MỤC
LỤC TỔNG QUÁT
Bhikkhuvibhaṅga
I (Phân Tích Giới Tỳ-khưu I):
Chương
Verañja (Verañjakaṇḍaṃ)
I.
Chương Pārājika thứ nhất (Paṭhamapārājikakaṇḍaṃ): Tội
thực hiện việc đôi lứa
II.
Chương Pārājika thứ nhì (Dutiyapārājikakaṇḍaṃ): Tội trộm
cắp
III.
Chương Pārājika thứ ba (Tatiyapārājikakaṇḍaṃ): Tội giết
người
IV.
Chương Pārājika thứ tư (Catutthapārājikakaṇḍaṃ): Tội khoe
pháp thượng nhân không thực chứng
V.
Chương Mười ba pháp (Terasakaṇḍaṃ)
VI.
Chương Bất Định (Aniyatakaṇḍaṃ)
Bhikkhuvibhaṅga
II (Phân Tích Giới Tỳ-khưu II):
VII.
Chương Ưng Xả Đối Trị (Nissaggiyakaṇḍaṃ)
VIII.
Chương Ưng Đối Trị (Pācittiyakaṇḍaṃ)
IX.
Chương Ưng Phát Lộ (Pāṭidesanīyakaṇḍaṃ)
X.
Chương Ưng Học Pháp (Sekhiyakaṇḍaṃ)
XI.
Chương Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng (Adhikaraṇasamathā Dhammā)
Bhikkhunīvibhaṅga
(Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni):
I.
Chương Pārājika (Pārājikakaṇḍaṃ)
II.
Chương Mười Bảy Pháp (Sattarasakaṇḍaṃ)
III.
Chương Ưng Xả Đối Trị (Nissaggiyakaṇḍaṃ)
IV.
Chương Ưng Đối Trị (Pācittiyakaṇḍaṃ)
V.
Chương Ưng Phát Lộ (Pāṭidesanīyakaṇḍaṃ)
VI.
Chương Ưng Học Pháp (Sekhiyakaṇḍaṃ)
VII.
Chương Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng (Adhikaraṇasamathā Dhammā)
PHẦN
GIỚI THIỆU
*****
Tạng
Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những
lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đề có
liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành
viên cũng như các công việc của hội chúng, trong đó chủ
yếu đề cập đến các tỳ khưu, một phần dành cho tỳ khưu
ni, đồng thời một số vấn đề có thể áp dụng cho hàng
tại gia cư sĩ cũng được tìm thấy.
Tạng
Luật được chia làm 3 phần chính: Suttavibhaṅga, Khandhaka,
và Parivāra.
I.
Suttavibhaṅga (Phân Tích Giới Bổn) trình bày về giới bổn
Pātimokkha của tỳ khưu gồm có 227 điều và của tỳ khưu
ni gồm có 311 điều.
Theo
truyền thống đang được áp dụng ở Miến Điện và Tích
Lan, Suttavibhaṅga được phân làm hai: Pārājika (Pāḷi) và
Pācittiya (Pāḷi). Cách phân chia này có thể do việc chia hai
số lượng sách của Suttavibhaṅga và được trình bày như
sau:
Pārājika
(Pāḷi): Mở đầu là Chương Verañja giới thiệu việc ngài
Sārīputta thỉnh cầu đức Phật quy định giới ở xứ Verañjā.
Kế đến là các điều học theo thứ tự:
1/-
4 Pārājika (bất cộng trụ)
2/-
13 Saṅghādisesa (tăng tàng)
3/-
2 Aniyata (bất định)
4/-
30 Nissaggiya Pācittiya (ưng xả đối trị)
Pācittiya
(Pāḷi):
5/-
92 Pācittiya (ưng đối trị)
6/-
4 Pāṭidesanīya (ưng phát lộ)
7/-
75 Sekhiya (ưng học)
8/-
7 Adhikaraṇasamathā Dhammā (các pháp dàn xếp tranh tụng)
9/-
Bhikkhunīvibhaṅga (Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni).
Truyền
thống Thái Lan cũng phân Suttavibhaṅga làm hai, căn cứ theo
nội dung:
Mahāvibhaṅga
(Đại Phân Tích): còn có tên là Bhikkhuvibhaṅga (Phân Tích
Giới Tỳ Khưu) vì có đầy đủ phần phân tích 227 giới trong
giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu từ 4 pārājika cho đến
7 adhikaraṇasamathā dhammā. Bộ này được phân chia làm 2 tập:
Tập I gồm 4 pārājika, 13 saṅghādisesa, và 2 aniyata và tập
II gồm phần còn lại của Giới Bổn bắt đầu với 30 nissaggiya
pācittiya và kết thúc với lời tụng đọc tổng kết.
Bhikkhunīvibhaṅga
(Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni) chỉ trình bày các điều học
quy định dành riêng cho tỳ khưu ni, những điều học quy định
chung cần phải xem ở Bhikkhuvibhaṅga (Phân Tích Giới Tỳ Khưu).
II.
Khandhaka (Hợp Phần): gồm các vấn đề có liên quan đã được
sắp xếp thành từng chương. Khandhaka được chia làm hai:
Mahāvagga
(Đại Phẩm): gồm 10 chương, mở đầu là sự chứng ngộ
đạo quả của đức Phật, kế đến là các nhiệm vụ quan
trọng của các tỳ khưu như lễ xuất gia, lễ Uposatha (Bố
Tát), việc an cư mùa mưa, lễ Pavāraṇā (Tự Tứ), v.v...
Cullavagga
(Tiểu Phẩm): gồm 12 chương đề cập đến việc hành xử
các tỳ khưu phạm tội, giải quyết các sự tranh tụng, việc
chia rẽ hội chúng, và các vấn đề khác liên quan đến đời
sống xuất gia. Đặc biệt chương 10 đề cập việc xuất
gia của tỳ khưu ni và hai chương cuối 11 và 12 nói về hai
lần kết tập Tam Tạng đầu tiên ở Ấn Độ.
III.
Parivāra (Tập Yếu): phân tích về Giới và Luật theo các tiêu
đề và được trình bày dưới dạng vấn đáp, có thể được
xem như là cuốn cẩm nang hướng dẫn việc hành xử Luật.
*
Chúng
tôi trình bày bản dịch Suttavibhaṅga này theo hình thức trình
bày của Tam Tạng Thái Lan gồm có Phân Tích Giới Tỳ Khưu
(2 tập) và Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni, hay có thể nói gọn
lại là Giới Tỳ Khưu và Giới Tỳ Khưu Ni để dễ nhớ.
Ý nghĩa của từ "sutta" ở nhóm từ "suttavibhaṅga" có ý nghĩa
tương đương như là "sikkhāpada" (điều học, học giới, điều
giới, ...), nếu xét theo ý nghĩa bao quát có thể gọi là "giới
bổn"; như vậy, Suttavibhaṅga nghĩa là sự phân tích các điều
học hoặc là sự phân tích về giới bổn (Ở Tạng Kinh, từ
"sutta" được dịch là "kinh", ví dụ như Brahmajālasutta được
dịch là Kinh Phạm Võng, v.v...).
Đề
cập đến nội dung, chương mở đầu Verañja trình bày về
thời điểm quy định điều học cho các tỳ khưu, đức Phật
đã trả lời sự thỉnh cầu của ngài Sārīputta (Xá Lợi
Phất) rằng: "Này Sārīputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sārīputta,
ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp này, chỉ có Như Lai
mới biết thời điểm." Và ngài đã xác định về thời điểm
đó như sau: "Này Sārīputta, chính bởi vì một số pháp đưa
đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này ... chính bởi
vì hội chúng đạt đến sự đông đảo về số lượng ...
chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc
phát triển ... chính bởi vì hội chúng đạt đến sự dồi
dào về lợi lộc nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất
hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều
học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm
diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy."
Đến
các chương kế tiếp, chúng ta biết được rằng mỗi khi điều
học được quy định, trước tiên có sự chỉ trích và chê
bai về việc làm hay lời nói nào đó của các vị xuất gia,
việc chỉ trích và chê bai lan rộng khiến các tỳ khưu nghe
được và cuối cùng đến tai đức Phật. Đối tượng vi
phạm trong các câu chuyện này có thể là cá nhân hay nhóm
tỳ khưu, không hẳn là phàm nhân mà ngay cả một số vị
đã chứng được thiền và thần thông như các vị Devadatta
và Sāgata, một vài trường hợp do các bậc đã chứng Thánh
quả như ngài Anuruddha về việc nằm chung chỗ ngụ với người
nữ, ngài Cūḷapanthaka về việc giáo huấn các tỳ khưu ni
khi mặt trời đã lặn, hoặc ngài Veḷaṭṭhasīsa về việc
thọ dụng vật thực đã tích trữ. Về các sự chỉ trích
và chê bai, đa số phát xuất từ hàng tại gia, có thể là
các cư sĩ đã quy y, những người theo ngoại đạo, hoặc quần
chúng bình thường, kế đến do các vị đã xuất gia, chỉ
một vài trường hợp do phi nhân hạng trên hoặc dưới. Thông
thường, đức Phật triệu tập các tỳ khưu lại, xác định
vấn đề, khiển trách và giáo huấn, rồi mới quy định điều
học. Mỗi lần như vậy, đức Phật luôn khẳng định về
mười điều lợi ích của việc làm ấy như sau: "Nhằm sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm
việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú
của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc
trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương
lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin,
nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ
Luật." Có nhiều trường hợp, điều học đã được quy định
thêm (anupaññatti), có trường hợp mức độ nghiêm khắc trong
việc thực hành càng gia tăng, có trường hợp được giảm
nhẹ do nhu cầu cần thiết, ví dụ như tỳ khưu bị bệnh
có thể thọ thực ở phước xá hơn một lần, hoặc vị tỳ
khưu có thể hẹn trước rồi đi chung với tỳ khưu ni ở
đoạn đường có nguy hiểm hoặc chung chuyến đò lúc sang
sông. Sau phần quy định về điều học, có phần phân tích
về từ ngữ và về các trường hợp vi phạm hoặc không vi
phạm. Phần này cần xem xét kỹ lưỡng mới có thể hiểu
được điều học thêm phần chính xác. Ngoài ra, có phần
các câu chuyện dẫn giải ở 4 điều học pārājika và 5 điều
học đầu của saṅghādisesa gồm những sự việc cụ thể
giúp cho hiểu rõ hơn về trường hợp vi phạm tội. Khi đọc
các câu chuyện này nên liên hệ với phần phân tích ở phía
trước, để thấy được sự phán quyết của đức Phật.
Một điều quan trọng cần lưu ý rằng đối tượng chính
của các điều học này là hạng tỳ khưu và tỳ khưu ni đã
được tu lên bậc trên bằng hành sự với lời thông báo
đến lần thứ tư, đầu tiên là vị bà-la-môn đã được
ngài Sārīputta tế độ do việc bố thí một muỗng thức ăn
(Đại Phẩm – Mahāvagga, chương I, [85]).
*
Trong
việc nghiên cứu Tam Tạng Pāli, các bộ Chú Giải Aṭṭhakathā
liên quan cũng cần được xem xét để có thể hiểu đúng
những điều đã được kết tập thuộc về Chánh Tạng; ngoài
ra còn có các bộ Sớ Giải Ṭīkā phân tích về những điểm
cần giải thích thêm hoặc chưa được giải thích trong Aṭṭhakathā,
sau đó mới nói đến các bộ sách được soạn thảo theo
chuyên đề. Theo tinh thần đó, trong khi nghiên cứu về Tạng
Luật, chúng tôi đã tham khảo và hiểu theo lời giải thích
của ngài Buddhaghosa ở bộ Chú Giải Samantapāsādikā. Ngài
Buddhaghosa được xem là nhà Chú Giải Sư vĩ đại, vĩ đại
vì ngài là người đầu tiên tổng hợp lại các bộ Chú Giải
đã có trước, cũng có thể do số lượng tài liệu ngài đã
thực hiện là nhiều hơn so với các nhà chú giải khác, cũng
có thể vì ngài đã soạn nên bộ sách nổi tiếng Visuddhimagga
(Thanh Tịnh Đạo) được xem như đã cô đọng lại những
gì tinh hoa của lời Phật dạy. Ngài Buddhaghosa đã hoàn tất
phần chú giải về Tạng Luật và Tạng Diệu Pháp. Về Tạng
Kinh, ngài đã hoàn tất phần chú giải của Kinh Trường Bộ,
Kinh Trung Bộ, Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Tăng Chi Bộ, và một
số thuộc về Kinh Tiểu Bộ. Cuộc đời của ngài chỉ được
ghi lại ngắn gọn trong nhiều tài liệu, văn bản cổ nhất
được biết đến là Mahāvaṃsa (chương 37) là bộ sử ký
của xứ Sri Lanka được ghi lại bằng ngôn ngữ Pāli. Ngài
Buddhaghosa sanh ở vùng lân cận của Bodh Gayā (nơi đức Phật
thành đạo) ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây
Lịch. Ngài xuất thân dòng dõi bà-la-môn và thông thạo ba
bộ Vệ Đà, lúc còn thanh niên thường đi đó đây để tranh
luận, do bị thua ngài Revata nên đã xin xuất gia và trở thành
tỳ khưu. Khi thấy được ước nguyện của người học trò
về việc soạn thảo các bộ chú giải Tam Tạng, ngài Revata
đã gợi ý nên sang đảo Laṅkā (Sri Lankā ngày nay), vì toàn
bộ kinh điển và chú giải được ngài Mahinda đem sang truyền
giáo ở đó (thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch) vẫn được
lưu truyền và phát triển. Tại đảo Laṅkā, trước tiên,
ngài Buddhaghosa đã soạn bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo),
rồi trình lên các ngài trưởng lão ở Mahāvihāra (Đại Tự)
để chứng tỏ khả năng và đã được phép sử dụng các
tài liệu lưu trữ trong tu viện phần nhiều bằng tiếng địa
phương (ngôn ngữ Sīhaḷa), để thực hiện việc tổng hợp
lại các bộ chú giải và dịch sang ngôn ngữ của xứ Magadha
(Māgadhānaṃ niruttiyā), nhằm đem lại lợi ích cho tất cả
thế gian (ngôn ngữ sử dụng trong Tipiṭaka - Tam Tạng - mới
được các nhà học giả phương Tây gọi là ngôn ngữ Pāli
vào thời gian sau này). Sau khi thực hiện các công trình trên,
ngài Buddhaghosa đã rời đảo Laṅkā để trở về đảnh lễ
cội Đại Bồ Đề ở quê hương. Nghe đâu, có các tài liệu
khác cho rằng ngài Buddhaghosa qua đời ở Miến Điện, có tài
liệu nói ở Cam-pu-chia.
Về
hình thức, chúng tôi thực hiện và trình bày bản dịch Phân
Tích Giới Bổn – Suttavibhaṅga dựa vào văn bản Pali La tinh
từ Compact Disk BUDSIR IV của trường đại học Mahidol ở thủ
đô Bangkok, Thái Lan. Phần mục lục chúng tôi thực hiện theo
các chữ số đánh dấu ở đầu mỗi vấn đề; trình bày
theo cách này sẽ giúp quý vị tiết kiệm được thời gian
trong việc xác định vấn đề cần tham khảo.
Về
phương diện từ ngữ có tính cách chuyên môn như tên các
điều học pārājika, saṅghādisesa, tên của lễ Uposatha, Pavāraṇā,
v.v... chúng tôi đã giữ nguyên từ Pāli đôi lúc có ghi trong
ngoặc đơn từ dịch của các vị tiền bối để tiện liên
hệ. Việc làm này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Chúng
tôi ngại việc sáng tạo thêm tên gọi mới e rằng có thể
làm rối trí những độc giả vốn đã có sự hiểu biết
về Luật của Phật Giáo. Hơn nữa, việc biết và nhớ được
một số từ có tính cách chuyên môn của ngôn ngữ này sẽ
tiện cho công việc trao đổi kiến thức tránh sự nhầm lẫn,
nhất là đối với các tu sĩ hoặc học giả người ngoại
quốc. Chúng tôi cũng tránh việc sử dụng theo thói quen một
số từ được ghi lại theo âm của tiếng Hán xét rằng không
có lợi ích, ví dụ như: ba-la-di (pārājika), tăng-già-bà-thi-sa
(saṅghādisesa), đột-kiết-la (dukkaṭa), bố-tát (uposatha),
Xá Lợi Phất (Sārīputta), Xa Nặc (Channa), v.v...; hoặc tránh
sự vay mượn tiếng Hán khó hiểu ví dụ như từ Tự Tứ
(pavāraṇā), v.v... Cũng có một số từ được ghi bằng tiếng
Pāli do chúng tôi không tìm ra được nghĩa của chúng như trường
hợp tên các loại thảo mộc.
Ngoài
ra, chúng tôi cũng mạo muội Việt hóa một số từ Hán đã
trở nên quá quen thuộc, nghĩ rằng khó có sự thay đổi trong
tương lai, ví dụ như từ: Thế Tôn (Bhagavā), tỳ khưu (bhikkhu),
tỳ khưu ni (bhikkhunī), sa di (sāmaṇera), v.v... Riêng từ "tỳ
khưu" (hay tỷ khưu, tỳ kheo, tỷ kheo) đều được âm từ
ngôn ngữ Sanskrit là từ "bhikṣu" hay Pāli là từ "bhikkhu."
Về từ tiếng Việt có liên quan đến phái nữ xuất gia như
cô ni, ni sư, v.v... có thể đã được du nhập vào tiếng Việt
từ tiếp vĩ ngữ "ni" trong "bhikṣuṇī" hoặc "bhikkhunī." Thêm
vào đó, có một số từ Pāli được để trong ngoặc đơn
sau phần tiếng Việt ,để tránh sự hiểu lầm lẫn về ý
nghĩa hoặc nghĩa được ghi lại chỉ có tính cách giả định,
cần phải nghiên cứu thêm.
*
Bản
dịch này được hoàn thành là một sự nỗ lực học tập
của bản thân và việc mạnh dạn giới thiệu đến quý vị
không ngoài mục đích là hy vọng sẽ nhận được những lời
chỉ dạy của các bậc cao minh và các sự khuyến khích góp
ý của quý độc giả. Tuy đã nỗ lực tối đa, nhưng chúng
tôi biết rằng bản dịch này vẫn còn nhiều sai sót, chỉ
mong sao có thể giúp được quý vị độc giả phần nào kiến
thức về Phật học dựa vào nguồn tài liệu gốc đã được
kết tập lại vì lợi ích của nhiều người, vì lợi ích
của chư thiên và nhân loại. Rất mong nhận được ý kiến
của quý vị. Xin email về: dinda@u.washington.edu
Xin
chân thành ghi nhận công đức của Thượng Tọa Tiến Sĩ Bửu
Chánh về CD Tam Tạng BUDSIR IV. Chúng tôi cũng xin tán dương
công đức của Đại Đức Giác Hạnh về CD Tam Tạng Chaṭṭha
Saṅgāyana, đồng thời đã cho mượn dài hạn các bản dịch
tiếng Anh của Cô I. B. Horner và bộ Vinayamukha của ngài Mahāsamaṇa
Chao (Thái Lan) đã được dịch sang tiếng Anh; nhờ có trong
tay số tài liệu này chúng tôi mới mạnh dạn để tiếp tục
việc nghiên cứu Tạng Luật và ghi lại bằng tiếng Việt.
CD Buddhasāsanā quà biếu của Dr. Bình Anson đã đóng góp phần
công đức không nhỏ nhờ những tài liệu quý giá như The
Buddhist Monastic Code của Thanissaro Bhikkhu, cũng như các tài liệu
về Luật bằng tiếng Việt của quý ngài Hòa Thượng Hộ
Tông, Hòa Thượng Bửu Chơn, v.v...
Chúng
tôi cũng xin ghi nhận sự ủng hộ nhiệt tình của Đại Đức
Hộ Phạm đã hy sinh nhiều thời gian cùng chúng tôi suy nghĩ,
để tìm ra phương thức giải quyết cho những gút mắc về
văn phạm cũng như từ ngữ. Cũng cần nhắc đến các sự
ủng hộ và lời động viên thăm hỏi của các vị: Ven. Cittānanda,
Ven. Khánh Hỷ, Ven. Chánh Kiến, ni sinh Huyền Châu, Dr. Bình
Anson, bà Diệu Đài, anh Phạm Trọng Độ, chú Nguyễn Hữu
Danh, gia đình Nguyễn Ngọc Vivian, gia đình Lê Thị Tích. Không
có sự khích lệ của quý vị, bản dịch này không thể hoàn
thành. Mong sao các ước nguyện của quý vị sẽ được thành
tựu như ý và nhanh chóng y như việc chúng tôi đã hoàn tất
bản dịch này.
Công
đức này xin dâng đến Hòa Thượng trụ trì và chư tỳ khưu
chùa Sri Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan, đã bảo bọc và
tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong công việc học
tập và nghiên cứu Phật Pháp trong thời gian qua.
Mong
sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào
quang của Chánh Pháp.
Colombo,
ngày 25 tháng 03 năm 2004
Bhikkhu
Indacanda
(Trương
đình Dũng)
(Hiệu
đính lần thứ nhất: hoàn tất tập 1 ngày 23/09/2004, tập
2 ngày 18/10/2004)
Source:
http://www.budsas.org/