V.
CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) (tt)
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ BA:
[399]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng. Trú xá của đại
đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn. Vào lúc bấy giờ,
có nhiều người đàn bà đã đi đến tu viện có ý muốn
nhìn ngắm trú xá của đại đức Udāyi. Khi ấy, những người
đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến
đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài đại đức.
Khi
ấy, đại đức Udāyi sau khi cho những người đàn bà ấy
nhìn ngắm trú xá rồi đề cập đến đường tiêu, đường
tiểu của những người đàn bà ấy, còn nói lời ca ngợi,
nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ
bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ nữa. Những người đàn bà nào
thuộc hạng táo tợn, ranh mãnh, trơ trẽn, những người ấy
cùng với đại đức Udāyi cười cợt, khoe khoang, cười vang,
trêu chọc. Trái lại, những người đàn bà nào có sự hổ
thẹn, những người ấy đi ra bên ngoài và phàn nàn với các
tỳ khưu rằng:
- Thưa
các ngài, điều này là không đúng đắn, không thích hợp.
Chúng tôi dầu được chồng nói như thế còn không thích,
huống hồ là ngài đại đức Udāyi!
Các
tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận,
ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại nói với người nữ bằng những
lời dâm dật?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại
đức Udāyi rằng:
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi nói với người nữ bằng những lời
dâm dật, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không
tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không
nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nói với người
nữ bằng những lời dâm dật? Này kẻ rồ dại, không phải
ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa
đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến
tham ái, ...(như trên)... đã đề cập đến sự lắng dịu
của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bị
khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi nói với người nữ
bằng những lời dâm dật như là việc người trai trẻ nói
với cô gái bằng những lời có tính chất đôi lứa thì tội
saṅghādisesa (tăng tàng).”
[400]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Bị
khởi dục nghĩa là có dục vọng, có sự khao khát, có tâm
say đắm.
Bị
thay đổi: tâm có dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận
hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay
đổi. Tâm có dục vọng là (tâm) “bị thay đổi” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không
phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả
năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật
và không dâm dật.
Lời
nói dâm dật nghĩa là là lời nói liên quan đến đường tiêu,
đường tiểu, và việc đôi lứa.
Nói:
là sự vi phạm được đề cập đến.
Như
là việc người trai trẻ nói với cô gái: là trai tơ với
gái tơ, thanh niên với thanh nữ, người nam hưởng dục với
người nữ hưởng dục.
Có
tính chất đôi lứa: bằng những lời nói có liên quan đến
việc hành dâm.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[401]
Nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi
han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có liên hệ
đến đến hai đường khiếu.[1]
[402]
Nói lời ca ngợi nghĩa là tán dương, khen ngợi, ca tụng về
hai đường khiếu.
Nói
lời chê bai nghĩa là xỉ vả, khinh khi, chê bai về hai đường
khiếu.
Yêu
cầu nghĩa là (nói rằng): “Hãy ban cho tôi, hãy dâng hiến
cho tôi, cô là thích hợp để dâng hiến cho tôi.”
Nài
nỉ nghĩa là (nói rằng): “Khi nào mẹ cô sẽ hoan hỷ? Khi
nào cha cô sẽ hoan hỷ? Khi nào các thiên nhân của cô sẽ
hoan hỷ? Khi nào là thời khắc tốt, là thời giờ tốt, là
thời điểm tốt của cô? Khi nào tôi sẽ đạt được được
việc đôi lứa với cô?”
Hỏi
han nghĩa là (nói rằng): “Cô dâng hiến cho chồng như thế
nào? Cô dâng hiến cho tình nhân như thế nào?”
Chất
vấn nghĩa là (nói rằng): “Nghe nói cô dâng hiến cho chồng
như vầy, cô dâng hiến cho tình nhân như vầy.”
Chỉ
bảo nghĩa là khi được hỏi thì nói rằng: “Hãy dâng hiến
như vầy, người dâng hiến như vầy sẽ được chồng yêu
quý và thương mến.”
Dạy
dỗ nghĩa là khi không được hỏi thì nói rằng: “Hãy dâng
hiến như vầy, người dâng hiến như vầy sẽ được chồng
yêu quý và thương mến.”
Khinh
bỉ nghĩa là (nói rằng): “Cô không có hiện tướng (người
nữ), cô không có đủ hiện tướng (người nữ), cô không
có kinh nguyệt, cô bị băng huyết, cô thường xuyên mang vải
lót, cô bị rong kinh, cô là người nữ có dị căn, cô là
người nữ vô căn, cô là người bị lại đực, cô là người
nữ tiêu tiểu chung một khiếu (sambhinnā), cô là người nữ
lưỡng căn.”
[403]
Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài
nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ
có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người
nữ ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Là
người nữ và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người vô
căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội).
Là
người vô căn và biết là người vô căn, vị tỳ khưu bị
khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như
trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường
tiểu của người vô căn ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội).
Là
người vô căn và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người
nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của người vô căn ấy thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Là
người nam và biết là người nam, có sự hoài nghi, (lầm)
tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng
là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời
ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có
đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nam
ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
loài thú và biết là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng
là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng
là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca
ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề
cập đến đường tiêu, đường tiểu của loài thú ấy thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[404]
Hai người nữ và biết hai người nữ là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy của thì phạm
hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hai
người nữ và có sự hoài nghi là hai người nữ, (lầm) tưởng
là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng
là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi,
nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập
đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy thì
phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).
Hai
người vô căn và biết hai người vô căn là người vô căn,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của hai người vô căn ấy thì phạm hai
tội thullaccaya (trọng tội).
Hai
người vô căn và có sự hoài nghi là hai người vô căn, (lầm)
tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng
là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca
ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề
cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người vô căn
ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
Hai
người nam và biết hai người nam là người nam, có sự hoài
nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ,
(lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục
rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và
khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của
hai người nam ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
Hai
con thú và biết hai con thú là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm)
tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm)
tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói
lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ
có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai con
thú ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
[405]
Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người
nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói
lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến
đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và người vô căn, có sự hoài nghi về cả hai, ...(như
trên)... thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa
(tác ác). ...(như trên)... (lầm) tưởng là người vô căn,
...(như trên)... thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội). ...(như
trên)... (lầm) tưởng là người nam, ...(như trên)... (lầm)
tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời
ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có
đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người
ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng
là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi,
nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập
đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng
là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi,
nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập
đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
vô căn và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là
người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi,
nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập
đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm
hai tội dukkaṭa (tác ác).
Người
vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường
tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
vô căn và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là
người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi,
nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập
đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm
hai tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, có sự
hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người
nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)...,
và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu
của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
[406]
Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)...,
và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn
(ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường
tiêu và đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội).
Là
người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)...
Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)...
Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)...
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hai
người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần
cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu
gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai
người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).
Người
nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần
cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu
gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai
người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa
(tác ác).
[407]
Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)...,
và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn
(ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của người
nữ ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)...
Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)...
Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)...
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hai
người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần
cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối
trở xuống của hai người nữ ấy thì phạm hai tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần
cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối
trở xuống của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác
ác).
Là
người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)...,
và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của
người nữ ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
người vô căn ...(như trên)... Là người nam ...(như trên)...
Là loài thú ...(như trên)... thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hai
người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê
bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn
liền với thân của hai người nữ ấy thì phạm hai tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
nữ và người vô căn và (lầm) tưởng cả hai là người nữ,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời
chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến vật
gắn liền với thân của hai người ấy thì phạm hai tội
dukkaṭa (tác ác).
[408]
Khi giảng về ý nghĩa của từ ngữ (với sự nghiêm trang),
khi đọc tụng Pháp (với sự nghiêm trang), khi chỉ dạy Giáo
Pháp (với sự nghiêm trang), vị bị điên, vị vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
[409]
Màu
đỏ, bị sần sùi,
bị
rối, và thô dày,
lông
dài, được gieo giống,
đạo
lộ là thông suốt?
đức
tin, với vật thí,
(ba
chuyện) về công việc.
[410]
Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len
được nhuộm mới. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi
đã nói với người đàn bà ấy điều này:
- Này
chị gái, của chị là màu đỏ.
Cô
ấy không hiểu được.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Tấm vải len được nhuộm mới.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len sần
sùi (có lông rậm và ngắn). Có vị tỳ khưu nọ bị khởi
dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:
- Này
chị gái, của chị là sần sùi.
Cô
ấy không hiểu được.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Tấm vải len sần sùi.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len đã
được giặt sạch. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi
đã nói với người đàn bà ấy điều này:
- Này
chị gái, của chị có lông bị rối.
Cô
ấy không hiểu được.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Tấm vải len được giặt sạch.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len thô
dày. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với
người đàn bà ấy điều này:
- Này
chị gái, của chị có lông rậm.
Cô
ấy không hiểu được.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Tấm vải len thô dày.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[411]
Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm áo choàng
dài. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với
người đàn bà ấy điều này:
- Này
chị gái, của chị có lông dài.
Cô
ấy không hiểu được.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Tấm áo choàng dài.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[412]
Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi cho người
gieo giống thửa ruộng rồi đi về. Có vị tỳ khưu nọ bị
khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:
- Này
chị gái, của chị đã được gieo giống.
Cô
ấy không hiểu được.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Vẫn còn chưa được lấp kín.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[413]
Vào lúc bấy giờ, khi nhìn thấy người nữ du sĩ ngoại đạo
đi ngược chiều, vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã
nói với người nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này:
- Này
chị gái, phải chăng đạo lộ (maggo) của chị là thông suốt?
Cô
ấy không hiểu được.
- Này
tỳ khưu, đúng vậy. Rồi ngươi sẽ đạt đến.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội thullaccaya (trọng tội).[2]
[414]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi
đã nói với người đàn bà nọ điều này:
- Này
em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi
việc cô đã dâng cho chồng.
- Thưa
ngài, việc gì vậy?
- Việc
đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã
nói với người đàn bà nọ điều này:
- Này
em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi
vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, việc gì vậy?
- Việc
đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
[415]
Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc.
Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người
đàn bà ấy điều này:
- Này
em gái, cô hãy đứng, tôi sẽ làm.
Cô
ấy không hiểu được.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc.
Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người
đàn bà ấy điều này:
- Này
em gái, cô hãy ngồi xuống, tôi sẽ làm.
Cô
ấy không hiểu được.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc.
Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người
đàn bà ấy điều này:
- Này
em gái, cô hãy nằm xuống, tôi sẽ làm.
Cô
ấy không hiểu được.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Dứt
điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ ba.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ TƯ:
[416]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình
và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthi. Vào lúc bấy
giờ, có người đàn bà góa chồng nọ đẹp dáng, đáng nhìn,
khả ái. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc
y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người đàn bà ấy,
sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt
sẵn. Khi ấy, người đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức
Udāyi, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Udāyi rồi ngồi
xuống ở một bên. Đại đức Udāyi đã chỉ dạy, thức tỉnh,
khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người đàn bà
ấy đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi
đã được đại đức Udāyi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến
khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, người
đàn bà ấy đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, xin ngài cứ nói ra nhu cầu. Chúng tôi có khả năng để
dâng đến ngài đại đức vật dụng tức là y phục, vật
thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
- Này
em gái, những thứ ấy tức là y phục, vật thực, chỗ trú
ngụ, và thuốc men chữa bệnh thì chúng tôi đạt được không
khó. Vậy hãy dâng cho chúng tôi điều mà chúng tôi khó đạt
được.
- Thưa
ngài, điều gì vậy?
- Việc
đôi lứa.
- Thưa
ngài, ngài cần điều ấy?
- Này
em gái, ta cần điều ấy,
- Thưa
ngài, hãy đi đến. Rồi đã đi vào phòng trong, cởi bỏ y
phục, và nằm ngửa ra trên chiếc giường nhỏ.
Sau
đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người đàn bà ấy,
sau khi đến (đã nói rằng):
- Ai
mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này? Rồi đã nhổ bãi
nước miếng và bỏ đi.
Khi
ấy, người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các
vị sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh
xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực
hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời
chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không
có sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh
của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị
này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi?
Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các
vị này đã không còn, Phạm hạnh của các vị này đã không
còn! Vì sao sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin tôi việc
đôi lứa (lại nói rằng): “Ai mà sờ vào vật hạ tiện
hôi thối này?” rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Tôi
có điều gì xấu? Tôi có mùi hôi gì? Tôi thua kém với ai,
vì điều gì?
Các
người đàn bà khác cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các
vị sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh
xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực
hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời
chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không
có sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh
của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị
này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi?
Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các
vị này đã không còn, Phạm hạnh của các vị này đã không
còn! Vì sao Sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin cô ấy việc
đôi lứa (lại nói rằng): “Ai mà sờ vào vật hạ tiện
hôi thối này?” rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Cô
ấy có điều gì xấu? Cô ấy có mùi hôi gì? Cô ấy thua kém
với ai, vì điều gì?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người đàn bà ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ,
khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho
bản thân trong sự hiện diện của người nữ?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại
đức Udāyi rằng:
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản
thân trong sự hiện diện của người nữ, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không
tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không
nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ca ngợi sự hầu
hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người
nữ vậy? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương
thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn
tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ...(như trên)...
đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc
do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị
thay đổi, rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân
trong sự hiện diện của người nữ rằng: ‘Này em gái, đây
là việc đứng đầu trong các sự hầu hạ là việc người
nữ nên hầu hạ đến người có giới, có thiện pháp, có
Phạm hạnh như là ta bằng việc ấy’ là việc có tính chất
đôi lứa, thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”
[417]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Bị
khởi dục nghĩa là có dục vọng, có sự khao khát, có tâm
say đắm.
Bị
thay đổi: tâm có dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận
hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay
đổi. Tâm có dục vọng là (tâm) “bị thay đổi” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không
phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả
năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật
và không dâm dật.
Trong
sự hiện diện của người nữ: xung quanh người nữ, không
xa người nữ.
Tình
dục cho bản thân: là tình dục của chính bản thân, có nguyên
nhân của bản thân, có ý định cho bản thân, là sự phục
vụ cho bản thân.
Đây
là việc đứng đầu: điều này là tột đỉnh, điều này
là hạng nhất, điều này là dẫn đầu, điều này là tối
thượng, điều này là quý báu nhất.
Người
nữ: là người nữ dòng vua chúa, hoặc là người nữ bà-la-môn,
hoặc là người nữ thương buôn, hoặc là người nữ nô lệ.
Như
là ta: là người dòng vua chúa, hoặc là bà-la-môn, hoặc là
thương buôn, hoặc là nô lệ.
Người
có giới: (người) có sự tránh xa việc sát sanh, có sự tránh
xa việc trộm cắp, có sự tránh xa việc nói dối.
Có
Phạm hạnh: có sự tránh xa việc đôi lứa.
Có
thiện pháp nghĩa là với giới ấy và với Phạm hạnh ấy
là (người) có thiện pháp.
Bằng
việc ấy: bằng việc đôi lứa.
Nên
hầu hạ: nên làm cho thích thú.
Có
tính chất đôi lứa: là có liên quan đến việc hành dâm.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[418]
Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong
sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).
Là
người nữ và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người vô
căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Là
người vô căn và biết là người vô căn, vị tỳ khưu bị
khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân
trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội).
Là
người vô căn và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người
nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn
ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
người nam và biết là người nam, có sự hoài nghi, (lầm)
tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng
là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi
sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của
người nam ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
loài thú và biết là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng
là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng
là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự
hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của loài
thú ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[419]
Hai người nữ và biết hai người nữ là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục
cho bản thân trong sự hiện diện của hai người nữ ấy thì
phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hai
người nữ và có sự hoài nghi là hai người nữ, (lầm) tưởng
là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng
là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự
hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai
người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).
Hai
người vô căn và biết hai người vô căn là người vô căn,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người vô căn
ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).
Hai
người vô căn và có sự hoài nghi là hai người vô căn, (lầm)
tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng
là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự
hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai
người vô căn ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
Hai
người nam và biết hai người nam là người nam, ...(như trên)...
Hai
con thú và biết hai con thú là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm)
tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm)
tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi
sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của
hai con thú ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy
thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác
ác).
Người
nữ và người vô căn, có sự hoài nghi về cả hai, ...(như
trên)... thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa
(tác ác). ...(như trên)... (lầm) tưởng là người vô căn,
...(như trên)... thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội). ...(như
trên)... (lầm) tưởng là người nam, ...(như trên)... (lầm)
tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi
sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của
hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội
dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục
cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm
tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng
là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự
hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai
người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
nữ và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị
tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục
cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm
tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng
là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự
hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai
người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác
ác).
Người
vô căn và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là
người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu
hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người
ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
Người
vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn,
vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình
dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác
ác).
Người
vô căn và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng
là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là
người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu
hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người
ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, có sự
hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người
nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi
dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong
sự hiện diện của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa
(tác ác).
[420]
Vị nói rằng: “Hãy hộ độ với vật dụng là y phục, vật
thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh,” vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
[421]
Cách
nào bà hiếm muộn,
có
được đức con trai?
được
yêu quý, thương mến?
Tôi
nên dâng vật gì?
Hộ
độ bằng thứ gì?
Cách
nào được sanh thiên?
[422]
Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà không sanh sản nọ đã
nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều
này:
- Thưa
ngài, làm sao tôi có thể sanh con?
- Này
em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)... Vị ấy đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà còn sanh sản nọ đã nói
với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:
- Thưa
ngài, làm sao tôi có thể có được con trai?
- Này
em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ
khưu thường tới lui với gia đình điều này:
- Thưa
ngài, làm sao tôi có thể được chồng yêu quý?
- Này
em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ
khưu thường tới lui với gia đình điều này:
- Thưa
ngài, làm sao tôi có thể được may mắn?
- Này
em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ
khưu thường tới lui với gia đình điều này:
- Thưa
ngài, tôi sẽ dâng ngài đại đức vật gì?
- Này
em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ
khưu thường tới lui với gia đình điều này:
- Thưa
ngài, tôi hộ độ ngài đại đức bằng vật gì?
- Này
em gái, bằng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Vào
lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ
khưu thường tới lui với gia đình điều này:
- Thưa
ngài, làm sao tôi có thể sanh về cõi trời?
- Này
em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.
- Thưa
ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?
- Là
việc đôi lứa.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Dứt
điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ tư.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NĂM:
[423]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình
và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthi. Tại nơi nào
vị ấy nhìn thấy thanh niên chưa vợ hoặc thanh nữ chưa chồng
thì vị ấy nói lời khen ngợi về cô con gái trước mặt
cha mẹ của người con trai rằng:
- Cô
con gái của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái,
có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng.
Cô gái ấy thì xứng đôi với người con trai này.
Các
người ấy nói như vầy:
- Thưa
ngài, những người này không biết chúng tôi: “Những người
này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Thưa ngài, nếu ngài
có thể bảo họ cho cưới thì chúng tôi có thể cho người
rước cô con gái ấy về cho người con trai này.
Rồi
vị ấy nói lời khen ngợi về cậu con trai trước mặt cha
mẹ của người con gái rằng:
- Cậu
con trai của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái,
có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng.
Cậu trai ấy thì xứng đôi với người con gái này.
Các
người ấy nói như vầy:
- Thưa
ngài, những người này không biết chúng tôi: “Những người
này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Thật xấu hổ khi rêu
rao về con gái! Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ xin cưới
thì chúng tôi có thể gả cô con gái này cho người con trai
ấy.
Bằng
chính phương thức ấy, vị ấy cho người thực hiện các
đoàn đi rước dâu, cho người thực hiện các đoàn đi đưa
dâu, và cho người tiến hành các vụ cưới hỏi.
[424]
Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ trước đây (chồng)
làm nghề thầy bói có cô con gái đẹp dáng, đáng nhìn, khả
ái. Các đệ tử đạo lõa thể ở ngôi làng khác đã đi đến
và nói với bà vợ người thầy bói ấy rằng:
- Thưa
bà, hãy gả cô con gái này cho con trai của chúng tôi.
Bà
ấy đã nói như vầy:
- Thưa
các ông, quả thật tôi không biết các ông: “Những người
này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Và đây là đứa con
gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác.
Tôi sẽ không gả.
Dân
chúng đã nói với các đệ tử đạo lõa thể ấy điều này:
- Thưa
các ông, vì sao các ông đã đi đến?
- Thưa
các ông, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói
kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ta đã
nói như vầy: “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các
ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’
Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến
ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.”
- Thưa
các ông, vì sao các ông lại xin bà vợ người thầy bói ấy
gả cô con gái? Sao không nói với ngài đại đức Udāyi, ngài
đại đức Udāyi sẽ bảo người ta gả cho?
Khi
ấy, các đệ tử đạo lõa thể ấy đã đi đến gặp đại
đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều
này:
- Thưa
ngài, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia
gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ta đã
nói như vầy: “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các
ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’
Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến
ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” Thưa ngài, tốt thay ngài
đại đức hãy bảo bà vợ người thầy bói ấy gả cô con
gái cho người con trai của chúng tôi.
Sau
đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp bà vợ người thầy
bói ấy, sau khi đến đã nói với bà vợ người thầy bói
ấy điều này:
- Sao
bà lại không gả cô con gái cho những người này?
- Thưa
ngài đại đức, quả thật tôi không biết các người này:
“Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Và
đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến
ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.
- Hãy
gả cho những người này. Tôi biết những người này.
- Thưa
ngài, nếu ngài đại đức biết thì tôi sẽ gả.
Sau
đó, bà vợ người thầy bói ấy đã gả cô con gái cho các
người đệ tử ngoại đạo ấy. Khi ấy, các người đệ
tử ngoại đạo ấy đã dẫn người con gái ấy đi và đã
đối xử như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó
về sau sử dụng như là đứa tớ gái.
[425]
Sau đó, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp
người mẹ (nhắn rằng):
- Vì
bị đọa đày nên con phải chịu khổ sở, không được yên
ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng
rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của
con hãy đến và hãy dẫn con đi.
Khi
ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp các người
đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các người
đệ tử ngoại đạo ấy điều này:
- Thưa
các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa
tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.
Các
người ấy đã nói như vầy:
- Chúng
tôi không có cưới hỏi gì với bà; chúng tôi chỉ có cưới
hỏi với vị sa-môn thôi. Bà hãy đi đi, chúng tôi không biết
bà.
Khi
ấy, bà vợ người thầy bói ấy bị trách mắng bởi những
người đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại
thành Sāvatthi.
Đến
lần thứ nhì, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến
gặp người mẹ (nhắn rằng):
- Vì
bị đọa đày nên con phải chịu khổ sở, không được yên
ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng
rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của
con hãy đến và hãy dẫn con đi.
Khi
ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức
Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, phải chịu
khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như
là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng
như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: “Này
các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa
tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.”
Sau
đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp các người đệ tử
ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các người đệ
tử ngoại đạo ấy điều này:
- Này
các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa
tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.
Các
người ấy đã nói như vầy:
- Chúng
tôi không có cưới hỏi gì với ngài; chúng tôi chỉ có cưới
hỏi với bà vợ người thầy bói thôi. Vị sa-môn không nên
can thiệp vào. Là sa-môn thì nên là vị sa-môn tốt. Ngài hãy
đi đi, chúng tôi không biết ngài.
Khi
ấy, đại đức Udāyi bị trách mắng bởi những người đệ
tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthi.
Đến
lần thứ ba, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến
gặp người mẹ (nhắn rằng):
- Vì
bị đọa đày nên con phải chịu khổ sở, không được yên
ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng
rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của
con hãy đến và hãy dẫn con đi.
Đến
lần thứ nhì, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp
đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi
điều này:
- Thưa
ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, phải chịu
khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như
là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng
như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: “Này
các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa
tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.”
- Lần
trước, tôi đã bị những người đệ tử ngoại đạo ấy
trách mắng. Bà hãy đi đi, tôi sẽ không đi.
[426]
Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Ngài
đại đức Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài đại đức
Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài đại đức Udāyi chớ
được yên ổn như vầy, giống như người con gái của tôi
đã bị đọa đày, phải chịu khổ sở, không được yên
ổn với bà gia ác độc, với ông gia ác độc, với người
chồng ác độc.
Và
người con gái ấy cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Ngài
đại đức Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài đại đức
Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài đại đức Udāyi chớ
được yên ổn như vầy, giống như tôi đã bị đọa đày,
phải chịu khổ sở, không được yên ổn với bà gia ác độc,
với ông gia ác độc, với người chồng ác độc.
Những
người đàn bà khác không được thuận thảo với các bà
gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng,
những người ấy nguyền rủa như vầy:
- Ngài
đại đức Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài đại đức
Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài đại đức Udāyi chớ
được yên ổn như vầy, giống như chúng tôi đã bị đọa
đày, phải chịu khổ sở, không được yên ổn với các bà
gia ác độc, với các ông gia ác độc, với những người
chồng ác độc.
Trái
lại, những người đàn bà nào được thuận thảo với các
bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng,
những người ấy cầu khẩn như vầy:
- Ngài
đại đức Udāyi hãy được yên ổn như vầy! Ngài đại đức
Udāyi hãy được chiều chuộng như vầy! Ngài đại đức Udāyi
hãy đạt được sự an lạc như vầy, giống như chúng tôi
được yên ổn, được chiều chuộng, và đạt được sự
an lạc với các bà gia hiền hậu, với các ông gia hiền hậu,
với những người chồng hiền hậu.
[427]
Các tỳ khưu đã nghe được một số người đàn bà thì đang
nguyền rủa, một số người đàn bà thì đang cầu khẩn.
Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, ...(như trên)...,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại
đức Udāyi rằng:
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối, có đúng không
vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không
tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không
nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc
mai mối vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối ý định
của người nam đến người nữ, hoặc ý định của người
nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc
trong việc trở thành nhân tình, thì tội saṅghādisesa (tăng
tàng).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định
cho các tỳ khưu như thế.
[438]
Vào lúc bấy giờ, có nhiều kẻ vô lại trong khi dạo chơi
ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô gái
điếm nọ (nói rằng):
- Hãy
đi đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.
Cô
ấy đã nói như vầy:
- Thưa
các ông, quả thật tôi không biết các ông: “Những người
này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Vả lại, tôi có nhiều
đồ đạc, có nhiều vật dụng, và ngoại thành là không nên
đi. Tôi sẽ không đi.
Sau
đó, người đưa tin ấy đã kể lại sự việc ấy cho những
kẻ vô lại ấy. Khi được nói như thế, có người đàn ông
nọ đã nói với những kẻ vô lại ấy điều này:
- Này
các ông, tại sao các ông lại phải nài nỉ cô gái điếm
ấy? Sao không nói với ngài đại đức Udāyi, ngài đại đức
Udāyi sẽ bảo người ta ưng thuận?
Khi
được nói như thế, có nam cư sĩ nọ đã nói với người
đàn ông ấy điều này:
- Thưa
ông, chớ có nói như thế. Các sa-môn Thích tử không được
phép làm việc như thế. Ngài đại đức Udāyi sẽ không làm
việc như thế đâu.
Khi
được nói như thế, họ đã đánh cá với nhau: “Vị ấy
sẽ làm! Vị ấy sẽ không làm!”
Sau
đó, những kẻ vô lại ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi,
sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, trường hợp chúng tôi khi đang đi dạo chơi ở vườn
hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô gái điếm kia
(nói rằng): “Hãy đi đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn
hoa.” Cô ấy đã nói như vầy: “Thưa các ông, quả thật
tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là
(con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có
nhiều vật dụng, và ngoại thành là không nên đi. Tôi sẽ
không đi.” Thưa ngài, tốt thay xin ngài đại đức hãy bảo
cô gái điếm ấy ưng thuận.
Khi
ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp cô gái điếm ấy,
sau khi đến đã nói với cô gái điếm ấy điều này:
- Vì
sao cô không đi cho những người này?
- Thưa
ngài đại đức, quả thật tôi không biết những người này:
“Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Vả
lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và ngoại
thành là không nên đi. Tôi sẽ không đi.
- Cô
hãy đi cho những người này đi. Tôi biết những người này.
- Thưa
ngài, nếu ngài đại đức biết thì tôi sẽ đi.
Sau
đó, những kẻ vô lại ấy đã dắt cô gái điếm ấy đi
đến vườn hoa. Khi ấy, nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- Tại
sao ngài đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho
cuộc tình trong chốt lát?
Các
tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc
tình trong chốt lát?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại
đức Udāyi rằng:
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối cho cuộc tình
trong chốt lát, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, ...(như
trên)... Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc
mai mối cho cuộc tình trong chốt lát vậy? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tiến
hành việc mai mối hoặc là ý định của người nam đến
người nữ, hoặc là ý định của người nữ đến người
nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong việc trở thành
nhân tình, thậm chí chỉ là cuộc tình trong chốt lát thì
tội saṅghādisesa (tăng tàng).”
[429]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Tiến
hành việc mai mối: Hoặc là đi đến gặp người nam do người
nữ phái đi, hoặc là đi đến gặp người nữ do người nam
phái đi.
Hoặc
là ý định của người nam đến người nữ: Hoặc là thông
báo ý định của người nam đến người nữ.
Hoặc
là ý định của người nữ đến người nam: Hoặc là thông
báo ý định của người nữ đến người nam.
Hoặc
trong việc trở thành vợ chồng: Cô sẽ trở thành người
vợ.
Hoặc
trong việc trở thành nhân tình: Cô sẽ trở thành nhân tình.
Cho
dầu chỉ là cuộc tình trong chốt lát: Cô sẽ là người vợ
trong chốt lát.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[430]
Có mười hạng người nữ: hạng được mẹ bảo hộ, hạng
được cha bảo hộ, hạng được cha mẹ bảo hộ, hạng được
anh (em) trai bảo hộ, hạng được chị (em) gái bảo hộ, hạng
được thân quyến bảo hộ, hạng được dòng họ bảo hộ,
hạng được luân lý bảo hộ, hạng có sự gìn giữ, hạng
bị quy định hình phạt.
[431]
Có mười hạng vợ: hạng được mua bằng của cải, hạng
sống chung do sự tự nguyện, hạng sống chung vì tài vật,
hạng sống chung vì y phục, hạng được cưới theo nghi thức,[3]
hạng có vật lót ở đầu được đặt xuống, hạng nữ tỳ
là vợ, hạng người làm công là vợ, hạng được đem lại
dưới lá cờ, hạng chỉ trong chốt lát.
[432]
Hạng được mẹ bảo hộ (māturakkhitā) nghĩa là có mẹ bảo
hộ,[4] canh giữ,[5] thể hiện sự lãnh đạo,[6] vận hành
sự quản lý.[7]
Hạng
được cha bảo hộ (piturakkhitā) nghĩa là có cha bảo hộ,
canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.
Hạng
được mẹ cha bảo hộ (mātāpiturakkhitā) nghĩa là có mẹ
cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành
sự quản lý.
Hạng
được anh (em) trai bảo hộ (bhāturakkhitā) nghĩa là có anh
(em) trai bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận
hành sự quản lý.
Hạng
được chị (em) gái bảo hộ (bhaginīrakkhitā) nghĩa là có
chị (em) gái bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo,
vận hành sự quản lý.
Hạng
được thân quyến bảo hộ (ñātirakkhitā) nghĩa là có thân
quyến bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành
sự quản lý.
Hạng
được dòng họ bảo hộ (gottarakkhitā) nghĩa là có dòng họ
bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự
quản lý.
Hạng
được luân lý bảo hộ (dhammarakkhitā) nghĩa là có các đồng
đạo bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành
sự quản lý.
Hạng
có sự gìn giữ (sārakkhā) nghĩa là được giữ lại ngay ở
trong phòng: “Cô ấy là của ta;” thậm chí còn được đặt
quanh bằng các bó hoa.[8]
Hạng
bị quy định hình phạt (saparidaṇḍā) nghĩa là có người
nào đó quy định hình phạt rằng: “Ai đến với người
đàn bà tên như vầy phải chịu phạt tới mức này.”
[433]
Hạng được mua bằng của cải (dhanakkītā) nghĩa là sau khi
mua bằng của cải, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung
(như là vợ).
Hạng
sống chung do sự tự nguyện (chandavāsinī) nghĩa là người
yêu giữ người yêu sống chung.
Hạng
sống chung vì tài vật (bhogavāsinī) nghĩa là sau khi biếu xén
tài vật, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là
vợ).
Hạng
sống chung vì y phục (paṭavāsinī) nghĩa là sau khi biếu xén
y phục, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[9]
Hạng
được cưới theo nghi thức (odapattakinī) nghĩa là nghĩa là
sau khi chạm vào bát nước, (người đàn ông) giữ (nàng) sống
chung (như là vợ).[10]
Hạng
có vật lót ở đầu được đặt xuống (obhatacumbaṭā) nghĩa
là sau khi lấy xuống tấm đệm lót ở đầu (để mang vác),
(người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[11]
Hạng
nữ tỳ (dāsī ca bhariyā ca) nghĩa là vừa là nữ tỳ vừa
là vợ.
Hạng
người làm công (kammakārī ca bhariyā ca) nghĩa là vừa là người
làm công vừa là vợ.[12]
Hạng
được đem lại dưới lá cờ (dhajāhaṭā) nghĩa là (nàng)
được đem lại như là tù binh.[13]
Hạng
chỉ trong chốt lát (muhuttikā) nghĩa là đề cập đến cuộc
tình chỉ trong chốc lát.
[434]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy
nói rằng: ‘Nghe nói cô hãy là người vợ (hạng) được
mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận
lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).
Người
đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy
đi đến người nữ được cha bảo hộ tên như vầy nói rằng:
...(như trên)... người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng
... người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng ... người
nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng ... người nữ
được thân quyến bảo hộ nói rằng ... người nữ được
dòng họ bảo hộ nói rằng ... người nữ được luân lý
bảo hộ nói rằng ... người nữ có sự gìn giữ nói rằng
... người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói
rằng: ‘Nghe nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng
của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông
báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng
tàng).
Các
phần tóm lược.
[435]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ
được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các
cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải
của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem
lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Người
đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy
đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được
mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ...(như trên)...
người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được anh (em)
trai bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người
nữ được chị (em) gái bảo hộ ... người nữ được mẹ
bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ ... người
nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo
hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được
luân lý bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người
nữ có sự gìn giữ ... người nữ được mẹ bảo hộ và
người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng:
‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được
mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận
lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).
Phần
phân tích theo sự xoay vòng.
[436]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ
được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói
các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của
cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo,
đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Người
đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy
đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được
anh (em) trai bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và
người nữ được chị (em) gái bảo hộ ... người nữ được
cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ ...
người nữ được cha bảo hộ và người nữ được dòng
họ bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và người
nữ được luân lý bảo hộ ... người nữ được cha bảo
hộ và người nữ có sự gìn giữ ... người nữ được cha
bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như
vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ
(hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’”
Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng).
Người
đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy
đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được
mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô
hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải
của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem
lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng.
[437]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được mẹ cha bảo hộ và người
nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người nữ được mẹ
cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ ...
người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được thân
quyến bảo hộ ... người nữ được mẹ cha bảo hộ và người
nữ được dòng họ bảo hộ ... người nữ được mẹ cha
bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ ... người
nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ
... người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ bị quy
định hình phạt ... người nữ được mẹ cha bảo hộ và
người nữ được mẹ bảo hộ ... người nữ được mẹ
cha bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như
vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ
(hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’”
Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ nhì.
[438]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người
nữ được chị (em) gái bảo hộ ... người nữ được anh
(em) trai bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ
... người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được
dòng họ bảo hộ ... người nữ được anh (em) trai bảo hộ
và người nữ được luân lý bảo hộ ... người nữ được
anh (em) trai bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ ... người
nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ bị quy định
hình phạt ... người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người
nữ được mẹ bảo hộ ... người nữ được anh (em) trai
bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ ... người nữ
được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo
hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những
người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên
như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo)
thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ ba.
[439]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người
nữ được thân quyến bảo hộ ... người nữ được chị
(em) gái bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ ...
người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được
luân lý bảo hộ ... người nữ được chị (em) gái bảo hộ
và người nữ có sự gìn giữ ... người nữ được chị
(em) gái bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt ...
người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được
mẹ bảo hộ ... người nữ được chị (em) gái bảo hộ và
người nữ được cha bảo hộ ... người nữ được chị
(em) gái bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ ...
người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được
anh (em) trai bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói
các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của
cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo,
đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ tư.
[440]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được thân quyến bảo hộ và người
nữ được dòng họ bảo hộ ... người nữ được thân quyến
bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ ... người
nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ có sự gìn
giữ ... người nữ được thân quyến bảo hộ và người
nữ bị quy định hình phạt ... người nữ được thân quyến
bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ ... người nữ
được thân quyến bảo hộ và người nữ được cha bảo
hộ ... người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ
được mẹ cha bảo hộ ... người nữ được thân quyến bảo
hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người nữ
được thân quyến bảo hộ và người nữ được chị (em)
gái bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô
hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải
của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem
lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ năm.
[441]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được dòng họ bảo hộ và người
nữ được luân lý bảo hộ ... người nữ được dòng họ
bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ ... người nữ được
dòng họ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt ...
người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được
mẹ bảo hộ ... người nữ được dòng họ bảo hộ và người
nữ được cha bảo hộ ... người nữ được dòng họ bảo
hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ ... người nữ được
dòng họ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ
... người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được
chị (em) gái bảo hộ ... người nữ được dòng họ bảo
hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ có tên như
vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ
(hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’”
Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ sáu.
[442]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ được luân lý bảo hộ và người
nữ có sự gìn giữ ... người nữ được luân lý bảo hộ
và người nữ bị quy định hình phạt ... người nữ được
luân lý bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ ... người
nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được cha bảo
hộ ... người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ
được mẹ cha bảo hộ ... người nữ được luân lý bảo
hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người nữ
được luân lý bảo hộ và người nữ được chị (em) gái
bảo hộ ... người nữ được luân lý bảo hộ và người
nữ được thân quyến bảo hộ ... người nữ được luân
lý bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ có tên
như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người
vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như
vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ bảy.
[443]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ có sự gìn giữ và người nữ bị
quy định hình phạt ... người nữ có sự gìn giữ và người
nữ được mẹ bảo hộ ... người nữ có sự gìn giữ và
người nữ được cha bảo hộ ... người nữ có sự gìn giữ
và người nữ được mẹ cha bảo hộ ... người nữ có sự
gìn giữ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người
nữ có sự gìn giữ và người nữ được chị (em) gái bảo
hộ ... người nữ có sự gìn giữ và người nữ được thân
quyến bảo hộ ... người nữ có sự gìn giữ và người nữ
được dòng họ bảo hộ ... người nữ có sự gìn giữ và
người nữ được luân lý bảo hộ có tên như vầy nói rằng:
‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được
mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận
lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng thứ tám.
[444]
Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài,
hãy đi đến người nữ bị quy