VII.
CHƯƠNG NISSAGGIYA (ƯNG XẢ)
Bạch
chư đại đức, ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả
đối trị) này
được
đưa ra đọc tụng.
PHẦN
Y - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[1]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī,
ở tháp thờ Gotamaka. Vào lúc bấy giờ, ba y đã được đức
Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục
Sư (nghĩ rằng): “Ba y đã được đức Thế Tôn cho phép”
nên đi vào làng với ba y nọ, mặc ở trong tu viện với ba
y khác, và đi xuống tắm với ba y khác nữa. Các tỳ khưu
ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích
sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ trội?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các
tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng:
-
Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi sử dụng y phụ trội,
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ,
không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép,
không nên làm! Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại
sử dụng y phụ trội vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào sử dụng
y phụ trội thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định
cho các tỳ khưu như thế.
[2]
Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội phát sanh đến đại đức
Ānanda. Đại đức Ānanda có ý định dâng y ấy đến đại
đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa.
Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Điều
học đã được đức Thế Tôn quy định là: ‘Không được
sử dụng y phụ trội’ và y phụ trội này đã được phát
sanh đến ta. Và ta có ý định dâng y này đến đại đức
Sāriputta mà đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa; vậy ta
nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?
- Bạch
Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.
Khi
ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép cất giữ [1] y phụ trội tối đa
mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Khi vấn đề y đã được dứt
điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết
hiệu lực, y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày.
Vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị
ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”[2]
[3]
Khi vấn đề y đã được dứt điểm: Y của vị tỳ khưu
đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị
hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về
y đã bị tan vỡ.
Khi
Kaṭhina đã hết hiệu lực: là đã hết hiệu lực do bất
cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề,[3] hoặc là đã hết
hiệu lực giữa chừng do hội chúng.[4]
Tối
đa mười ngày: là được cất giữ (hoặc sử dụng) nhiều
nhất là mười ngày.
Y phụ
trội nghĩa là chưa được chú nguyện để dùng riêng, chưa
được chú nguyện để dùng chung.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y[5] (có kích thước)
tối thiểu[6] cần phải chú nguyện để dùng chung.
Vượt
quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ: Khi mặt trời
mọc ngày thứ mười một thì phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần
được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến
cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
[4]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
các ngài, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực, và y đã xả bỏ
nên được cho lại. Và này các tỳ khưu, nên cho lại như
vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có
kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Y này thuộc về
vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã
được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích
hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại y này đến vị
tỳ khưu tên (như vầy).”
[5]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
các ngài, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực, và y đã xả bỏ
nên được cho lại. Và này các tỳ khưu, nên cho lại như
vầy: Các tỳ khưu ấy cần được thông báo bởi vị tỳ
khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Xin
chư đại đức hãy lắng nghe tôi. Y này thuộc về vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được
xả bỏ đến chư đại đức. Nếu là thời điểm thích hợp
cho chư đại đức, chư đại đức nên cho lại y này đến
vị tỳ khưu tên (như vầy).”
[6]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng
y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như
vầy:
- Bạch
đại đức, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến đại đức.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu ấy và y đã xả bỏ nên được cho lại: “Tôi
cho lại đại đức y này.”
[7]
Khi quá hạn mười ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Khi
quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã
được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã
được chú nguyện để dùng chung, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát,
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm,
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Khi
không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Y phạm
vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Khi
chưa quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm
tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn mười ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì
vô tội.
[8]
Trong thời hạn mười ngày, vị chú nguyện để dùng riêng,
vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất
trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (người khác) cướp rồi
lấy đi, (vị khác) lấy do sự thân thiết, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
[9]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại
y đã được xả bỏ. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại y đã được xả
bỏ?
Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức
Thế Tôn đã hỏi các tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng:
-
Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi không cho lại y đã được
xả bỏ, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ...(như trên)... đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
-
Này các tỳ khưu, không nên không cho lại y đã được xả
bỏ; vị nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[10]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi
(Xá Vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tu viện của ông Anāthapiṇḍika
(Cấp Cô Độc). Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi
đã trao y tận tay các tỳ khưu rồi ra đi du hành trong xứ
sở với y nội và thượng y (y vai trái).[7] Các y ấy được
để lại lâu ngày đã trở nên mốc meo. Các tỳ khưu đem
phơi nắng các y ấy. Đại đức Ānanda trong lúc đi dạo quanh
các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các tỳ khưu ấy đang phơi
nắng các y ấy, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp các vị
tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy
điều này:
- Này
các đại đức, các y bị mốc meo này là của vị nào vậy?
Khi
ấy, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại
đức Ānanda. Đại đức Ānanda phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu sau khi trao y tận tay các tỳ khưu lại ra đi
du hành trong xứ sở với y nội và thượng y?
Sau
đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi các vị tỳ khưu ấy
rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi trao y tận tay các
tỳ khưu rồi ra đi du hành trong xứ sở với y nội và thượng
y, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy, sau khi trao y tận
tay các tỳ khưu, lại ra đi du hành trong xứ sở với y nội
và thượng y vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối
với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực,
nếu vị tỳ khưu xa lìa ba y dầu chỉ một đêm thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).” Và điều học
này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như
thế.
[11]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở thành Kosambī bị
bệnh. Các thân quyến đã phái người đưa tin đến gặp vị
tỳ khưu ấy (nói rằng): “Ngài đại đức hãy đi đến.
Chúng tôi sẽ hộ độ.” Các tỳ khưu cũng đã nói như vầy:
- Này
đại đức, hãy đi. Các thân quyến sẽ hộ độ đại đức.
Vị
ấy đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, điều học đã được đức Thế Tôn quy định
rằng: “Không được xa lìa ba y;” và tôi thì bị bệnh nên
không thể mang theo ba y mà ra đi được. Tôi sẽ không đi.
Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức
Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về việc không
vi phạm tội vì xa lìa ba y đối với tỳ khưu bị bệnh. Và
này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh
ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai,
đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm
hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
các ngài, tôi bị bệnh không thể mang theo ba y mà ra đi được.
Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý
về việc không vi phạm tội vì xa lìa ba y.
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo ba y mà ra đi được.
Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về việc không
vi phạm tội vì xa lìa ba y. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về việc
không vi phạm tội vì xa lìa ba y đến vị tỳ khưu tên (như
vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo ba y mà ra đi được.
Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về việc không
vi phạm tội vì xa lìa ba y. Hội chúng ban cho sự đồng ý
về việc không vi phạm tội vì xa lìa ba y đến vị tỳ khưu
tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng
ý về việc không vi phạm tội vì xa lìa ba y đến vị tỳ
khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có
thể nói lên.
Sự
đồng ý về việc không vi phạm tội vì xa lìa ba y đã được
hội chúng ban cho vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được
hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc
này là như vậy.”
Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với
vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, nếu
vị tỳ khưu xa lìa ba y dầu chỉ một đêm thì (y ấy) nên
được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị), ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.”
[12]
Khi vấn đề y đã được dứt điểm: Y của vị tỳ khưu
đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị
hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về
y đã bị tan vỡ.
Khi
Kaṭhina đã hết hiệu lực: là đã hết hiệu lực do bất
cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề, hoặc là đã hết hiệu
lực giữa chừng do hội chúng.
Nếu
vị tỳ khưu xa lìa ba y dầu chỉ một đêm: Nếu đã xa lìa
hoặc là y hai lớp (saṅghāṭi), hoặc là thượng y (uttarāsaṅga),
hoặc là y nội (antaravāsaka) dầu chỉ một đêm.
Ngoại
trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu: Trừ ra có sự đồng
ý của các tỳ khưu.
Thì
(y ấy) nên được xả bỏ (nissaggiyaṃ): Khi mặt trời mọc
thì phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội
chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ
khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi
đến nơi hội chúng, ...(như trên)... và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, y này của tôi đã xa lìa qua đêm giờ cần
được xả bỏ, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.
Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội
chúng nên cho lại ...(như trên)... chư đại đức nên cho lại
...(như trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[13]
Làng một địa hạt, nhiều địa hạt; gia trang một địa
hạt, nhiều địa hạt; trang trại một địa hạt, nhiều địa
hạt; nhà mái nhọn một địa hạt, nhiều địa hạt; tòa
nhà vuông một địa hạt, nhiều địa hạt; tòa nhà dài một
địa hạt, nhiều địa hạt; khu nhà lớn một địa hạt,
nhiều địa hạt; chiếc thuyền một địa hạt, nhiều địa
hạt; đoàn xe một địa hạt, nhiều địa hạt; cánh đồng
một địa hạt, nhiều địa hạt; ruộng lúa một địa hạt,
nhiều địa hạt; khu vườn một địa hạt, nhiều địa hạt;
trú xá một địa hạt, nhiều địa hạt; gốc cây một địa
hạt, nhiều địa hạt; khoảng không gian một địa hạt, nhiều
địa hạt.
[14]
Làng một địa hạt nghĩa là làng thuộc về một gia đình.
(Nếu) được rào lại, sau khi đã để y ở trong làng thì
nên hiện diện trong làng. (Nếu) không được rào lại, y đã
được để ở tại nhà nào thì nên hiện diện tại nhà đó,
hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.[8]
Nhiều
địa hạt nghĩa là thuộc về nhiều gia đình. (Nếu) được
rào lại, y đã được để ở tại nhà nào thì nên hiện
diện tại nhà đó: ở trong phòng hội họp hoặc ở nơi ngưỡng
cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. Khi đi đến phòng
hội họp, sau khi đã để y ở trong tầm tay thì nên hiện
diện ở trong phòng hội họp hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc
là không nên rời khỏi tầm tay. Sau khi đã để y ở trong
phòng hội họp, nên hiện diện ở trong phòng hội họp hoặc
ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
(Nếu) không được rào lại, y đã được để ở tại nhà
nào thì nên hiện diện tại nhà đó, hoặc là không nên rời
khỏi tầm tay.
[15]
Gia trang (nivesanaṃ) thuộc về một gia đình là được rào
lại và có nhiều căn phòng (gabbhā), nhiều hậu phòng (ovarakā).
Sau khi đã để y ở trong gia trang thì nên hiện diện trong
gia trang. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở
trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó,
hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
Gia
trang thuộc về nhiều gia đình là được rào lại và có nhiều
căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn
phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở
nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu)
không được rào lại, y đã được để ở trong căn phòng
nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc là không
nên rời khỏi tầm tay.
[16]
Trang trại (uddosito) thuộc về một gia đình là được rào
lại và có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Sau khi đã để
y ở trong trang trại thì nên hiện diện trong trang trại. (Nếu)
không được rào lại, y đã được để ở trong căn phòng
nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc là không
nên rời khỏi tầm tay.
Trang
trại thuộc về nhiều gia đình là được rào lại và có
nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong
căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc
ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
(Nếu) không được rào lại, y đã được để ở trong căn
phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc
là không nên rời khỏi tầm tay.
[17]
Nhà mái nhọn (aṭṭo) thuộc về một gia đình: Sau khi đã
để y ở trong nhà mái nhọn thì nên hiện diện trong nhà mái
nhọn.
Nhà
mái nhọn thuộc về nhiều gia đình là có nhiều căn phòng,
nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào
thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng
cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
[18]
Tòa nhà vuông (mālo) thuộc về một gia đình: Sau khi đã để
y ở trong tòa nhà vuông thì nên hiện diện trong tòa nhà vuông.
Tòa
nhà vuông thuộc về nhiều gia đình là có nhiều căn phòng,
nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào
thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng
cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
[19]
Tòa nhà dài (pāsādo) thuộc về một gia đình: Sau khi đã để
y ở trong tòa nhà dài thì nên hiện diện trong tòa nhà dài
.
Tòa
nhà dài thuộc về nhiều gia đình là có nhiều căn phòng,
nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào
thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng
cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
[20]
Khu nhà lớn (hammiyaṃ) thuộc về một gia đình: Sau khi đã
để y ở trong khu nhà lớn thì nên hiện diện trong khu nhà
lớn.
Khu
nhà lớn thuộc về nhiều gia đình là có nhiều căn phòng,
nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào
thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng
cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
[21]
Chiếc thuyền (nāvā) thuộc về một gia đình: Sau khi đã để
y ở trong chiếc thuyền thì nên hiện diện trong chiếc thuyền.
Chiếc
thuyền thuộc về nhiều gia đình là có nhiều căn phòng, nhiều
hậu phòng. Y đã được để ở trong hậu phòng nào thì nên
hiện diện trong hậu phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa,
hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
[22]
Đoàn xe (sattho) thuộc về một gia đình: Sau khi đã để y
ở trong đoàn xe thì không nên rời xa phía trước hoặc phía
sau quá bảy abbhantara,[9] không nên xa rời phía bên hông quá
một abbhantara.
Đoàn
xe thuộc về nhiều gia đình: Sau khi đã để y ở trong đoàn
xe thì không nên rời xa khỏi tầm tay.
[23]
Cánh đồng (khettaṃ) thuộc về một gia đình: (Nếu) được
rào lại, sau khi đã để y ở bên trong cánh đồng thì nên
hiện diện bên trong cánh đồng. (Nếu) không được rào lại
thì không nên rời khỏi tầm tay.
Cánh
đồng thuộc về nhiều gia đình: (Nếu) được rào lại, sau
khi đã để y ở bên trong cánh đồng thì nên hiện diện bên
trong cánh đồng hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không
nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại thì không
nên rời khỏi tầm tay.
[24]
Ruộng lúa (dhaññakaraṇaṃ) thuộc về một gia đình: (Nếu)
được rào lại, sau khi đã để y bên trong ruộng lúa thì
nên hiện diện bên trong ruộng lúa. (Nếu) không được rào
lại thì không nên rời khỏi tầm tay.
Ruộng
lúa thuộc về nhiều gia đình: (Nếu) được rào lại, sau
khi đã để y ở bên trong ruộng lúa thì nên hiện diện ở
nơi ngưỡng cửa hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu)
không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay.
[25]
Khu vườn (ārāmo) thuộc về một gia đình: (Nếu) được rào
lại và sau khi đã để y ở bên trong khu vườn thì nên hiện
diện ở bên trong khu vườn. (Nếu) không được rào lại thì
không nên rời khỏi tầm tay.
Khu
vườn thuộc về nhiều gia đình: (Nếu) được rào lại, sau
khi đã để y ở bên trong khu vườn thì nên hiện diện ở
nơi ngưỡng cửa hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu)
không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay.
[26]
Trú xá (vihāro) thuộc về một gia đình: (Nếu) được rào
lại, sau khi đã để y ở bên trong trú xá thì nên hiện diện
bên trong trú xá. (Nếu) không được rào lại, y đã được
để ở tại trú xá nào thì nên hiện diện tại trú xá ấy,
hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.
Trú
xá thuộc về nhiều gia đình: (Nếu) được rào lại, y đã
được để ở tại trú xá nào thì nên hiện diện tại trú
xá ấy hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời
khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại, y đã được để
ở tại trú xá nào thì nên hiện diện tại trú xá ấy hoặc
là không nên rời khỏi tầm tay.
[27]
Gốc cây thuộc về một gia đình là toàn bộ bóng râm được
chiếu xuống vào lúc nửa ngày (giữa trưa). Sau khi đã để
y ở bên trong bóng râm thì nên hiện diện bên trong bóng râm.
Gốc
cây thuộc về nhiều gia đình thì không nên rời khỏi tầm
tay.
[28]
Khoảng không gian một địa hạt, nhiều địa hạt nghĩa là
không ở trong thôn làng, ở trong rừng, khoảng không gian xung
quanh bảy abbhantara là một địa hạt,[10] từ đó trở đi
là nhiều địa hạt.
[29]
Khi đã xa lìa, nhận biết là đã xa lìa, phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị) ngoại trừ có sự đồng ý của
các tỳ khưu.
Khi
đã xa lìa, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya ngoại
trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.
Khi
đã xa lìa, (lầm) tưởng là chưa xa lìa, phạm tội nissaggiya
pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.
Khi
chưa nguyện xả, (lầm) tưởng là đã nguyện xả, phạm tội
nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ
khưu.
Khi
chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã phân phát, phạm
tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của các
tỳ khưu.
Khi
không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm,
phạm tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của
các tỳ khưu.
Khi
không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm
tội nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của các
tỳ khưu.
Khi
không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, phạm tội nissaggiya
pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.
Khi
không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội
nissaggiya pācittiya ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ
khưu.
[30]
Y phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa bị xa lìa, (lầm) tưởng là đã bị xa lìa, phạm tội
dukkaṭa.
Khi
chưa bị xa lìa, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa bị xa lìa, nhận biết là chưa bị xa lìa thì vô tội.
[31]
Vị nguyện xả vào thời điểm rạng đông, vị phân phát,
(y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (người khác)
cướp rồi lấy đi, (vị khác) lấy do sự thân thiết, với
sự đồng ý của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[32]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
y ngoài hạn kỳ đã phát sanh đến vị tỳ khưu nọ. Y ấy
trong khi được may cho vị ấy thì không đủ. Khi ấy, vị
tỳ khưu ấy căng y ấy ra rồi vuốt tới vuốt lui cho thẳng.
Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy
vị tỳ khưu ấy sau khi căng y ấy ra đang vuốt tới vuốt
lui cho thẳng, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp vị tỳ khưu
ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này
tỳ khưu, vì sao ngươi lại căng y ấy ra rồi vuốt tới vuốt
lui cho thẳng vậy?
- Bạch
ngài, y ngoài thời hạn này đã phát sanh đến con, trong khi
được may lại không đủ. Chính vì thế nên con căng y này
ra rồi vuốt tới vuốt lui cho thẳng.
- Này
tỳ khưu, ngươi có sự mong mỏi về y không?
- Bạch
Thế Tôn, thưa có.
Khi
ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ thì
được giữ lại với sự mong mỏi về y.
[33]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế
Tôn đã cho phép sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ thì được
giữ lại với sự mong mỏi về y” nên khi thọ lãnh y ngoài
hạn kỳ thì giữ lại hơn một tháng. Các y ấy được buộc
thành đống treo ở sào máng y. Đại đức Ānanda trong khi đi
dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy các y ấy được buộc
thành đống treo ở sào máng y, sau khi nhìn thấy đã nói với
các tỳ khưu rằng:
- Này
các đại đức, các y đã được chất thành đống treo ở
sào máng y là của vị nào vậy?
- Này
đại đức, chúng là các y ngoài hạn kỳ của chúng tôi đã
được giữ lại với sự mong mỏi về y.
-
Này các đại đức, vậy các y này đã được giữ lại bao
lâu rồi?
- Này
đại đức, hơn một tháng.
Đại
đức Ānanda phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ rồi giữ
lại hơn một tháng?
Sau
đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ
khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi thọ lãnh y ngoài
hạn kỳ rồi giữ lại hơn một tháng, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy sau khi thọ lãnh
y ngoài hạn kỳ rồi giữ lại hơn một tháng vậy? Này các
tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi vấn đề
y đã được dứt điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi
Kaṭhina đã hết hiệu lực, lại có y ngoài hạn kỳ phát
sanh đến vị tỳ khưu, vị tỳ khưu đang mong muốn thì nên
thọ lãnh. Sau khi thọ lãnh nên bảo thực hiện ngay lập tức,
và nếu không đủ thì vị tỳ khưu ấy nên giữ lại y ấy
tối đa một tháng khi có sự mong mỏi làm cho đủ phần thiếu
hụt; nếu giữ lại quá hạn ấy mặc dầu có sự mong mỏi,
(y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[34]
Khi vấn đề y đã được dứt điểm: Y của vị tỳ khưu
đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị
hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về
y đã bị tan vỡ.
Khi
Kaṭhina đã hết hiệu lực: là đã hết hiệu lực do bất
cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề, hoặc là đã hết hiệu
lực giữa chừng do hội chúng.
Y ngoài
hạn kỳ nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu thì được
phát sanh trong mười một tháng, khi Kaṭhina được thành tựu
thì được phát sanh trong bảy tháng; (y) được dâng xác định
trong thời gian trên thì (y) ấy gọi là y ngoài hạn kỳ.
Phát
sanh: là phát sanh từ hội chúng, hoặc từ nhóm, hoặc từ
thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc từ vải quăng bỏ (paṃsukūla),[11]
hoặc từ vật sở hữu của bản thân.[12]
[35]
Đang mong muốn: vị đang ước muốn thì nên thọ lãnh.
Sau
khi thọ lãnh nên bảo thực hiện ngay lập tức: nên bảo thực
hiện trong mười ngày.
[36]
Nếu không đủ: trong khi được may thì không đủ (không hình
thành lá y).
Vị
tỳ khưu ấy nên giữ lại y ấy tối đa một tháng: nên giữ
lại nhiều nhất là một tháng.
Làm
cho đủ phần thiếu hụt: với mục đích làm cho đủ phần
thiếu hụt.
Khi
có sự mong mỏi: là sự mong mỏi (y) từ hội chúng, hoặc
từ nhóm, hoặc từ thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc từ
vải quăng bỏ, hoặc từ vật sở hữu của bản thân.
[37]
Nếu giữ lại quá hạn ấy mặc dầu có sự mong mỏi: Khi
y căn bản được phát sanh ngày ấy (và) y mong mỏi được
phát sanh (cùng ngày) thì nên bảo thực hiện trong mười ngày.
Khi y căn bản được phát sanh hai ngày ... Khi y căn bản được
phát sanh ba ngày ... Khi y căn bản được phát sanh bốn ngày
... Khi y căn bản được phát sanh năm ngày ... Khi y căn bản
được phát sanh sáu ngày ... Khi y căn bản được phát sanh
bảy ngày ... Khi y căn bản được phát sanh tám ngày ... Khi
y căn bản được phát sanh chín ngày ... Khi y căn bản được
phát sanh mười ngày rồi y mong mỏi được phát sanh thì nên
bảo thực hiện trong mười ngày.
Khi
y căn bản được phát sanh mười một ngày ... Khi y căn bản
được phát sanh mười hai ngày ... Khi y căn bản được phát
sanh mười ba ngày ... Khi y căn bản được phát sanh mười
bốn ngày ... Khi y căn bản được phát sanh mười lăm ngày
... Khi y căn bản được phát sanh mười sáu ngày ... Khi y căn
bản được phát sanh mười bảy ngày ... Khi y căn bản được
phát sanh mười tám ngày ... Khi y căn bản được phát sanh
mười chín ngày ... Khi y căn bản được phát sanh hai mươi
ngày rồi y mong mỏi được phát sanh thì nên bảo thực hiện
trong mười ngày.
Khi
y căn bản được phát sanh hai mươi mốt ngày rồi y mong mỏi
được phát sanh thì nên bảo thực hiện trong chín ngày. Khi
y căn bản được phát sanh hai mươi hai ngày rồi y mong mỏi
được phát sanh thì nên bảo thực hiện trong tám ngày. Khi
y căn bản được phát sanh hai mươi ba ngày ... thì nên bảo
thực hiện trong bảy ngày. Khi y căn bản được phát sanh hai
mươi bốn ngày ... thì nên bảo thực hiện trong sáu ngày.
Khi y căn bản được phát sanh hai mươi lăm ngày ... thì nên
bảo thực hiện trong năm ngày. Khi y căn bản được phát sanh
hai mươi sáu ngày ... thì nên bảo thực hiện trong bốn ngày.
Khi y căn bản được phát sanh hai mươi bảy ngày ... thì nên
bảo thực hiện trong ba ngày. Khi y căn bản được phát sanh
hai mươi tám ngày ... thì nên bảo thực hiện trong hai ngày.
Khi y căn bản được phát sanh hai mươi chín ngày ... thì nên
bảo thực hiện trong một ngày. Khi y căn bản được phát
sanh ba mươi ngày rồi y mong mỏi được phát sanh vào chính
ngày ấy thì (y căn bản) nên được chú nguyện để dùng
riêng, nên được chú nguyện để dùng chung, nên được phân
phát. Nếu vị không chú nguyện để dùng riêng, hoặc không
chú nguyện để dùng chung, hoặc không phân phát, khi mặt trời
mọc vào ngày thứ ba mươi mốt thì (y căn bản) phạm vào
nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến
nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được
xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài, y ngoài
hạn kỳ này của tôi đã quá hạn một tháng cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.” ...(như trên)...
hội chúng nên cho lại ...(như trên)... chư đại đức nên
cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[38]
Khi y căn bản được phát sanh là khác phẩm chất rồi y mong
mỏi được phát sanh và còn lại nhiều đêm, không nên bảo
thực hiện trái với ước muốn.[13]
[39]
Khi quá hạn một tháng, nhận biết là đã quá hạn, phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
quá hạn một tháng, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
quá hạn một tháng, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã
được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã
được chú nguyện để dùng chung, ... Khi chưa được phân
phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát, ... Khi không bị
mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, ... Khi không
bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, ... Khi không
bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, ... Khi không bị cướp,
(lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị).
[40]
Y phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa quá hạn một tháng, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm
tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn một tháng, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn một tháng, nhận biết là chưa quá hạn thì
vô tội.
[41]
Trong thời hạn một tháng, vị chú nguyện để dùng riêng,
vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất
trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (người khác) cướp rồi
lấy đi, (vị khác) lấy do sự thân thiết, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[42]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
người vợ cũ của đại đức Udāyi đã xuất gia nơi các
tỳ khưu ni. Tỳ khưu ni ấy thường xuyên đi đến gặp đại
đức Udāyi. Đại đức Udāyi cũng thường xuyên đi đến gặp
tỳ khưu ni ấy.
Vào
lúc bấy giờ, đại đức Udāyi nhận phần phân phối vật
thực ở nơi có sự hiện diện của tỳ khưu ni ấy. Khi ấy
vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, rồi
đi đến gặp tỳ khưu ni ấy, sau khi đến đã để lộ ra
vật kín phía trước tỳ khưu ni ấy rồi đã ngồi xuống
chỗ ngồi. Tỳ khưu ni ấy cũng đã để lộ ra vật kín phía
trước đại đức Udāyi rồi đã ngồi xuống chỗ ngồi. Khi
ấy, đại đức Udāyi bị khởi dục nên đã suy tưởng đến
vật kín của tỳ khưu ni ấy. Tinh dịch đã xuất ra từ vật
kín của vị ấy. Khi ấy, đại đức Udāyi đã nói với tỳ
khưu ni ấy điều này:
- Này
sư tỷ, hãy đi và đem lại nước. Tôi sẽ giặt y nội.
- Thưa
ngài, hãy trao lại. Chính tôi sẽ giặt.
Khi
ấy, tỳ khưu ni ấy đã dùng miệng nuốt vào một phần tinh
dịch ấy của vị ấy còn một phần đã đưa vào vật kín.
Do việc ấy, cô ấy đã mang thai. Các tỳ khưu ni đã nói như
vầy:
- Tỳ
khưu ni này không có Phạm hạnh. Cô này có thai.
- Này
các ni sư, tôi không phải là không có Phạm hạnh.
Khi
ấy, tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ
khưu ni. Các tỳ khưu ni phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ngài đại đức Udāyi lại bảo tỳ khưu ni giặt y dơ?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại bảo tỳ khưu ni giặt y dơ?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn ...(như trên)... đã hỏi đại
đức Udāyi rằng:
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi bảo tỳ khưu ni giặt y dơ, có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
- Này
Udāyi, là nữ thân quyến của ngươi hay không phải là nữ
thân quyến?
- Bạch
Thế Tôn, không phải là nữ thân quyến.
- Này
kẻ rồ dại, người nam không phải là thân quyến không biết
điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì làm hài
lòng hay không làm hài lòng người nữ không phải là thân
quyến. Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi lại
bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt y dơ vậy?
Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của
những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến
giặt, hoặc bảo nhuộm, hoặc bảo đập giũ y dơ thì (y ấy)
nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).”
[43]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
(Người
nữ) Không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có
sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ
dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.
Tỳ
khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở
cả hai hội chúng.
Y dơ
nghĩa là đã được mặc một lần, đã được khoác lên một
lần.
Bảo
giặt: vị chỉ thị rằng: “Hãy giặt” thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). (Y) đã được giặt thì phạm vào nissaggiya.
Bảo
nhuộm: vị chỉ thị rằng: “Hãy nhuộm” thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). (Y) đã được nhuộm thì phạm vào nissaggiya.
Bảo
đập giũ: vị chỉ thị rằng: “Hãy đập giũ” thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Khi (Y) đã được vỗ vào một lần
bằng bàn tay hoặc bằng cây gỗ thì phạm vào nissaggiya, (y
ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm,
hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ
như vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài, y cũ này của tôi
đã được bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt,
giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.”
...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)... chư
đại đức nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại đại
đức.”
[44]
Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân
quyến, vị bảo giặt y cũ thì phạm tội nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo giặt, bảo nhuộm y cũ thì phạm tội nissaggiya pācittiya
và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo giặt, bảo đập giũ y cũ thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo giặt, bảo nhuộm, bảo đập giũ y cũ thì phạm tội
nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm y cũ thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng
xả đối trị).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm, bảo đập giũ y cũ thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm, bảo giặt y cũ thì phạm tội nissaggiya pācittiya
và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm, bảo đập giũ, bảo giặt y cũ thì phạm tội
nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo đập giũ y cũ thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng
xả đối trị).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo đập giũ, bảo giặt y cũ thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo đập giũ, bảo nhuộm y cũ thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo đập giũ, bảo giặt, bảo nhuộm y cũ thì phạm tội
nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ...(như trên)...
Không
phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, ...(như
trên)...
Vị
bảo giặt y cũ của vị khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
bảo giặt tấm lót ngồi (tọa cụ), tấm trải nằm (ngọa
cụ) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
bảo cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng giặt thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.
[45]
Khi vị (tỳ khưu ni) là thân quyến đang giặt có vị (tỳ
khưu ni) thứ nhì không phải là thân quyến (phụ giúp), vị
(tỳ khưu ni) giặt khi chưa được nói, vị bảo giặt (y) chưa
được sử dụng, bị bảo giặt vật dụng khác ngoại trừ
y, (vị bảo) cô ni tu tập sự, (vị bảo) sa di ni, vị bị
điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NĂM:
[46]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha
(Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā trú ngụ tại
thành Sāvatthi. Khi ấy vào buổi sáng, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā
đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Sāvatthi để khất
thực. Sau khi đã đi khất thực trong thành Sāvatthi, trong lúc
đi khất thực trở về sau bữa ăn, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā
đã đi đến khu rừng Andha để nghỉ trưa. Sau khi đi sâu vào
trong khu rừng Andha, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã ngồi nghỉ
trưa ở gốc cây nọ.
Vào
lúc bấy giờ, bọn trộm cướp khi hành sự được hoàn tất
đã giết chết con bò cái, lấy phần thịt, rồi đi vào khu
rừng Andha. Thủ lãnh bọn cướp đã nhìn thấy tỳ khưu ni
Uppalavaṇṇā đang ngồi nghỉ trưa ở tại gốc cây nọ, sau
khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Nếu lũ con trai và
đàn em của ta nhìn thấy, chúng sẽ quấy rầy vị tỳ khưu
ni này” nên đã rẽ sang lối khác. Sau đó, vị thủ lãnh
bọn cướp ấy đã lấy các miếng thịt ngon nhất trong phần
thịt đã được nấu chín, dùng lá buộc thành gói, rồi treo
lên ở thân cây không xa tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā nói rằng:
“Sa-môn hoặc bà-la-môn nào nhìn thấy thì hãy lấy vật thí
này” rồi đã bỏ đi. Khi thủ lãnh bọn cướp ấy đang nói
lời nói này, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã xuất khỏi thiền
định và nghe được. Sau đó, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã
cầm lấy phần thịt ấy và đi về ni viện. Sau đó, khi trải
qua đêm ấy tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã sửa soạn phần
thịt ấy, dùng thượng y buộc lại thành gói, rồi đã bay
lên không trung và hiện ra ở Veḷuvana.
[47]
Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã đi vào làng để khất
thực. Đại đức Udāyi là vị ở lại canh giữ trú xá. Khi
ấy, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã đi đến gặp đại đức
Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, đức Thế Tôn ở đâu?
- Này
sư tỷ, đức Thế Tôn đã đi vào làng để khất thực.
- Thưa
ngài, xin hãy dâng phần thịt này đến đức Thế Tôn.
- Này
sư tỷ, đức Thế Tôn được hài lòng với phần thịt của
cô, nếu cô có thể biếu tôi cái y nội như thế tôi cũng
có thể được hài lòng với cái y nội.
- Thưa
ngài, quả thật chúng tôi thân phận là người nữ có lợi
lộc khó khăn. Và đây là cái y thứ năm cuối cùng[14] của
tôi; tôi sẽ không cho.
- Này
sư tỷ, cũng giống như người đã cho con voi thì nên biếu
luôn các sợi dây nài; này sư tỷ, tương tợ như thế cô
đã dâng đức Thế Tôn phần thịt thì hãy biếu tôi cái y
nội.
Khi
ấy, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā trong khi bị nài ép bởi đại
đức Udāyi nên đã cho cái y nội rồi đi về ni viện. Các
tỳ khưu ni trong lúc tiếp rước y bát của tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā
đã nói với tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā điều này:
- Thưa
ni sư, y nội của cô đâu rồi?
Tỳ
khưu ni Uppalavaṇṇā đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ
khưu ni. Các tỳ khưu ni phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ngài đại đức Udāyi lại nhận lãnh y từ tay tỳ khưu
ni? Là người nữ có lợi lộc thật khó khăn!
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại nhận lãnh y từ tay tỳ khưu ni?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi nhận lãnh y từ tay tỳ khưu ni, có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
- Này
Udāyi, là nữ thân quyến của ngươi hay không phải là nữ
thân quyến?
- Bạch
Thế Tôn, không phải là nữ thân quyến.
- Này
kẻ rồ dại, người nam không phải là thân quyến không biết
điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì làm hài
lòng hay không làm hài lòng người nữ không phải là thân
quyến. Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi lại
nhận lãnh y từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến?
Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của
những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào nhận lãnh y từ tay tỳ khưu ni không phải
là thân quyến thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy)
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này
đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[48]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không
nhận lãnh y trao đổi của các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các ngài đại đức lại không nhận lãnh y trao đổi của
chúng tôi?
Các
tỳ khưu đã nghe được các tỳ khưu ni ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy
nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ
khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép nhận lãnh vật trao đổi của năm
hạng là tỳ khưu, tỳ khưu ni, vị ni tu tập sự, sa di, sa
di ni. Này các tỳ khưu, ta cho phép nhận lãnh vật trao đổi
của năm hạng này. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào nhận lãnh
y từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến thì (y ấy)
nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ sự trao đổi.”
[49]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
(Người
nữ) Không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có
sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ
dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.
Tỳ
khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở
cả hai hội chúng.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước)
tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.
Ngoại
trừ sự trao đổi: trừ ra sự trao đổi.
Vị
nhận lãnh, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần
được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến
cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
...(như trên)... “Bạch các ngài, y này của tôi đã được
nhận lãnh từ tay của tỳ khưu ni không phải là thân quyến,
ngoại trừ sự trao đổi, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả
bỏ y này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên
cho lại ...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như
trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[44]
Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân
quyến, vị nhận lãnh y từ tay thì phạm tội nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị), ngoại trừ sự trao đổi.
Không
phải là thân quyến, có sự hoài nghi, vị nhận lãnh y từ
tay thì phạm tội nissaggiya pācittiya, ngoại trừ sự trao đổi.
Không
phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, vị nhận
lãnh y từ tay thì phạm tội nissaggiya pācittiya, ngoại trừ
sự trao đổi.
[51]
Vị nhận lãnh y từ tay của cô ni tu lên bậc trên ở một
hội chúng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác), ngoại trừ sự
trao đổi.
Là
thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.
[52]
Của vị (tỳ khưu ni) là thân quyến, sự trao đổi vật lớn
bằng vật nhỏ hoặc là vật nhỏ bằng vật lớn, vị tỳ
khưu lấy do sự thân thiết, lấy trong chốc lát, lấy vật
phụ tùng khác ngoại trừ y, của cô ni tu tập sự, của sa
di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ SÁU:
[53]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya (Thích Ca) là rành rẽ
về thuyết Pháp thoại. Vào lúc bấy giờ, có người con trai
nhà đại phú nọ đã đi đến gặp đại đức Upananda con
trai dòng Sākya, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Upananda
con trai dòng Sākya rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức
Upananda con trai dòng Sākya đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến
khích, và tạo niềm phấn khởi cho người con trai nhà đại
phú ấy đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó,
khi đã được đại đức Upananda con trai dòng Sākya chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài
Pháp thoại, người con con trai nhà đại phú ấy đã nói với
đại đức Upananda con trai dòng Sākya điều này:
- Thưa
ngài, xin ngài nói ra nhu cầu mà chúng tôi có khả năng để
dâng đến ngài đại đức tức là vật dụng như y phục,
vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
- Này
đạo hữu, nếu đạo hữu có ý định bố thí thì hãy dâng
một trong hai[15] tấm vải này.
- Thưa
ngài, quả thật là kỳ cục cho những người con trai gia đình
danh giá chúng tôi lại đi chỉ mặc một tấm vải! Thưa ngài,
xin hãy chờ đến khi tôi đi về nhà, khi đã về nhà rồi
tôi sẽ gởi đến hoặc là một trong hai tấm vải này, hoặc
là đẹp hơn hai tấm này.
Đến
lần thứ nhì, đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã nói
với người con trai nhà đại phú ấy điều này:
- Này
đạo hữu, nếu đạo hữu có ý định bố thí thì hãy dâng
một trong hai tấm vải này.
- Thưa
ngài, quả thật là kỳ cục cho những người con trai gia đình
danh giá chúng tôi lại đi chỉ mặc một tấm vải! Thưa ngài,
xin hãy chờ đến khi tôi đi về nhà, khi đã về nhà rồi
tôi sẽ gởi đến hoặc là một trong hai tấm vải này, hoặc
là đẹp hơn hai tấm này.
Đến
lần thứ ba, đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã nói
với người con trai nhà đại phú ấy điều này:
- Này
đạo hữu, nếu đạo hữu có ý định bố thí thì hãy dâng
một trong hai tấm vải này.
- Thưa
ngài, quả thật là kỳ cục cho những người con trai gia đình
danh giá chúng tôi lại đi chỉ mặc một tấm vải! Thưa ngài,
xin hãy chờ đến khi tôi đi về nhà, khi đã về nhà rồi
tôi sẽ gởi đến hoặc là một trong hai tấm vải này, hoặc
là đẹp hơn hai tấm này.
- Này
đạo hữu, đạo hữu không chịu bố thí khi được yêu cầu,
việc gì khiến đạo hữu không có ý định bố thí lại nói
lời thỉnh cầu vậy?
Khi
ấy, người con trai nhà đại phú ấy trong lúc bị nài ép
bởi đại đức Upananda con trai dòng Sākya nên đã cho một
tấm vải rồi đi. Dân chúng sau khi nhìn thấy người con trai
nhà đại phú ấy đã nói điều này:
- Này
công tử, sao ngài lại đi đến chỉ mặc một tấm vải?
Khi
ấy, người con trai nhà đại phú ấy đã kể lại sự việc
ấy cho những người ấy. Những người ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Các
sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết
đủ. Không dễ gì mà thực hiện sự thỉnh cầu đúng pháp
đối với những người này! Tại sao trong lúc được người
con trai nhà đại phú thực hiện sự thỉnh cầu đúng pháp,
các vị ấy lại lấy đi tấm vải choàng?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya lại yêu cầu người
con trai nhà đại phú về y?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
Upananda, nghe nói ngươi yêu cầu người con trai nhà đại phú
về y, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
- Này
Upananda, là thân quyến của ngươi hay không phải là thân quyến?
- Bạch
Thế Tôn, không phải là thân quyến.
- Này
kẻ rồ dại, người không phải là thân quyến không biết
điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì làm hài
lòng hay không làm hài lòng người không phải là thân quyến.
Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi lại yêu
cầu người con trai nhà đại phú về y? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
yêu cầu nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân
quyến về y thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[54]
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang đi đường xa từ
Sāketa đến Sāvatthi. Giữa đường, bọn cướp đã xuất hiện
và đã cướp bóc các vị tỳ khưu ấy. Sau đó, các vị tỳ
khưu ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán yêu
cầu nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến
về y,” trong lúc ngần ngại đã không yêu cầu rồi lõa thể
như thế đi đến thành Sāvatthi và đảnh lễ các tỳ khưu.
Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, những người đạo sĩ lõa thể này tốt thật,
những người này đảnh lễ các tỳ khưu.
Các
vị ấy đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, chúng tôi không phải là đạo sĩ lõa thể,
chúng tôi là tỳ khưu.
Các
tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này:
- Này
đại đức Upāli, hãy xét hỏi những người này đi.
Sau
đó, trong lúc được xét hỏi bởi đại đức Upāli, các vị
tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy. Khi ấy, đại đức
Upāli sau khi xét hỏi các tỳ khưu ấy đã nói với các tỳ
khưu điều này:
- Này
các đại đức, những vị này là những vị tỳ khưu, hãy
cho y đến những vị ấy.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu lại lõa thể mà đi đến? Sao không dùng cỏ
che kín lại rồi mới nên đi đến?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép vị có y bị cướp đoạt hoặc vị
có y bị mất được yêu cầu nam gia chủ hoặc nữ gia chủ
không phải là thân quyến về y. (Ta cho phép) khi đi đến trú
xứ đầu tiên, nếu nơi ấy hội chúng có y thuộc về trú
xá, hoặc vải lót giường, hoặc vải trải nền, hoặc bao
nệm, được lấy vật ấy và choàng lên (nghĩ rằng): “Khi
nhận được y, ta sẽ gởi lại.” Nếu hội chúng không có
y thuộc về trú xá, hoặc vải lót giường, hoặc vải trải
nền, hoặc bao nệm, thì nên dùng cỏ hoặc lá che kín lại
rồi mới nên đi đến; nhưng không nên lõa thể mà đi đến,
vị nào đi đến th