VII.
CHƯƠNG NISSAGGIYA (ƯNG XẢ) (tt)
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[117]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện việc tích trữ nhiều
bình bát. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy
rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại tích trữ nhiều bình bát? Các
sa-môn Thích tử sẽ làm việc buôn bán bình bát hay sẽ lập
nên gian hàng gốm sứ?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại cất giữ bình bát phụ
trội?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi cất giữ bình bát phụ trội,
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại cất giữ bình bát
phụ trội vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào cất giữ bình bát phụ trội
thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[118]
Vào lúc bấy giờ, có bình bát phụ trội được phát sanh
đến đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda có ý định dâng
bình bát ấy đến đại đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta
ngụ tại Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều
nảy: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định là:
‘Không được cất giữ bình bát phụ trội,’ và bình bát
phụ trội này đã được phát sanh đến ta. Và ta có ý định
dâng bình bát này đến đại đức Sāriputta mà đại đức
Sāriputta cư ngụ ở Sāketa; vậy ta nên thực hành như thế
nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này
Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?
- Bạch
Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.
Khi
ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép cất giữ bình bát phụ trội tối
đa mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Bình bát phụ trội nên được
cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy thì (bình
bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[119]
Tối đa mười ngày: là được cất giữ (hoặc sử dụng)
nhiều nhất mười ngày.
Bình
bát phụ trội nghĩa là chưa được chú nguyện để dùng riêng,
chưa được chú nguyện để dùng chung.
Bình
bát nghĩa là có hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát
đất. Bình bát có ba dạng: bình bát cỡ lớn, bình bát cỡ
vừa, bình bát cỡ nhỏ. Bình bát cỡ lớn nghĩa là chứa được
một nửa āḷhaka cơm, [1] một phần tư vật thực là thức
ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Bình bát cỡ vừa nghĩa
là chứa được một nāḷika cơm, một phần tư vật thực
là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Bình bát cỡ
nhỏ nghĩa là chứa được một pattha[2] cơm, một phần tư
vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Lớn
hơn các cỡ ấy không phải là bình bát, nhỏ hơn không phải
là bình bát.
[120]
Vượt quá hạn ấy thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ:
Khi mặt trời mọc ngày thứ mười một thì phạm vào nissaggiya,
(bình bát ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc
đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được
xả bỏ như vầy:
[121]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
các ngài, bình bát này của tôi đã quá hạn mười ngày cần
được xả bỏ. Tôi xả bỏ bình bát này đến hội chúng.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực và bình bát đã
xả bỏ nên được cho lại.
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc
về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya
đã được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích
hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại bình bát này đến
vị tỳ khưu tên (như vầy).”
[122]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Thưa
các ngài, bình bát này của tôi đã quá hạn mười ngày cần
được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực và bình bát đã
xả bỏ nên được cho lại.
“Xin
các đại đức hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc về
vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã
được xả bỏ đến các đại đức. Nếu là thời điểm
thích hợp cho các đại đức, các đại đức nên cho lại
bình bát này đến vị tỳ khưu tên (như vầy).”
[123]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng
y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như
vầy:
- Thưa
đại đức, bình bát này của tôi đã quá hạn mười ngày
cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ bình bát này đến đại
đức.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu ấy và bình bát đã xả bỏ nên được cho lại:
“Tôi cho lại đại đức bình bát này.”
[124]
Khi quá hạn mười ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Khi
quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã
được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã
được chú nguyện để dùng chung, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát,
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm,
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị bể, (lầm) tưởng là đã bị bể, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Khi
không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[125]
Bình bát phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm
tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn mười ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì
vô tội.
[126]
Trong thời hạn mười ngày, vị chú nguyện để dùng riêng,
vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (bình bát) bị
mất trộm, (bình bát) bị hư hỏng, (bình bát) bị bể, (người
khác) cướp rồi lấy đi, (vị khác) lấy đi do sự thân thiết,
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
[127]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại
bình bát đã được xả bỏ. Các tỳ khưu đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
-
Này các tỳ khưu, không nên không cho lại bình bát đã được
xả bỏ; vị nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[128]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng
Sākya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy
giờ, có người thợ làm đồ gốm nọ đã thỉnh cầu các
tỳ khưu rằng : “Các ngài đại đức nào có nhu cầu về
bình bát, tôi sẽ dâng bình bát.” Vào lúc bấy giờ, các
tỳ khưu không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát.
Những vị có các bình bát nhỏ thì yêu cầu các bình bát
lớn. Những vị có các bình bát lớn thì yêu cầu các bình
bát nhỏ. Khi ấy, trong lúc làm nhiều bình bát cho các tỳ
khưu, người thợ làm đồ gốm ấy không thể làm hàng khác
để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của
người này cũng phải chịu khổ sở. Dân chúng phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử này lại không biết chừng mực và
yêu cầu nhiều bình bát? Người này trong lúc làm nhiều bình
bát cho các vị này không thể làm hàng khác để bán nên không
nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải
chịu khổ sở.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều
bình bát?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi không biết chừng mực và
yêu cầu nhiều bình bát, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại không biết
chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát vậy? Này các tỳ khưu,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)…
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, không nên yêu cầu bình bát, vị nào yêu cầu
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[129]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có bình bát bị bể.
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã
cấm đoán yêu cầu bình bát” trong lúc ngần ngại không yêu
cầu rồi đi khất thực bằng hai bàn tay. Dân chúng phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại đi khất thực bằng hai bàn tay
giống như là các ngoại đạo vậy?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu
rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép vị có bình bát bị hư hỏng hoặc
bình bát bị bể được yêu cầu về bình bát.
[130]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng):
“Đức Phật đã cho phép vị có bình bát bị hư hỏng hoặc
bình bát bị bể được yêu cầu về bình bát,” các vị
ấy với (bình bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút
ít, bị nứt chỉ chút ít, bị trầy chỉ chút ít lại không
biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát. Khi ấy, trong
lúc làm nhiều bình bát cho các tỳ khưu, người thợ làm đồ
gốm ấy giống như trước đây không thể làm hàng khác để
bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người
này cũng phải chịu khổ sở. Tương tợ y như thế, dân chúng
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại không biết chừng mực và yêu
cầu nhiều bình bát? Người này trong lúc làm nhiều bình bát
cho các vị này không thể làm hàng khác để bán nên không
nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải
chịu khổ sở.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư với (bình bát) bị bể chỉ
chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít, bị
trầy chỉ chút ít lại không biết chừng mực và yêu cầu
nhiều bình bát?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi với (bình bát) bị bể chỉ
chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít, bị
trầy chỉ chút ít lại không biết chừng mực và yêu cầu
nhiều bình bát, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi với (bình bát) bị bể
chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít,
bị trầy chỉ chút ít lại không biết chừng mực và yêu
cầu nhiều bình bát vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào với bình
bát chưa đủ năm miếng vá mà kiếm thêm bình bát mới khác
thì (bình bát mới ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị). Vị tỳ khưu ấy nên xả bỏ
bình bát ấy đến tập thể các tỳ khưu. Và cái nào là bình
bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ấy, cái ấy nên
trao đến vị tỳ khưu ấy: ‘Này tỳ khưu, đây là bình bát
của ngươi, nên giữ lấy cho đến khi bể.’ Đây là điều
đúng đắn trong trường hợp ấy.”
[131]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa
đủ năm miếng vá nghĩa là bình bát không có miếng vá, hoặc
một miếng vá, hoặc hai miếng vá, hoặc ba miếng vá, hoặc
bốn miếng vá. Bình bát không chỗ đắp vá nghĩa là bình
bát không có lỗ thủng rộng hai ngón tay.[3] Bình bát có chỗ
đắp vá nghĩa là bình bát có lỗ thủng rộng hai ngón tay.
Bình
bát mới nghĩa là liên quan việc yêu cầu được đề cập
đến.
Kiếm
thêm: vị yêu cầu, trong khi tiến hành thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, (bình
bát ấy) cần được xả bỏ ở giữa hội chúng. Tất cả
các tỳ khưu nên mang theo bình bát đã chú nguyện và tụ hội
lại. Không nên chú nguyện bình bát kém cỏi (nghĩ rằng):
“Ta sẽ lấy bình bát cao giá.” Nếu vị chú nguyện bình
bát kém cỏi (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy bình bát cao giá”
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Và này các tỳ khưu, nên
được xả bỏ như vầy:
[132]
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
các ngài, bình bát này của tôi đã được kiếm thêm khi bình
bát chưa đủ năm miếng vá, giờ cần được xả bỏ. Tôi
xả bỏ bình bát này đến hội chúng.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nên chỉ định
vị chuyển đổi bình bát là vị tỳ khưu hội đủ năm điều
kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không
thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối
bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là
vị biết vật đã được lấy hay chưa được lấy.
Và
này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị
tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng
cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ
năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm
thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi bình bát. Đây là
lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ
định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi bình
bát. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu
tên (như vầy) là vị chuyển đổi bình bát xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị
tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là
vị chuyển đổi bình bát. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Bình
bát nên được chuyển đổi bởi vị tỳ khưu đã được
chỉ định ấy. Nên nói với vị trưởng lão (thera) rằng:
“Thưa ngài, xin trưởng lão nhận lấy bình bát.” Nếu vị
trưởng lão nhận lấy, bình bát của vị trưởng lão nên
được chuyển đổi đến vị thứ nhì. Và không nên vì lòng
thương hại vị ấy mà không nhận lấy, vị nào không nhận
lấy[4] thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị không có bình
bát không được chuyển đổi. Nên được chuyển đổi cho
đến vị mới tu của hội chúng theo phương thức như thế.
Và
cái nào là bình bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu
ấy, cái ấy nên trao đến vị tỳ khưu ấy: “Này tỳ khưu,
đây là bình bát của ngươi, nên giữ lấy cho đến khi bể.”
Vị tỳ khưu ấy không nên để xuống bình bát ấy không đúng
chỗ, không nên sử dụng sái với cách thức dùng,[5] không
nên phân phát đi (nghĩ rằng): “Làm thế nào bình bát này
bị trộm, hoặc bị hư hỏng, hoặc bị bể?” Nếu để xuống
không đúng chỗ, hoặc sử dụng sái với cách thức dùng,
hoặc phân phát thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Đây
là điều đúng đắn trong trường hợp ấy: Đây là điều
hợp lý trong trường hợp ấy.
[133]
Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không
miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát một
miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát không
miếng vá, vị kiếm thêm bình bát hai miếng vá thì phạm tội
nissaggiya pācittiya. Với bình bát không miếng vá, vị kiếm
thêm bình bát ba miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát bốn
miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát một miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát một miếng
vá, vị kiếm thêm bình bát một miếng vá thì phạm tội nissaggiya
pācittiya. Với bình bát một miếng vá, vị kiếm thêm bình
bát hai miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình
bát một miếng vá, vị kiếm thêm bình bát ba miếng vá thì
phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát một miếng vá,
vị kiếm thêm bình bát bốn miếng vá thì phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Với
bình bát hai miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát hai miếng
vá, vị kiếm thêm bình bát một miếng vá thì phạm tội nissaggiya
pācittiya. Với bình bát hai miếng vá, vị kiếm thêm bình bát
hai miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát
hai miếng vá, vị kiếm thêm bình bát ba miếng vá thì phạm
tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát hai miếng vá, vị kiếm
thêm bình bát bốn miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát ba miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát ba miếng
vá, vị kiếm thêm bình bát một miếng vá thì phạm tội nissaggiya
pācittiya. Với bình bát ba miếng vá, vị kiếm thêm bình bát
hai miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát
ba miếng vá, vị kiếm thêm bình bát ba miếng vá thì phạm
tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát ba miếng vá, vị kiếm
thêm bình bát bốn miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát bốn miếng
vá, vị kiếm thêm bình bát một miếng vá thì phạm tội nissaggiya
pācittiya. Với bình bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm bình
bát hai miếng vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình
bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm bình bát ba miếng vá thì
phạm tội nissaggiya pācittiya. Với bình bát bốn miếng vá,
vị kiếm thêm bình bát bốn miếng vá thì phạm tội nissaggiya
pācittiya.
[134]
Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không
chỗ đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai
chỗ đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn
chỗ đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát một miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ
đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai chỗ
đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn chỗ
đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát hai miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp
vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai chỗ đắp
vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn chỗ đắp
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát ba miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp
vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai chỗ đắp
vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn chỗ đắp
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ
đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai chỗ
đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn chỗ
đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
[135]
Với bình bát không chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát
không miếng vá ... bình bát một miếng vá ... bình bát hai
miếng vá ... bình bát ba miếng vá ... bình bát bốn miếng
vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát một chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không
miếng vá ... bình bát một miếng vá ... bình bát hai miếng
vá ... bình bát ba miếng vá ... bình bát bốn miếng vá thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát hai chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng
vá ... bình bát một miếng vá ... bình bát hai miếng vá ...
bình bát ba miếng vá ... bình bát bốn miếng vá thì phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát ba chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng
vá ... bình bát một miếng vá ... bình bát hai miếng vá ...
bình bát ba miếng vá ... bình bát bốn miếng vá thì phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát bốn chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không
miếng vá ... bình bát một miếng vá ... bình bát hai miếng
vá ... bình bát ba miếng vá ... bình bát bốn miếng vá thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
[136]
Với bình bát không chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát
không chỗ đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình
bát hai chỗ đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình
bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát một chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không
chỗ đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai
chỗ đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn
chỗ đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát hai chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ
đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai chỗ
đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn chỗ
đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát ba chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ
đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai chỗ
đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn chỗ
đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Với
bình bát bốn chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không
chỗ đắp vá ... bình bát một chỗ đắp vá ... bình bát hai
chỗ đắp vá ... bình bát ba chỗ đắp vá ... bình bát bốn
chỗ đắp vá thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
[137]
Vị có bình bát bị hư hỏng, vị có bình bát bị bể, của
các thân quyến, của những người đã nói lời thỉnh cầu,
vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân,
vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[138]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Pilindavaccha ở thành Rājagaha có ý muốn làm chỗ
trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi. Khi ấy, đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức
Pilindavaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindavaccha
rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên,
đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức
Pilindavaccha điều này:
- Thưa
ngài, ngài trưởng lão cho làm cái gì vậy?
- Tâu
đại vương, tôi có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người
dọn sạch sẽ hang núi.
- Thưa
ngài, ngài có nhu cầu về người giúp việc tu viện (ārāmika)
không?
- Tâu
đại vương, đức Thế Tôn chưa có cho phép về người giúp
việc tu viện.
- Thưa
ngài, như thế thì ngài hãy hỏi đức Thế Tôn rồi báo cho
trẫm biết.
- Tâu
đại vương, xin vâng. Đại đức Pilindavaccha đã đáp lời
đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
Khi
ấy, đại đức Pilindavaccha đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến
khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra
xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại
đức Pilindavaccha chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo
niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra
xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại
đức Pilindavaccha, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, đại đức Pilindavaccha đã phái sứ giả đi đến
gặp đức Thế Tôn (thưa rằng):
- Bạch
ngài, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý muốn ban cho
người giúp việc tu viện. Bạch ngài, vậy nên thực hành
như thế nào?
Khi
ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu
tập hội chúng tỳ khưu lại, đã thuyết Pháp thoại, rồi
bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép người giúp việc tu viện.
Đến
lần thứ nhì, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến
gặp đại đức Pilindavaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại
đức Pilindavaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi
xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói
với đại đức Pilindavaccha điều này:
- Thưa
ngài, người giúp việc tu viện có được đức Thế Tôn cho
phép không?
- Tâu
đại vương, đã được rồi.
- Thưa
ngài, như vậy thì trẫm ban cho ngài đại đức người giúp
việc tu viện.
Rồi
sau khi hứa với đại đức Pilindavaccha về người giúp việc
tu viện, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã không ghi nhớ.
Sau một thời gian dài, đức vua khi phục hồi lại ký ức
đã bảo viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng:
- Này
khanh, người giúp việc tu viện đã được trẫm hứa với
ngài đại đức, người giúp việc tu viện ấy đã được
ban cho chưa?
- Tâu
bệ hạ, người giúp việc tu viện chưa được ban đến ngài
đại đức.
- Này
khanh, tính đến đêm nay là đã bao lâu rồi vậy?
Khi
ấy, viên quan đại thần ấy sau khi tính đếm số lượng
đêm rồi đã tâu với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều
này:
- Tâu
bệ hạ, năm trăm đêm.
- Này
khanh, như vậy thì hãy ban cho ngài đại đức năm trăm người
giúp việc tu viện.
- Tâu
bệ hạ, xin vâng.
Rồi
vị quan đại thần đã vâng lệnh đức vua Seniya Bimbisāra
xứ Magadha dâng đến đại đức Pilindavaccha năm trăm người
giúp việc tu viện. Một ngôi làng riêng biệt đã được thiết
lập. Dân chúng đã gọi ngôi làng ấy là “Ngôi làng của
những người giúp việc tu viện.” Dân chúng đã gọi ngôi
làng ấy là “Ngôi làng Pilindavaccha.”
[139]
Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha là vị thường hay
lui tới trong ngôi làng ấy. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức
Pilindavaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilindavaccha
để khất thực. Vào lúc bấy giờ, trong ngôi làng ấy có
lễ hội. Những đứa trẻ nhỏ được trang điểm, đeo vòng
hoa, và đùa giỡn. Khi ấy, đại đức Pilindavaccha trong khi
đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilindavaccha
đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau
khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt
sẵn. Vào lúc bấy giờ, cô bé gái con của người đàn bà
giúp việc tu viện ấy nhìn thấy những đứa trẻ con khác
được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc:
- Cho
con vòng hoa, cho con đồ trang sức.
Khi
ấy, đại đức Pilindavaccha đã nói với người đàn bà giúp
việc tu viện ấy điều này:
- Vì
sao đứa bé gái này khóc vậy?
- Thưa
ngài, đứa bé gái này nhìn thấy những đứa trẻ con khác
được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc: “Cho con
vòng hoa, cho con đồ trang sức.” Chúng tôi lâm cảnh khó khăn,
lấy đâu ra vòng hoa, lấy đâu ra đồ trang sức?
Khi
ấy, đại đức Pilindavaccha đã cầm lấy vòng cỏ nọ rồi
nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này:
- Vậy
thì hãy đội vòng cỏ này lên đầu của đứa bé gái ấy
đi.
Khi
ấy, người đàn bà giúp việc tu viện ấy đã cầm lấy vòng
cỏ ấy rồi đội lên đầu của đứa bé gái ấy. Vòng cỏ
ấy đã trở thành vòng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn,
duyên dáng; trong nội cung của đức vua cũng không có được
vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Dân chúng đã trình báo lên
đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng:
- Tâu
bệ hạ, trong nhà của người giúp việc tu viện kia có vòng
hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung
của đức vua cũng không có được vòng hoa bằng vàng như
thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu
ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.
Khi
ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh bắt giữ
gia đình của người giúp việc tu viện ấy.
Đến
lần thứ nhì vào buổi sáng, đại đức Pilindavaccha đã mặc
y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilindavaccha để khất
thực. Trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng
Pilindavaccha, đại đức Pilindavaccha đã đi đến căn nhà của
người giúp việc tu viện ấy, sau khi đến đã hỏi những
người hàng xóm rằng:
- Gia
đình của người giúp việc tu viện này đã đi đâu?
- Thưa
ngài, bọn họ đã bị đức vua ra lệnh bắt giữ vì nguyên
nhân vòng hoa bằng vàng ấy.
Khi
ấy, đại đức Pilindavaccha đã đi đến ngự viện của đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống
trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya
Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindavaccha,
sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindavaccha rồi ngồi
xuống ở một bên. Đại đức Pilindavaccha đã nói với đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đang ngồi một bên điều này:
- Tâu
đại vương, vì sao gia đình của người giúp việc tu viện
lại bị ra lệnh bắt giữ?
- Thưa
ngài, trong nhà của người giúp việc tu viện ấy có vòng
hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung
của trẫm cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế
ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra?
Chắc chắn là có được do trộm cắp.
Khi
ấy, đại đức Pilindavaccha đã chú nguyện rằng: “Cung điện
của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha là vàng;” cung điện
ấy đã trở thành hoàn toàn làm bằng vàng.
- Tâu
đại vương, do đâu đại vương lại có nhiều vàng đến
thế này?
- Thưa
ngài, trẫm đã hiểu rồi. Việc ấy là năng lực thần thông
của chính ngài đại đức.
Rồi
đức vua đã ra lệnh thả gia đình người giúp việc tu viện
ấy.
[140]
Dân chúng (đồn rằng): “Nghe nói ngài đại đức Pilindavaccha
đã phô bày điều kỳ diệu của thần thông là pháp thượng
nhân trước triều thần có cả đức vua nữa!” nên đã hoan
hỷ, có niềm tin cao độ, rồi đã đem đến dâng đại đức
Pilindavaccha năm loại dược phẩm như là bơ lỏng, bơ đặc,
dầu ăn, mật ong, đường mía. Đại đức Pilindavaccha trở
thành người thường xuyên thọ lãnh năm loại dược phẩm
và phân phát cho hội chúng mỗi khi được thọ lãnh. Rồi
tiếp tục được thọ lãnh và hội chúng của vị ấy trở
nên dư dã. Sau khi chứa đầy các hũ và các chum, các vị xếp
chúng một bên; sau khi chứa đầy các túi lọc nước và các
túi xách, các vị treo lên ở các cửa sổ. Các loại dược
phẩm ấy đã bị rỉ xuống chảy ra và vẫn ở nguyên chỗ.
Các trú xá đã có chuột xuất hiện rải rác rồi tràn ngập.
Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các
sa-môn Thích tử này là những người tích trữ đồ đạc
trong nhà giống như là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha vậy.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu lại chấp nhận sự thặng dư như thế này?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu chấp nhận sự thặng dư
như thế ấy, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại chấp nhận
sự thặng dư như thế ấy? Này các tỳ khưu, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay
làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin.
…(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Các loại dược phẩm nào được
dùng cho các tỳ khưu bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc,
dầu ăn, mật ong, đường mía. Các thứ ấy sau khi thọ lãnh
nên được thọ dụng với sự cất giữ tối đa là bảy ngày.
Vượt quá hạn ấy thì nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[141]
Các loại dược phẩm nào được dùng cho các tỳ khưu bị
bệnh: Bơ lỏng nghĩa là bơ lỏng từ loài bò, hoặc là bơ
lỏng từ loài dê, hoặc là bơ lỏng từ loài trâu, hoặc là
bơ lỏng của các loài thú nào có thịt được phép (thọ
dụng).[6] Bơ đặc nghĩa là bơ đặc của chính các loài thú
ấy. Dầu ăn nghĩa là dầu mè, dầu hạt mù tạt, dầu có
chứa mật ong (madhukatelaṃ), dầu cây eraṇḍa, dầu từ mỡ
thú. Mật ong nghĩa là mật của loài ong. Đường mía nghĩa
là được sản xuất từ cây mía.
Các
thứ ấy sau khi thọ lãnh nên được thọ dụng với sự cất
giữ tối đa là bảy ngày: nên được thọ dụng nhiều nhất
là bảy ngày.
Vượt
quá hạn ấy thì nên được xả bỏ: Khi mặt trời mọc vào
ngày thứ tám thì phạm vào nissaggiya, (dược phẩm ấy) cần
được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến
cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
...(như trên)... “Bạch các ngài, dược phẩm này của tôi
đã vượt quá hạn bảy ngày, giờ cần được xả bỏ. Tôi
xả bỏ vật này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng
nên cho lại ...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như
trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[142]
Khi quá hạn bảy ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Khi
quá hạn bảy ngày, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
quá hạn bảy ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa quyết định, (lầm) tưởng là đã quyết định, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã phân phát, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm,
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Khi
không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Khi
không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
[143]
Sau khi nhận lại vật đã xả bỏ, không nên sử dụng bằng
cách dùng ở trên cơ thể, không nên nuốt vào. Nên đổ vào
trong đèn hoặc trong màu đen (kāḷavaṇṇe). Vị tỳ khưu
khác có thể sử dụng bằng cách dùng ở trên cơ thể, (nhưng)
không nên nuốt vào.
Khi
chưa quá hạn bảy ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa quá hạn bảy ngày, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn bảy ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì vô
tội.
[144]
Trong thời hạn bảy ngày; vị quyết định;[7] vị phân phát;
(dược phẩm) bị mất trộm; (dược phẩm) bị hư hỏng; (dược
phẩm) bị cháy; (người khác) cướp rồi lấy đi; (vị khác)
lấy đi do sự thân thiết; vị không mong mỏi với vật đã
được hy sinh, đã được từ bỏ, đã được dứt bỏ đến
người chưa tu lên bậc trên, sau khi cho rồi được lại và
thọ dụng; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[145]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
vải choàng tắm mưa đã được đức Thế Tôn cho phép đến
các tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Vải
choàng tắm mưa đã được đức Thế Tôn cho phép” nên đã
tìm kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước
thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đã
cũ thì (các vị) lõa thể và để mưa làm ướt thân hình.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tìm kiếm y choàng tắm mưa
trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào,
đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các vị) lõa thể
và để mưa làm ướt thân hình?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tìm kiếm y choàng tắm mưa
trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào,
đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các ngươi) lõa thể
và để mưa làm ướt thân hình, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tìm kiếm y choàng
tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi
mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các ngươi)
lại lõa thể và để mưa làm ướt thân hình vậy? Này các
tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “(Biết rằng):
‘Mùa nóng còn lại là một tháng’ vị tỳ khưu nên tìm
kiếm y choàng tắm mưa. (Biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại
là nửa tháng’ vị làm xong thì nên mặc. Nếu (thời hạn)
chưa đến (lại nghĩ rằng): ‘Mùa nóng còn lại là một tháng’
rồi tìm kiếm y choàng tắm mưa, nếu (thời hạn) chưa đến
(lại nghĩ rằng): ‘Mùa nóng còn lại là nửa tháng’ sau
khi làm xong rồi mặc vào thì (y ấy) nên được xả bỏ và
(vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[146]
(Biết rằng): “Mùa nóng còn lại là một tháng” vị tỳ
khưu nên tìm kiếm y choàng tắm mưa: Nên đi đến gặp những
người nào trước đây dâng y choàng tắm mưa và nên nói như
vầy: “Là thời điểm của vải choàng tắm mưa, là lúc của
vải choàng tắm mưa, những người khác cũng dâng y choàng
tắm mưa.” Không nên nói rằng: “Hãy dâng y choàng tắm mưa
cho tôi, hãy mang lại y choàng tắm mưa cho tôi, hãy sắm y choàng
tắm mưa cho tôi, hãy mua y choàng tắm mưa cho tôi.”
(Biết
rằng): “Mùa nóng còn lại là nửa tháng” vị làm xong thì
nên mặc: Khi mùa nóng còn lại là nửa tháng, sau khi làm xong
thì nên mặc.
Nếu
(thời hạn) chưa đến (lại nghĩ rằng): “Mùa nóng còn lại
là một tháng”: Khi mùa nóng còn lại là hơn một tháng, vị
tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm vào nissaggiya.
Nếu
(thời hạn) chưa đến (lại nghĩ rằng): “Mùa nóng còn lại
là nửa tháng”: Khi mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, vị
làm xong rồi mặc vào thì phạm vào nissaggiya. (Y ấy) cần
được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến
cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
...(như trên)... “Bạch các ngài, y choàng tắm mưa này của
tôi đã được tìm kiếm khi mùa nóng còn lại là hơn một
tháng, sau khi làm xong đã được mặc khi mùa nóng còn lại
là hơn nửa tháng, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y)
này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại
...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)...
“Tôi cho lại đại đức.”
[147]
Khi mùa nóng còn lại là hơn một tháng, nhận biết là còn
hơn (một tháng), vị tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
mùa nóng còn lại là hơn một tháng, có sự hoài nghi, vị
tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
mùa nóng còn lại là hơn một tháng, (lầm) tưởng là ít hơn
(một tháng), vị tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Khi
mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, nhận biết là còn hơn
(nửa tháng), vị làm xong rồi mặc vào thì phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Khi
mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, có sự hoài nghi, vị
làm xong rồi mặc vào thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là ít hơn
(nửa tháng), vị làm xong rồi mặc vào thì phạm tội nissaggiya
pācittiya.
Nếu
có y choàng tắm mưa mà lõa thể và để mưa làm ướt thân
hình thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng, (lầm) tưởng là nhiều
hơn (một tháng), phạm tội dukkaṭa.
Khi
mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa.
Khi
mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng, nhận biết là ít
hơn (một tháng) thì vô tội.
Khi
mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là nhiều
hơn (nửa tháng), phạm tội dukkaṭa.
Khi
mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa.
Khi
mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng, nhận biết là ít
hơn (nửa tháng) thì vô tội.
[148]
Vị tìm kiếm y choàng tắm mưa khi (biết rằng): “Mùa nóng
còn lại là một tháng;” vị làm xong và mặc vào khi (biết
rằng): “Mùa nóng còn lại là nửa tháng;” vị tìm kiếm
y choàng tắm mưa khi (biết rằng): “Mùa nóng còn lại là
ít hơn một tháng;” vị làm xong và mặc vào khi (biết rằng):
“Mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng;” khi y choàng tắm
mưa đã được tìm kiếm thì mùa mưa bị trễ, khi y choàng
tắm mưa đã được mặc vào thì mùa mưa bị trễ, nên giặt
rồi cất lại và nên mặc lúc đúng thời; vị có y bị cướp
đoạt; vị có y bị mất trộm; khi có sự cố;[8] vị bị
điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NĂM:
[149]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya nói với vị tỳ khưu
là đệ tử của người anh điều này:
- Này
đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở.
- Thưa
ngài, tôi sẽ không đi. Y của tôi thì mảnh mai.
- Này
đại đức, hãy đến. Ta sẽ cho ngươi y. Rồi đã cho y đến
vị ấy.
Vị
tỳ khưu ấy đã nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn
sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy
đã khởi ý điều này: “Giờ đây ta sẽ không ra đi du hành
trong xứ sở với đại đức Upananda con trai dòng Sākya nữa,
ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở với đức Thế Tôn.”
Sau
đó, đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã nói với vị
tỳ khưu ấy điều này:
- Này
đại đức, hãy đến. Giờ đây, chúng ta sẽ ra đi du hành
trong xứ sở.
- Thưa
ngài, tôi sẽ không ra đi du hành trong xứ sở với ngài. Tôi
sẽ ra đi du hành trong xứ sở với đức Thế Tôn.
- Này
đại đức, y mà ta đã cho ngươi là sẽ ra đi du hành trong
xứ sở với ta. Rồi nổi giận, bất bình, đã giật lại
y.
Sau
đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ
khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi tự mình cho
y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất bình rồi giật lại?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
Upananda, nghe nói ngươi sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu
lại nổi giận, bất bình rồi giật lại, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi tự mình cho y đến vị tỳ
khưu lại nổi giận, bất bình rồi giật lại vậy? Này kẻ
rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận,
bất bình, rồi giật lại, hoặc bảo giật lại thì (y ấy)
nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).”
[150]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Đến
vị tỳ khưu: là đến vị tỳ khưu khác.
Tự
mình: sau khi đích thân cho.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước)
tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.
Nổi
giận, bất bình: không được hài lòng, có tâm bực bội,
sanh khởi lòng cay cú.
Giật
lại: tự mình giật lại thì phạm vào nissaggiya.
Bảo
giật lại: ra lệnh người khác thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Được ra lệnh một lần, (vị nghe lệnh) dầu giật lại
nhiều lần (vị ra lệnh) phạm (chỉ một) nissaggiya. (Y ấy)
cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc
đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như
vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài, y này của tôi sau khi
tự mình cho đến vị tỳ khưu rồi đã giật lại, giờ cần
được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.” ...(như
trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)... chư đại đức
nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[151]
Người đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc
trên, sau khi tự mình cho y lại nổi giận, bất bình rồi giật
lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị).
Người
đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, sau khi tự mình cho y
lại nổi giận, bất bình rồi giật lại hoặc bảo giật
lại thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Người
đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên,
sau khi tự mình cho y lại nổi giận, bất bình rồi giật lại
hoặc bảo giật lại thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Sau
khi cho vật dụng khác lại nổi giận, bất bình rồi giật
lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Sau
khi cho y hoặc vật dụng khác đến người chưa tu lên bậc
trên lại nổi giận, bất bình rồi giật lại hoặc bảo giật
lại thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa.
Người
chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Người
chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa.
[152]
Vị kia cho lại, hoặc vị ấy lấy trong khi thân thiết với
vị kia, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ SÁU:
[153]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các
tỳ khưu nhóm Lục Sư trong thời hạn làm y đã yêu cầu nhiều
chỉ sợi. Ngay cả khi y đã làm xong vẫn còn lại nhiều chỉ
sợi. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã khởi ý điều
này: “Này các đại đức, chúng ta hãy yêu cầu thêm chỉ
sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y.” Sau đó,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã yêu cầu thêm chỉ sợi khác
nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Ngay cả khi y đã
được dệt xong, vẫn còn lại nhiều chỉ sợi.
Đến
lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã yêu cầu thêm
chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Ngay
cả khi y đã được dệt xong, vẫn còn lại nhiều chỉ sợi.
Đến
lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã yêu cầu thêm chỉ
sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Dân chúng
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi
bảo các thợ dệt dệt thành y?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tự mình yêu cầu chỉ sợi
rồi bảo các thợ dệt dệt thành y?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tự mình yêu cầu chỉ sợi
rồi bảo các thợ dệt dệt thành y, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tự mình yêu cầu
chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y vậy? Này những
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt
dệt thành y thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[154]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Tự
mình: sau khi đích thân yêu cầu.
Chỉ
sợi nghĩa là sáu loại chỉ sợi: loại bằng sợi lanh (khomaṃ),
loại bằng bông vải (kappāsikaṃ), loại bằng tơ lụa (koseyyaṃ),
loại bằng sợi len (kambalaṃ), loại bằng gai thô (sāṇam),
loại bằng chỉ bố (bhaṅgaṃ).
(Bởi)
các thợ dệt: vị bảo các người làm công việc dệt vải
(ra công) dệt, trong lúc thực hiện, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, (y ấy)
cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc
đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như
vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài, y này của tôi sau khi
tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi đã bảo các thợ dệt dệt
thành, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến
hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như
trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)... “Tôi
cho lại đại đức.”
[155]
Khi đã bảo dệt, nhận biết là đã bảo dệt, phạm tội
nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
đã bảo dệt, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
đã bảo dệt, (lầm) tưởng là chưa bảo dệt, phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa bảo dệt, (lầm) tưởng là đã bảo dệt, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa bảo dệt, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa bảo dệt, nhận biết là chưa bảo dệt thì vô tội.
[156]
(Yêu cầu chỉ sợi) để may y, trong trường hợp mạng vá,
trường hợp dây thắt lưng, dây buộc ở vai, túi mang bình
bát, đồ lược nước, của các thân quyến, của những người
đã nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật
sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BẢY:
[157]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
có người đàn ông nọ sắp sửa đi vắng nhà đã nói với
người vợ điều này:
- Hãy
cân chỉ sợi rồi giao cho người thợ dệt kia, bảo dệt y
rồi cất lấy, khi nào về tôi sẽ dâng y đến ngài đại
đức Upananda.
Trong
khi người đàn ông ấy đang nói lời này, có vị tỳ khưu
nọ là vị hành pháp khất thực đã nghe được. Sau đó, vị
tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng
Sākya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai
dòng Sākya điều này:
- Này
đại đức Upananda, ngài có được nhiều phước báu. Ở chỗ
kia, có người đàn ông nọ sắp sửa đi vắng nhà đã nói
với người vợ điều này: “Hãy cân chỉ sợi rồi giao cho
người thợ dệt kia, bảo dệt y rồi cất lấy, khi nào về
tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.”
- Này
đại đức, đúng vậy. Người ấy là người hộ độ cho
tôi.
Người
thợ dệt ấy cũng là người hộ độ cho đại đức Upananda
con trai dòng Sākya. Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng
Sākya đã đi đến gặp người thợ dệt ấy, sau khi đến
đã nói với người thợ dệt ấy điều này:
- Này
đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hãy làm (y
ấy) dài, rộng, chặt chẽ, hãy dệt cho khéo, dệt cho đều
đặn, khéo cào, khéo chải.
- Thưa
ngài, những người này đã cân chỉ sợi rồi giao cho tôi
(nói rằng): “Hãy dệt y với số chỉ sợi này.” Thưa ngài,
không thể làm dài, hay rộng, hay chặt chẽ. Thưa ngài, có
thể làm là dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, và
khéo chải.
- Này
đạo hữu, ngươi hãy làm dài, rộng, và chặt chẽ. Với số
chỉ ấy thì sẽ không thiếu.
Sau
đó, người thợ dệt ấy sau khi đưa vào máy dệt số chỉ
sợi đã được mang lại rồi đã đi đến gặp người đàn
bà ấy, sau khi đến đã nói với người đàn bà ấy điều
này:
- Thưa
bà, có nhu cầu về chỉ sợi.
- Này
ông, không phải tôi đã nói với ông rằng: “Hãy dệt y với
số chỉ sợi này.”
- Thưa
bà, sự thật là tôi đã được bà nói rằng: “Hãy dệt
y với số chỉ sợi này;” tuy nhiên, ngài đại đức Upananda
đã nói với tôi như vầy: “Này đạo hữu, ngươi hãy làm
dài, rộng, và chặt chẽ. Với số chỉ ấy thì sẽ không
thiếu.”
Khi
ấy, người đàn bà ấy đã cho số lượng chỉ sợi lần
sau y như số lượng lần thứ nhất.
Rồi
đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã nghe được rằng:
“Nghe nói người đàn ông ấy đi vắng nhà vừa mới trở
về.” Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã đi
đến tư gia của người đàn ông ấy, sau khi đến đã ngồi
xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người
đàn ông ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng
Sākya, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Upananda con trai
dòng Sākya rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống
một bên, người đàn ông ấy đã nói với người vợ điều
này:
- Có
phải y đã được dệt?
- Ông
à, đúng vậy. Y đã được dệt.
- Hãy
đem lại. Tôi sẽ dâng y cho ngài đại đức Upananda.
Sau
đó, người đàn bà ấy đã đem y ấy đến đưa cho chồng
và đã kể lại sự việc ấy. Khi ấy, người đàn ông ấy
sau khi dâng y ấy đến đại đức Upananda con trai dòng Sākya
rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các
sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết
đủ. Không dễ gì mà dâng y cho những người này! Vì sao ngài
đại đức Upananda khi chưa được tôi thỉnh cầu trước lại
đi đến gặp các thợ dệt và đưa ra sự căn dặn về y?
Các
tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya khi chưa được thỉnh
cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa
ra sự căn dặn về y?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
Upananda, nghe nói ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước đã
đi đến gặp các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn
dặn về y, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
- Này
Upananda, là thân quyến của ngươi hay không phải là thân quyến?
- Bạch
Thế Tôn, không phải là thân quyến.
- Này
kẻ rồ dại, người không phả