Tứ Tổ Ðạo
Tín, vì Ngài là một bậc cao tăng đầy đủ đạo hạnh.
Hoàng
đế kính mộ đạo vị của Tín tổ, trong tâm rất muốn được
trông thấy phong thái của Ngài, niên hiệu Trinh Quán năm Quý
Mão, nhà vua hạ chiếu nghinh thỉnh Tín Tổ đến kinh thành.
Tổ
dâng biểu khiêm tốn từ tạ không đến. Như thế trước
sau đến ba lần, cuối cùng Tổ lấy cớ bị bệnh từ chối
một cách khẩn thiết.
Nhưng
vì tâm ngưỡng mộ của Hoàng Ðế cũng hết sức khẩn thiết,
nên nhà vua vẫn sai sứ thần đi nghinh thỉnh và phán rằng:
“Nếu lần này Tín Tổ không chịu đi thì khanh hãy đem thủ
cấp về cho Trẫm”.
Hoàng
đế dụng ý bức bách như vậy để Tổ phải đi. Sứ thần
lên núi, sau khi tuyên đọc thánh chỉ của hoàng đế, Tổ
chẳng những không bị hăm dọa làm lay chuyển để ưng thuận
đi theo, mà còn khẳng khái đưa cổ một cách tự nhiên dưới
lưỡi gươm sáng ngời. Trước hành động vô úy của Tổ,
sứ giả không dám hạ thủ, bèn trở về tâu lại hoàng đế.
Thái
Tông chẳng những không giận mà còn bội phục muôn phần,
ngài kính mộ sai sứ mang những lễ vật rất hậu đến cúng
dường Tổ và để cho Tổ được toại chí nguyện, tiếp
tục ở thâm sơn tu hành.
Theo
trên, chúng ta có thể thấy: bản thân Tăng đồ được kiện
toàn, chủ yếu là do có tài lại phải có đức, thì sẽ được
những vị có quyền thế cung kính tôn trọng, làm sao có vấn
đề để cho tăng đứng dưới đất hay làm tay sai. Vì thế,
nếu các quan viên trong chính phủ đối xử với tăng ni có
điều gì không tốt, tăng ni trước tiên phải tự phản tỉnh,
chớ vội buồn trách chánh phủ kỳ thị đối với mình.
Như
hiện nay có rất nhiều chánh phủ chế lập những điều đặc
biệt với chùa tăng, không phải là hoàn toàn không có nguyên
nhân. Cũng trong Giới Kinh Nghĩa Sớ Phát Ẩn lại hỏi:
“Về
vụ sa thải Phật giáo đồ ở thời Hậu Xương và vụ cải
cách ở Nghi Hòa, đối với tội phá diệt Phật pháp thật
không tránh khỏi. Nhưng nếu tăng ni làm việc trái nghịch
Phật pháp, lại thêm bạo ngược ngang tàng, nếu không ngăn
cấm được thì cứ để mặc kệ như vậy hay sao?
Ðáp:
Việc ấy căn cứ theo đoạn văn trong chiếu chỉ sắc lệnh
của vua Văn Hoàng ban hành thì rõ: ‘Vào niên hiệu Trinh Quán
năm thứ chín, Văn Hoàng hoàng đế hạ chiếu đến các châu
trong nước, những nơi có tự viện đều phải độ cho những
người xuất gia làm tăng ni. Nhưng cần phải chọn lựa những
vị có đức hạnh tinh minh mới được. Còn những người
tầm thường tham luyến theo thế tục, hoặc mượn quỷ thần
vọng truyền yêu quái làm mê hoặc nhân dân, hoặc đến chốn
quan phủ kiện thưa lo lót v.v... Những hạng người ấy rất
có hại cho Phật pháp, Trẫm hết lòng hộ trì chánh pháp của
Như Lai, nên với những hạng người ấy, quyết định không
khoan dung. Các quan hữu trách cầm quyền nơi địa phương phải
y chiếu theo nội luật (đạo luật vua ban hành) đặt ra quy
điều cấm chế cho minh bạch”.
Với
lời chiếu trên đây, dù có chỗ ngăn cấm, nhưng hoàn toàn
không trái phạm với giới này.
Tại
sao vậy?
Vì
tăng ni mà bạo ngược, ngang tàng, chính là nguyên nhân phá
diệt Phật pháp. Vì thế, người lãnh đạo quốc gia cần
phải diệt trừ những người này thì Phật pháp mới thoát
khỏi những tệ nạn và mới có thể cửu trụ trong thế gian.
Ðó
chính là làm cho Tăng Ni được an ổn tu hành, chứ không phải
là làm chướng ngại cho chúng Tăng. Hơn nữa, trong chiếu chỉ
bảo: Y cứ theo nội luật và tham dụng kim khoa, tức là không
phải hoàn toàn theo pháp luật của quốc vương. Có thể nói,
đó chính thực là thiện quyền của đại sĩ, mà hạng phàm
phu không thể suy lường được!
“Than
ôi! Giả sử người làm tăng ni ai cũng đều phụng hành theo
minh huấn của Ðức Phật, tinh tấn tu hành, nghiêm trì giới
luật, thì hàng vua quan làm sao không hết lòng kính trọng?
Thánh thiên tử, hiền tể tướng, văn võ bá quan chắc chắn
không cô phụ lời phú chúc của Phật ở hội Linh Sơn, chỉ
cần chúng ta cố gắng mà thôi!”
Những
lời của Liên Tông Bát Tổ Vân Thê Ðại Sư nói trên, hàng
Phật tử xuất gia chúng ta cần phải thành kính ghi nhớ lấy.
Nếu
quốc vương và các quan lúc sơ tâm, do có tâm tốt thọ giới
của Phật vì muốn mong cầu đạo pháp xuất thế, thú hướng
về đại đạo vô thượng Bồ Ðề, cần phải thể hội thâm
tâm đại từ đại bi của Phật, chớ nên tự ỷ mình có
địa vị cao quý. Vì vậy kinh khuyên dạy: “Chớ làm những
tội phá Tam Bảo ấy”.
Hỏi:
Nếu thuộc về tội phá Tam Bảo thì đồng với tội ngỗ
nghịch tức thuộc về căn bổn trọng tội. Tại sao ở đây
chỉ nói là phạm tội khinh cấu?
Ðáp:
Nên biết giới điều này, Ðức Phật đối với hàng quốc
vương, đại thần và Phật tử tại gia, không thuộc phạm
vi kham thọ nhận sự xử phạt về trọng tội; cho nên không
phán định vào trọng tội. Dù nói là tội nhẹ, nhưng phải
chiêu cảm quả báo rất nặng, không nên cho rằng tội khinh
không đáng kể.
Quốc
vương, trưởng giả sở dĩ được làm quốc vương, trưởng
giả vốn từ trong tu nhân kính thờ Tam Bảo mà được. Thế
thì không nên mê muội với thiện nhân trước kia mà không
tích cực thực hành thiện sự tiếp tục, còn trở ngược
lại tạo ác cho nhiều. Nếu như thế chẳng khác gì tự mình
làm mất hẳn nhân phước huệ ở tương lai và phải bị chiêu
cảm khổ quả rất lớn ở đời vị lai. Nên cuối cùng kinh
dạy: “Nếu cố làm thời phạm khinh cấu tội”.
Giới
này thuộc về Giá Tội. Ðại, Tiểu Thừa đồng cấm, thất
chúng Phật tử đồng vâng giữ, vì nếu trái phạm thì rất
chướng ngại cho việc phụng hành thiện pháp. Ðối với hai
chúng tại gia, hoàn toàn có thể vi phạm, còn năm chúng xuất
gia vì tự mình không có quyền uy, thế lực, nhưng nếu tùy
lực, tùy khả năng mà làm việc hạn chế phi pháp thì cũng
mắc tội.
Ngoại
trừ trường hợp vào thời quá khứ, đức Di Lặc Bồ Tát
làm quốc vương, giả vờ thi hành những việc hạn chế phi
pháp để làm cho chánh pháp của Như Lai được hưng thạnh
thì không trái phạm giới này.
Lại
nữa, không cho người ác xuất gia, cũng không cho tạo lập
hình tượng Phật, Bồ Tát để làm việc buôn bán, cũng không
trái phạm giới này.
