B.2.2.48.
PHÁ PHÁP GIỚI
(giới
phá diệt Phật pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ hảo tâm...” cho đến câu “phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử dùng tâm tốt mà xuất gia, nhưng lại vì danh lợi
mà giảng thuyết giới của Phật cho quốc vương và các quan,
dùng những gông cùm, xiềng xích trói buộc các tỳ kheo, tỳ
kheo ni, những người thọ giới Bồ Tát, như những cách thức
đối xử với các tù nhân hoặc binh nô... Như trùng trong thân
sư tử ăn thịt sư tử, chớ chẳng phải những loài trùng
bên ngoài đến ăn thịt sư tử. Cũng thế, các Phật tử tự
hủy phá Phật pháp chứ không phải ngoại đạo hay thiên ma
có thể phá được. Người đã thọ giới của Phật nên hộ
trì giới luật của Phật như ấp yêu con một, như kính thờ
cha mẹ, không được hủy phá.
Người
Phật tử khi nghe ngoại đạo, người ác dùng lời xấu hủy
báng giới pháp của Phật, thì cảm thấy đau đớn chẳng
khác nào cả ba trăm cây giáo nhọn đâm vào tim mình, hay cả
nghìn lưỡi dao, cả vạn cây gậy đánh bổ vào thân mình.
Thà tự cam chịu vào ở chốn địa ngục đến trăm kiếp,
chớ không muốn nghe những lời hủy báng Phật pháp của bọn
người ác. Huống chi không có lòng hiếu thuận mà lại tự
mình hủy phá giới pháp của Phật, hoặc làm nhân duyên bảo
người khác hủy phá. Nếu cố tình phá giới pháp của Phật,
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Bồ
Tát tại gia phá diệt Phật giới luật Phật pháp dĩ nhiên
là phi pháp và là tội ác, Bồ Tát xuất gia tự mình phá diệt
Phật pháp, tội ấy lại càng không thể tránh được.
Là
một vị Bồ Tát, đáng lẽ phải hộ trì chánh pháp được
quang minh quảng đại, hoằng dương chánh pháp của Như Lai
để cho Phật pháp được cửu trụ trong thế gian, hầu đền
đáp thâm ân của Phật. Thế mới là rường cột trong Phật
pháp, không được phép vì tài lợi cá nhân, mà phá hại đồng
đạo của mình, làm tổn hại rất lớn cho chánh pháp của
Như Lai.
Nên
biết rằng: giới pháp của Phật rất là thần thánh, là bảo
tạng bí mật của chư Phật, nên những người thế tục thông
thường không được nghe. Vì thế, người Phật tử phải
có tâm ái hộ giới pháp, như thương yêu ái hộ con trai, con
gái của mình.
Vì
vậy không được giảng nói giới pháp bí yếu của Phật
cho những người thế tục không có tín tâm đối với Tam
Bảo, đồng thời không được làm việc hủy hại, trói buộc
những đồng đạo tu hành với mình. Nếu làm như thế, tức
là sanh khởi chông gai cho chánh pháp, làm cho người tu hành
bị khổ não, chánh pháp của Như Lai bị hủy diệt. Như thế
bên trong thì phá ý thức hòa hợp tăng, nên ngoài đoạn tuyệt
sự lợi ích tín kính chánh pháp của người đời. Hành động
như vậy đâu phải là tâm hộ pháp và tâm từ bi của đại
sĩ?!
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là Phật tử đã thọ
Bồ Tát giới lúc tối sơ nếu do tâm tốt mà xuất gia thật
là điều hiếm có”.
“Tâm
tốt” là đối với tâm không tốt mà nói, đó chính là động
cơ xuất gia. Ðộng cơ ấy có thể thuần lương hay không thuần
lương. Nếu vì sanh tử hoặc vì lợi ích cho chúng ta mà xuất
gia thì đó là động cơ thuần khiết chánh đáng.
Trái
lại, nếu vì danh dự hay vì lợi dưỡng mà xuất gia, tức
là động cơ không thuần lương. Ðộng cơ xuất gia có nhiều
loại như thế. Nhưng có trường hợp động cơ lúc mới ban
đầu rất là thuần khiết, nhưng trải qua thời gian lâu sau,
tâm niệm ấy không thể giữ được lâu bền, dần dần biến
thành tâm tham cầu danh vọng và tài lợi và trở thành kẻ
trọng danh lợi.
Ðã
là người trọng danh lợi rồi, tất nhiên phải vì danh tiếng
và tài lợi để cuối cùng, ở trước mặt quốc vương, bá
quan giảng nói giới Phật, ngang tàng làm những hành động
gông trói các tỳ kheo, tỳ kheo ni, người thọ giới Bồ Tát.
Người xuất gia mà lại đi làm những việc như thế thì còn
gì để nói nữa!
Nên
trong kinh Phật Tạng, Ðức Phật vì bảo tôn giả Xá Lợi
Phất đã nói rằng: “Này Xá Lợi Phất! Xưa kia Phật Ca Diếp
có huyền ký cho ta rằng: ‘Trong giới pháp của Phật Thích
Ca Mâu Ni, phần nhiều vì nguyên do thọ cúng dường mà chánh
pháp mau hoại diệt’. Ðúng thật như lời của Phật huyền
ký, giáo pháp của ta phần nhiều do duyên cố thọ cúng dường
mà chánh pháp mau hoại diệt”.
Theo
lời Phật nói trên, chúng ta thấy người quá tham cầu danh
lợi xuất gia trong Phật pháp, do động cơ xuất gia không thuần
khiết, chẳng những họ không thể làm cho Phật pháp được
hưng thạnh, mà trái lại còn phá diệt Phật pháp rất nhanh.
Vì thế, đối với những người đến cầu xuất gia, phải
nên sát hạch một cách nghiêm chỉnh.
Hiện
nay, không biết bao nhiêu người lạm thâu đồ chúng như vậy,
điều đó tuyệt đối không phải là hiện tượng tốt của
Phật pháp. Vì thế, những ai có thật tâm vì Phật pháp cần
phải đặc biệt chú ý đến điểm này. Dù hiện nay tăng
chúng càng ngày càng hiếm hoi, đây là một vấn đề nghiêm
trọng đối với việc duy trì Phật pháp.
Nhưng
thà hiếm hoi chứ đừng lạm thâu. Như thế mới là thượng
sách. Nếu ham đồ chúng cho đông, không nghĩ đến hậu quả
của Phật pháp, một mực lạm thâu đồ chúng thì bạn sẽ
trở thành một tội nhân trong Phật pháp.
Những
người trước mặt các quốc vương, các quan v.v... ngang tàng
làm việc còng trói tỳ kheo, tỳ kheo ni là những người bên
trong không có đức hạnh, nhưng bên ngoài giả hiện hình tướng
rất có oai nghi, để được quốc vương, hoàng tử... sanh
lòng tin tưởng. Lại thêm vì các vị ấy hư dối giảng thuyết
giới pháp của Phật, để phô trương mình là người có đức
hạnh, cốt để tăng trưởng uy thế của mình. Chẳng những
vậy lại còn nương thế lực ở bên ngoài bảo kẻ khác làm
những điều trị phạt theo hình thức thế gian, áp bức người
đồng đạo của mình khiến nội chúng đệ tử vô tội phải
chịu tội một cách vô lý.
Vì
thế trong kinh nhấn mạnh hai chữ “hoành dữ” (ngang tàng
bạo ngược). “Làm những việc gông cùm trói buộc” là
chỉ cho việc gì?
Là
dùng những hình phạt lấy gông cùm, xiềng xích trói cột
thân thể tay chân người, không cho được tự do. Nên kinh
văn nói: “Như cách thức của ngục tù khiến người đó
không thể thoát được”. Hoặc là có thái độ khinh miệt,
quở trách, hủy nhục một cách quá đáng, khiến cho người
khác phải nghe theo mệnh lệnh của mình, bắt làm thế nào,
họ phải làm thế ấy.
Nên
tiếp theo kinh bảo là “như cách của binh nô”. Dùng những
thủ đoạn không chánh đáng đối xử với đồng đạo của
mình như thế, thử hỏi tâm bạn có thấy ray rứt hay không?
Dù cho bạn không sợ quả báo đau khổ của kiếp sau, nhưng
chẳng lẽ hiện tại cũng không có một mảy tâm hổ thẹn?
Tham lam danh lợi làm gì mà bại hoại đức hạnh của mình?
Tại sao nương cậy quyền thế của vua quan mà làm tán thất
lương tâm của mình trước kia? Ðã nương nhờ Phật pháp
mà được tài lợi, không nghĩ cách báo đền lại còn quay
lại phá hoại pháp môn, hại người một cách oan uổng. Trong
kinh luật gọi đó là “ác ma tỳ kheo”.
“Quốc
vương, bá quan” trong kinh văn nói dùng để chỉ những vị
đã thọ Bồ Tát giới. Trước mặt các vị ấy giảng thuyết
giới Bồ Tát không phải là không được, mà chỉ không được
ngang tàng, bạo ngược, làm những điều trị phạt đồng
đạo của mình một cách phi pháp. Vì việc làm ấy là phản
bội lại thiện tâm xuất gia lúc ban đầu.
Phá
diệt giới luật Phật pháp như vậy, nói thẳng là như trùng
trong thân sư tử ăn thịt chứ không phải thứ trùng bên ngoài
đến ăn! Sư tử là vua trong các loài thú, nên không có một
loài thú hay trùng nào dám đến gần, chỉ có loài trùng tự
trong thân của sư tử sanh ra mới ăn được thịt của sư
tử, ngoài ta các loài trùng khác không bao giờ dám ăn.
Việc
này trong Liên Hoa Diện, Ðức Phật bảo A Nan rằng: “Này
A Nan! Thí như sư tử lúc mệnh chung, bất cứ loài chúng sanh
nào dù ở trên hư không hay trên mặt đất hoặc dưới nước
cũng không bao giờ dám ăn thịt trên thân của sư tử. Chỉ
có loài trùng từ trong thân sư tử sanh ra mới ăn thịt của
sư tử mà thôi!”
Trong
kinh Thất Mộng cũng nói: “Sư tử đã chết, trải qua nhiều
ngày mà tất cả các loài thú tâm vẫn còn sợ sệt không
dám đến gần. Qua nhiều ngày sau nữa, trong thân sư tử tự
sanh ra loài trùng ăn hết thịt trên thân của nó”.
Ðây
là một thí dụ nêu lên để đem phối hợp với pháp mà thuyết
minh. Tương tự như vậy: “Các Phật tử tự hủy phá Phật
pháp mà không phải ngoại đạo hay thiên ma có thể phá được”.
Phật
tử chỉ là những người đồng tu hành, đồng chí nguyện,
có sự liên hệ rất mật thiết với nhau. Ðáng lẽ phải
cùng nhau nâng đỡ và hộ trì Phật pháp, thế mà chẳng những
không thực hành như vậy, lại còn lợi dụng lực lượng
bên ngoài để phá hoại Phật pháp. Do đó, rõ ràng sự phá
hoại Phật pháp không phải do thiên ma, ngoại đạo. Thế lực
này không quan hệ lắm, nhưng quan trọng nhất chính là hàng
Phật tử bên trong nội bộ tự tàn phá lẫn nhau. Cho nên kinh
văn bảo: “Cũng thế, các Phật tử tự phá hủy Phật pháp”.
Trong
kinh Liên Hoa Diện, Ðức Phật từng dạy rằng: “Phật pháp
của ta không phải những người khác phá hoại được mà
chính là do các tỳ kheo trong giáo pháp của ta phá hoại nền
Phật pháp mà ta đã trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp cần
khổ tinh tấn tu hành, chứa nhóm mới gầy dựng được”.
Có
chỗ giải thích đoạn kinh văn trên như sau:
Ðức
Phật xuất hiện trên thế gian này, tất cả hàng ngoại đạo
đều quy phục đầu hàng, không phái ngoại đạo nào dám chống
cự, so sánh với Phật. Giống như loài sư tử vô úy, dạo
đi các nơi. Nó du hành đến chỗ nào thì các loại thú khác
đều ẩn núp, sợ hãi, không con thú nào dám chạm mặt với
nó. Sau khi sư tử chết, dù đã trải qua nhiều ngày, nhưng
các thú vẫn còn sợ không dám đến gần.
Cũng
thế, sau khi Phật diệt độ, giáo pháp của Ngài còn lưu lại
trong thời gian trải qua nhiều ngày sau. Thiên ma, ngoại đạo
không thể phá hoại. Sư tử chết, trải qua nhiều ngày sau,
trên thân của nó tự sanh ra các loài trùng, những loài trùng
này mới ăn hết thịt trên thân sư tử. Ðây là ám chỉ cho
giáo pháp của Phật từ một ngàn năm trở về sau, đệ tử
của Phật làm những ác hạnh, phá giới luật, làm cho Phật
pháp bị tiêu diệt.
Như
thế chứng tỏ rằng: phá hoại Phật pháp đích xác là Phật
tử chứ không phải thiên ma hay ngoại đạo.
Vấn
đề tự phá có hai loại:
1.
Theo đúng lý, những người bẩm thọ giới pháp của Như Lai,
phải hộ trì chánh pháp, nhưng ngược lại, không chịu hộ
trì. Không hộ trì chánh pháp là phá hoại Phật pháp, vì Phật
pháp nếu không có người hộ trì thì sẽ bị tiêu diệt trong
nhân gian.
2.
Các vị quốc vương, bá quan v.v... trong nước, đáng lẽ phải
hết lòng cúng dường các tăng nhân thọ giới pháp của Phật.
Chẳng những không thực hành như thế mà còn cực lực lăng
nhục, hủy báng, làm cho chư Tăng không thể hoằng truyền
chánh pháp của Như Lai. Chánh pháp đã không được hoằng
truyền thì Phật pháp làm sao không bị tiêu diệt? Như thế
nên gọi là phá hoại Phật pháp.
Chúng
Tăng xuất gia, đại đa số đều chưa thành hiền, thành thánh,
thế nên không sao tránh khỏi đôi chút lỗi lầm. Vì thế,
trong Phật pháp cũng đã có sẵn giới luật, thì cứ y chiếu
theo giới luật Ðức Phật đã dạy mà thi hành kỷ luật đúng
pháp.
Nghĩa
là tùy theo mức độ và hình thức phạm tội mà khuyên bảo
kẻ vi phạm chí thành phát lồ sám hối, hoặc làm pháp Yết
Ma tẫn xuất ra khỏi tăng đoàn v.v... Nếu bạn làm được
như thế, không ai dám bảo bạn sai lầm. Trái lại, họ còn
công nhận đó là những việc cần phải làm.
Nhưng
nếu bạn không làm như vậy, trái lại, còn đem luật pháp
của quốc vương mà lăng nhục, trị phạt chúng tăng. Như
thế chẳng những phá hoại Phật pháp, lại còn tự mình tạo
tội ác rất lớn và sẽ làm phát sanh những sự lộn xộn
tai hại trong xã hội.
Tại
sao bạn lại đi làm như vậy?
Vì
những lý do nói trên, nếu người chân thật thọ giới của
Phật, nên có tâm thành khẩn thiết hộ trì giới luật của
Phật. Sự hộ trì này phải chân thiết như cha mẹ thương
yêu con ruột.
Trên
thế gian không có người làm cha mẹ nào chẳng yêu thương
con mình. Nhất là đối với đứa con duy nhất lại càng luôn
thương yêu, nghĩ nhớ đến hơn. Vì đứa con một này đặt
ngang với sanh mạng của cha mẹ. Nếu như đứa con ấy mất
thì cha mẹ suốt đời không nơi nương tựa.
Cũng
thế, giới pháp của Phật là một đại sự khẩn yếu của
bản thân chúng ta, nên chúng ta phải kiên quyết hộ trì thật
toàn hảo, không để bị hủy hoại. Vì nếu giới pháp có
sự hủy tổn thì quả vô thượng Bồ Ðề bạn vẫn không
được dự phần. Thế nên, bảo hộ giới pháp cần phải
khẩn thiết như cha mẹ nhớ nghĩ đến đứa con ruột thịt.
Lại
nữa, người hộ trì giới pháp của Phật phải có tâm hiếu
thuận như con trai, con gái kính thờ cha mẹ, mọi việc đều
không dám trái nghịch, tất cả đều phải để tâm lo lắng.
Nên biết giới Phật Tánh này là cha mẹ của chư Phật, cũng
là cha mẹ của chính mình.
Trong
kinh Kim Cang nói: “Quả A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề của
chư Phật đều từ kinh này mà xuất sanh” chính là ý này
vậy.
Vì
thế, phụng trì giới này cần phải bằng tinh thần và thái
độ hết sức cung kính như kính thờ cha mẹ, không nên có
tâm buông lung mảy may, mới tránh khỏi sự hủy phá giới
Phật Tánh này. Sự nghĩ nhớ đến đứa con một bao hàm ý
nghĩa rất thâm trầm, tức là biểu lộ tâm Từ Bi của người
Phật tử. Việc tôn kính phụng thờ song thân chu đáo là nói
lên tâm hồn hiếu thuận của người Phật tử.
Người
Phật tử đối với giới pháp Từ Hiếu vẹn toàn thì dĩ
nhiên không thể nào hủy phá giới của Phật mà mình đã
bẩm thọ.
Nếu
có ác tăng không thể đem Phật lý giáo hóa, cũng không thể
khuyên họ nghiêm trì cấm giới. Họ lại còn lung lăng, vi
phạm pháp luật quốc gia. Nếu dùng lời giáo hóa nhã nhặn,
họ cũng không nghe, lại y theo giới luật tẫn xuất thì họ
không đi. Như thế thì phải làm thế nào?
Giải
pháp cho vấn đề: Bất cứ làm việc gì cũng đều phải có
thiện trí, thiện quyền phương tiện, không nên cố chấp
theo một mặt. Nếu thiên chấp mà cho rằng hộ trì Phật pháp,
mà đối với những tăng nhân ngang tàng, bạo ngược, hủy
phạm giới cấm lại bỏ qua, không có biện pháp đối trị
lại, như thế chính là phá diệt Phật pháp rồi vậy.
Tục
ngữ có câu: “Người nào làm việc xấu thì kẻ ấy phải
chịu gánh trách nhiệm”. Cũng vậy, người nào trái phạm
giới pháp thì cứ y luật trị phạt người ấy, tuyệt đối
không nên vì một người mà để cho Tam Bảo bị hủy diệt.
Vì thà hy sinh một cá nhân xấu để toàn Tam Bảo được hoàn
chỉnh.
Trong
kinh nhấn mạnh từ “ngang tàng” là chỉ những việc xiềng
trói tỳ kheo, tỳ kheo ni, những người thọ Bồ Tát giới.
Hai chữ “ngang tàng” làm cho chúng ta thấy rõ sự vô lý,
là đối với những người vô tội mà trị phạt. Hoàn toàn
không được trị phạt một cách trái lẽ như vậy. Còn như
những người thực sự phạm tội thì phải theo pháp luật
mà xử lý, để khỏi tổn hại đến Tam Bảo, điều này cần
phải luận riêng.
Làm
một vị Bồ Tát chẳng những tự mình không được làm việc
phá hoại Phật pháp, mà khi nghe ngoại đạo, người ác dùng
lời xấu hủy báng giới pháp của Phật, trong tâm cảm thấy
khó chịu vô cùng và đau đớn không khác nào ba trăm cây giáo
nhọn đâm vào tim, hay cả ngàn lưỡi dao, cả vạn cây gậy
đánh, chém thân mình. Người thông thường trên thế gian,
nếu bị một cây giáo đâm vào tim, sự thống khổ đã không
sao tả xiết, không thể nào chịu nổi, huống chi cả ba trăm
cây giáo nhọn đâm vào tim?
Trong
kinh văn, Phật dùng lời ấy để chứng tỏ Bồ Tát khi nghe
người ác hủy báng giới pháp của Phật thì sợ hãi cùng
cực. Ngàn lưỡi dao, muôn cây gậy chém, đánh trên thân thể
đều là việc thống khổ không thể chịu nổi!
Kinh
văn dùng lời ấy để mô tả tâm trạng của Bồ Tát khi nghe
lời hủy báng giới pháp của ngoại đạo, người ác, lòng
cảm thấy buồn đau vô hạn, giống như nỗi đau đớn vì
thân mình bị thương. Chẳng những thế, Bồ Tát thà nguyện
sẵn sàng thọ những thống khổ nói trên, chứ không thể
dù một lần nghe tiếng người ác hay ngoại đạo hủy báng
giới pháp của Phật.
Sự
thống khổ ấy không phải chỉ thọ nhận một đời này,
mà là thà tự mình vào ở địa ngục, trải qua thời gian
lâu xa hằng trăm kiếp, ngàn kiếp, thọ sự thống khổ như
vậy, mà vẫn không tự cho là khổ, vẫn sẵn sàng nguyện
thọ với điều kiện khỏi phải nghe dù một lần những lời
hủy báng giới pháp Phật của bọn người ác.
Tại
sao vậy?
Vì
dao gậy đâm chém trên thân mình tuy đau đớn muôn phần và
không phải là việc dễ nhẫn thọ. Nhưng sở dĩ phải cam
thọ các thứ khổ hình ấy vì chỉ có một thân của ta mà
thôi. Còn nghe lời hủy báng giới pháp của Phật là hủy
diệt chánh pháp của Như Lai, đồng thời phá hoại Pháp Thân
của Phật Ðà, làm cho vô lượng vô biên chúng sanh mất tín
tâm đối với Phật pháp. Do đó, bị trầm luân trong biển
khổ luân hồi, không biết bao giờ mới được giải thoát
khỏi vòng sanh tử.
Vì
thế, thâm tâm của người Phật tử chẳng phải cảm thấy
nỗi đớn đau như hơn hàng trăm ngọn giáo đâm vào tim hay
hàng ngàn lưỡi dao, hàng vạn cây gậy chém, đánh trên thân
mình ư? Nghe một tiếng hủy báng hãy còn như vậy, huống
chi tự mình hủy phá giới pháp của Phật?
Trong
kinh Ðại Tập, Ðức Phật dạy: “Nếu có chúng sanh nào vì
ta mà đi xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc ca sa, dù không nghiêm
trì giới cấm, nhưng những người ấy đều đã được ấn
dấu Niết Bàn. Nếu có người nào dùng những điều phi pháp
làm não loạn hay mạ nhục, hủy báng, hoặc dùng tay chân,
đao, trượng, đánh đập, chém chặt hoặc trói cột, hay đoạt
y bát và những đồ tư dưỡng sinh mạng của người xuất
gia nói trên, người làm việc này tức là phá hoại chân bảo
thân của tam thế chư Phật, là móc đôi mắt của nhân thiên”.
Bấy
giờ, Ðại Phạm Thiên Vương nghe Phật nói mấy lời trên,
cung kính lễ dưới chân Phật mà bạch rằng: “Bạch Thế
Tôn! Nếu có người vì Phật xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc
ca sa, nhưng không thọ giới pháp của Phật, hoặc thọ rồi
hủy phạm. Nếu các vị quốc vương trong quốc độ ấy làm
việc não loạn đối với người xuất gia kia, hoặc mắng
chửi, hoặc đánh đập, trói xiềng thì mắc bao nhiêu tội,
xin Thế Tôn dạy cho”.
Ðức
Phật dạy: “Này Ðại Phạm Thiên Vương! Hôm nay ta vì ông
nói sơ lược việc ấy như sau: Giả sử có người ở nơi
vạn ức Ðức Phật làm cho thân chư Phật ấy xuất huyết,
ý ông nghĩ sao? Người ấy mắc tội có nhiều hay không?”
Ðại
Phạm Thiên Vương bạch rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Nếu
có người nào chỉ làm cho thân của một Ðức Phật xuất
huyết đã phạm tội vô gián nhiều vô lượng, vô biên không
thể tính kể, và sẽ đọa vào A Tỳ đại địa ngục, huống
chi làm cho vạn ức thân của chư Phật đều xuất huyết.
Con dám chắc tội nghiệp quả báo của người ấy không một
ai có thể tuyên nói cho cùng tận được, chỉ trừ đức Như
Lai!”
Ðức
Phật dạy: - Này Ðại Phạm! Nếu có người nào não loạn
hay đánh đập, trói cột người cạo bỏ râu tóc, mặc ca
sa, không thọ giới pháp của Phật hoặc đã thọ rồi hủy
phạm, thì sẽ bị đắc tội nhiều hơn người làm cho thân
của vạn ức chư Phật xuất huyết.
Tại
sao vậy? Vì người cạo râu tóc, mặc ca sa này có thể chỉ
rõ con đường Niết Bàn cho hàng nhân thiên. Người này đối
với ngôi Tam Bảo có tâm kính tín, người này thù thắng hơn
tất cả chín mươi lăm thứ ngoại đạo, người này thù thắng
hơn tất cả Phật tử tại gia, trừ người đã đắc Vô Sanh
Nhẫn. Người này chắc chắn sẽ mau được vào Niết Bàn.
Thế nên hàng nhân thiên phải cúng dường người ấy, huống
chi đối với người nghiêm trì tịnh giới, ba nghiệp thanh
tịnh. Các ông, quốc vương, đại thần chỉ nên tẫn xuất
những người xuất gia tạo đại tội nghiệp ra khỏi quốc
gia mình, tuyệt đối không nên đánh đập họ, huống chi là
đối với những người xuất gia, nghiêm trì giới cấm, thì
lại càng không nên đánh đập”.
Theo
lời Phật dạy trên, chúng ta thấy các vị có bổn phận lãnh
đạo quốc gia, đối với người xuất gia phải hết lòng
cung kính, tôn trọng.
Trong
kinh Thập Luận, Phật dạy: “Nếu có tỳ kheo phá giới, nhơ
bẩn như máu mủ tanh hôi; đối với thánh quả chứng đạo
đều mất hết, bị các phiền não kiết sử nó phá hoại,
nhưng vẫn có thể khai thị kho tàng trân bảo vô lượng công
đức cho tất cả thiên, long, nhân, phi nhân... Vì thế đối
với người xuất gia, bất luận trì giới hay phá giới, ta
đều hoàn toàn không cho phép quốc vương, đại thần, tể
tướng chỉ trích hay trị phạt, nhốt trói, đánh đập v.v...
cho đến giết hại thân mạng, huống chi đối với những
người chỉ phạm những giới nhẹ và oai nghi nhỏ nhít.
Tỳ
kheo phá giới dù là người chết rồi, nhưng còn có sức dư
thừa của Giới. Giống như vị Ngưu Hoàng của con bò (một
chất vàng trong thân con bò, lấy thứ ấy chế thành thuốc
Bắc rất quý). Con bò dù đã chết, nhưng chất Ngưu Hoàng
của nó mọi người vẫn còn dùng được. Lại như con xạ
hương, sau khi chết vẫn còn hữu dụng, vì có thể đem lại
sự đại lợi cho tất cả chúng sanh (con xạ hương là một
loài thú giống như con hươu, dưới cổ nó có cục hương
rất thơm, trong vị thuốc Bắc, vị xạ hương này rất quý).
Cũng thế, ác hạnh tỳ kheo dù phạm giới pháp nhưng do thế
lực của giới, vẫn có thể đem lại sự đại lợi ích cho
vô lượng nhân thiên.
Lại
thí dụ như khi đốt hương, thân cây hương dù tiêu hoại,
nhưng mùi hương của nó vẫn còn xông đến mọi người. Tỳ
kheo phá giới cũng lại như vậy, tự mình đọa vào ác đạo,
nhưng vẫn có thể làm cho chúng sanh tăng trưởng thiện căn.
Do nhân duyên này, hàng bạch y không nên xâm tổn, hủy hoại,
khinh miệt tỳ kheo phá giới, ngược lại, đều phải hết
lòng tôn trọng, ủng hộ”.
Trong
kinh, sở dĩ Ðức Phật dạy những người hủy phạm giới
cấm mà vẫn còn có thể vì hàng nhân thiên chỉ ra con đường
Niết Bàn, nguyên nhân vì người phạm giới kia không phải
cố ý muốn trái phạm, mà là bị phiền não bức bách như
vậy.
Thế
nên, người ấy dù đã phá giới, nhưng hoàn toàn không hủy
bỏ chánh kiến, cho nên khi giảng nói chánh pháp luôn luôn
ôm lòng hổ thẹn, cũng không thể bao giờ cho việc phá giới
của mình là đúng. Những vị này đối với Tam Bảo tín tâm
chẳng những không suy giảm, trái lại, càng hết lòng kính
trọng, kiền thành.
Nên
trong kinh Anh Lạc dạy: “Dù xả giới, nhưng đại nguyện
không xả, tuy phá giới, nhưng chánh kiến không bao giờ dám
phá, người này chắc chắn sẽ được giới thể thanh tịnh
trở lại”.
Trái
lại, nếu người hủy phá giới cấm của Phật, đối với
ngôi Tam Bảo lại không có tâm cung kính, tôn trọng, đối
với luật nhân quả không còn thâm tín, đối với tội phá
giới không có lòng hổ thẹn. Người tà kiến như vậy, quả
thật không có một thứ thuốc nào cứu chữa được.
Là
đệ tử Phật, không nên đem việc chúng tăng xuất gia tùy
tiện rao nói với người thế tục. Nếu tùy tiện rao nói,
thì chẳng khác gì làm cho người mất hẳn tín tâm đối với
Phật pháp, sanh khởi nhân duyên phá Phật pháp. Như thế là
ngỗ nghịch đối với Tam Bảo, cũng là không có tâm hiếu
thuận.
Vì
thế, người Phật tử phá diệt Phật pháp thì không phải
là người có tâm tốt, mong thoát ly sanh tử mà xuất gia, cũng
không phải là những hành động nên làm của một người
đã thọ giới pháp của Phật. Do đó, nếu vì tâm tham lam
danh lợi mà cố làm việc hủy nhục tăng già, hoặc bảo người
có thế lực làm nhân duyên tội nghiệp phá hoại Phật pháp,
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Giới
này có đủ hai tội Tánh và Giá. Vì làm hủy nhục pháp môn,
tội lỗi ấy rất nặng.
Giới
này đồng ngăn cấm Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa, không có
trường hợp ngoại lệ. Nhưng trong đời ác trược này, tỳ
kheo vì hộ trì chánh pháp có thể nương tựa lực lượng,
binh lực của quốc gia để tự vệ, nhưng không được trị
phạt người một cách phi pháp. Việc này trong kinh Ðại Niết
Bàn nói rất rõ ràng, Phật tử cần tham khảo kỹ hơn.
Nếu
đem Tam Tụ Tịnh Giới phối hợp với giới này thì:
-
Nên hộ trì giới pháp là Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Kính thờ cha mẹ là Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Nghĩ nhớ như nhớ nghĩ đến con là Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Nếu
nghiêm trì giới này thì Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát được
vẹn toàn, còn trái phạm thì Tam Tụ Tịnh Giới hoàn toàn
bị hủy phá. Vì thế, nếu là Phật tử làm sao có thể khinh
thường?
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Như
thị cửu giới ưng đương học, kính tâm phụng trì.
2.
Dịch nghĩa:
Chín
giới như vậy cần nên học, hết lòng kính trọngười phụng
trì.
Lời
giảng
Hai
câu kinh văn trên là tổng lược kết khuyến đối với chín
giới trước, nghĩa là đối với chín giới giảng như thế,
cần phải đúng như pháp tu học và từng giờ, từng phút
phải hết lòng kính trọng phụng trì.
Nam
mô A Di Ðà Phật.
Tôi
(pháp sư) giảng đến đây là toàn bộ bốn mươi tám giới
khinh đã hoàn tất.
B.2.3.
TỔNG KẾT KHINH GIỚI (tổng kết các giới khinh)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “chư Phật tử thị tứ thập bát khinh giới...” cho
đến câu “...hiện tại chư Bồ Tát kim tụng”.
2.
Dịch nghĩa:
Ðức
Phật dạy: “Các Phật tử! Ðó là bốn mươi tám điều giới
khinh, các ông phải thọ trì. Chư Bồ Tát đời quá khứ đã
tụng, chư Bồ Tát đời vị lai sẽ tụng, chư Bồ Tát hiện
tại đang tụng.
Lời
giảng:
Bốn
mươi tám giới khinh sau khi đã giảng xong, đoạn kinh văn trên
là phần tổng kết. Ðức Phật bảo chư Phật tử rằng:
“Bốn
mươi tám giới khinh đã giảng ở trên đây, các ông cần
phải lãnh nạp trong tâm cho kỹ lưỡng, thọ trì cho nghiêm
mật, chớ nên có chút biếng nhác xem thường cho đến nỗi
trái phạm. Nên biết bốn mươi tám giới khinh này chẳng những
hiện tại ta khuyên hàng tân học Bồ Tát cần phải trì tụng,
mà chư Bồ Tát đời quá khứ cũng đã tụng bốn mươi tám
giới khinh này, chư Bồ Tát đời vị lai sẽ tụng bốn mươi
tám giới khinh này, chư Bồ Tát đời hiện tại đang tụng
bốn mươi tám giới khinh này.
Ðức
Như Lai đại từ đại bi vì muốn cho chúng ta đúng pháp thọ
trì, Ngài không nài mỏi mệt, không biết nhàm chán, một mực
răn dạy nhắc nhở. Chúng ta phải khắc ghi vào lòng, từng
giờ, từng phút không quên những lời răn dạy của Phật.
Dầu chúng sanh có nghiền nát thân này như vi trần, cũng không
thể báo đáp được thâm ân của Phật.
