THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU II
Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch 2004
Giới Thiệu
Phân tích Giới Tỳ-khưu I
Phân tích Giới Tỳ-khưu II
Phân tích Giới Tỳ-khưu ni
ML
07a
07b
07c
08a
08b
08c
08d
08e
08f
08g
08h
08i
09
10
VIII. CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ)
(PĀCITTIYAKAṆḌAṂ)

Bạch chư đại đức, chín mươi hai điều pācittiya (ưng đối trị) này được đưa ra đọc tụng.

PHẦN NÓI DỐI - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:

[173] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, Hatthaka con trai dòng Sākya [1] (Thích Ca) nói năng tráo trở. Trong khi nói chuyện với những người ngoại đạo, vị ấy phủ nhận rồi thừa nhận, thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né điều này bằng điều khác, cố tình nói dối, sau khi hẹn ước lại không giữ lời. Những người ngoại đạo phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao Hatthaka con trai dòng Sākya trong khi nói chuyện với chúng tôi lại phủ nhận rồi thừa nhận, thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né điều này bằng điều khác, cố tình nói dối, sau khi hẹn ước lại không giữ lời?

Các tỳ khưu đã nghe được những người ngoại đạo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp Hatthaka con trai dòng Sākya, sau khi đến đã nói với Hatthaka con trai dòng Sākya điều này: 

- Này đại đức Hatthaka, nghe nói trong khi nói chuyện với những người ngoại đạo, đại đức phủ nhận rồi thừa nhận, thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né điều này bằng điều khác, cố tình nói dối, sau khi hẹn ước lại không giữ lời, có đúng không vậy?

- Này các đại đức, những người ngoại đạo ấy cần được đánh bại bằng bất cứ cách nào, không thể để cho họ thắng.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao Hatthaka con trai dòng Sākya trong khi nói chuyện với những người ngoại đạo lại phủ nhận rồi thừa nhận, thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né điều này bằng điều khác, cố tình nói dối, sau khi hẹn ước lại không giữ lời?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi Hatthaka con trai dòng Sākya rằng:

- Này Hatthaka, nghe nói trong khi nói chuyện với những người ngoại đạo, ngươi phủ nhận rồi thừa nhận, thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né điều này bằng điều khác, cố tình nói dối, sau khi hẹn ước lại không giữ lời, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: 

- Này kẻ rồ dại, vì sao trong khi nói chuyện với những người ngoại đạo, ngươi lại phủ nhận rồi thừa nhận, thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né điều này bằng điều khác, cố tình nói dối, sau khi hẹn ước lại không giữ lời vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi cố tình nói dối thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” 

[174] Cố tình nói dối nghĩa là lời nói, tiếng nói, cách nói, lời phát biểu, sự biểu hiện bằng lời nói của vị có ý định lừa dối có tám cách không thánh thiện: Không thấy (nói rằng): “Tôi đã thấy,” không nghe (nói rằng): “Tôi đã nghe,” không cảm giác (nói rằng): “Tôi đã cảm giác,” không nhận thức (nói rằng): “Tôi đã nhận thức,” đã thấy (nói rằng): “Tôi đã không thấy,” đã nghe (nói rằng): “Tôi đã không nghe,” đã cảm giác (nói rằng): “Tôi đã không cảm giác,” đã nhận thức (nói rằng): “Tôi đã không nhận thức.”

[175] Không thấy nghĩa là không được thấy bởi mắt. Không nghe nghĩa là không được nghe bởi tai. Không cảm giác nghĩa là không được ngửi bởi mũi, không được nếm bởi lưỡi, không được xúc chạm bởi thân. Không nhận thức nghĩa là không được nhận thức bởi ý. Đã thấy nghĩa là đã được thấy bởi mắt. Đã nghe nghĩa là đã được nghe bởi tai. Đã cảm giác nghĩa là đã được ngửi bởi mũi, đã được nếm bởi lưỡi, đã được xúc chạm bởi thân. Đã nhận thức nghĩa là đã được nhận thức bởi ý. 

[176] Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.”

Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.

Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi.

Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.

Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe” về điều đã không nghe ...(như trên)... “Tôi đã cảm giác” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức” về điều đã không nhận thức bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.”

Với bốn yếu tố, ...(như trên)... Với năm yếu tố, ...(như trên)... Với sáu yếu tố, ...(như trên)... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức” về điều đã không nhận thức bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.

[177] Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy và đã nghe” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy và đã cảm giác” về điều đã không thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy và đã nhận thức” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy, đã nghe, và đã cảm giác” về điều đã không thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy, đã nghe, và đã nhận thức” về điều đã không thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy, đã nghe, đã cảm giác, và đã nhận thức” về điều đã không thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... 

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe và đã cảm giác” về điều đã không nghe ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe và đã nhận thức” về điều đã không nghe ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe và đã thấy” về điều đã không nghe ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe, đã cảm giác, và đã nhận thức” về điều đã không nghe ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe, đã cảm giác, và đã thấy” về điều đã không nghe ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe, đã cảm giác, đã nhận thức, và đã thấy” ...(như trên)... 

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác và đã nhận thức” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác và đã thấy” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác và đã nghe” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác, đã nhận thức, và đã thấy” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác, đã nhận thức, và đã nghe” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác, đã nhận thức, đã thấy, và đã nghe” về điều đã không cảm giác ...(như trên)... 

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức và đã thấy” về điều đã không nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức và đã nghe” về điều đã không nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức và đã cảm giác” về điều đã không nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức, đã thấy, và đã nghe” về điều đã không nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức, đã thấy, và đã cảm giác” về điều đã không nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức, đã thấy, đã nghe, và đã cảm giác” về điều đã không nhận thức bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... 

[178] Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã không thấy” về điều đã thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.” Với bốn yếu tố, ...(như trên)... Với năm yếu tố, ...(như trên)... Với sáu yếu tố, ...(như trên)... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã không thấy” về điều đã thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã không nghe” về điều đã nghe ...(như trên)... “Tôi đã không cảm giác” về điều đã cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã không nhận thức” về điều đã nhận thức bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.” Với bốn yếu tố, ...(như trên)... Với năm yếu tố, ...(như trên)... Với sáu yếu tố, ...(như trên)... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã không nhận thức” về điều đã nhận thức bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.

[179] Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe” về điều đã thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác” về điều đã thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức” về điều đã thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe và đã cảm giác” về điều đã thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe và đã nhận thức” về điều đã thấy ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nghe, đã cảm giác, và đã nhận thức” về điều đã thấy bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... 

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác” về điều đã nghe ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức” về điều đã nghe ...(như trên)... “Tôi đã thấy” về điều đã nghe bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã cảm giác và đã nhận thức” về điều đã nghe ...(như trên)... “Tôi đã cảm giác và đã thấy” về điều đã nghe ...(như trên)... “Tôi đã cảm giác, đã nhận thức, và đã thấy” về điều đã nghe bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... 

Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức” về điều đã cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã thấy” về điều đã cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã nghe” về điều đã cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức và đã thấy” về điều đã cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức và đã nghe” về điều đã cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức, đã thấy và đã nghe” về điều đã cảm giác ...(như trên)... “Tôi đã thấy” về điều đã nhận thức ...(như trên)... “Tôi đã nghe” về điều đã nhận thức ...(như trên)... “Tôi đã cảm giác” về điều đã nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy và đã nghe” về điều đã nhận thức ...(như trên)... “Tôi đã thấy và đã cảm giác” về điều đã nhận thức ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy, đã nghe, và đã cảm giác” về điều đã nhận thức bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... 

[180] Với ba yếu tố, vị có hoài nghi về điều đã thấy, không tin điều đã thấy, không nhớ về điều đã thấy, quên điều đã thấy lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy và đã nghe” bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ...(như trên)... lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã thấy và đã nghe, đã cảm giác, và đã nhận thức” bị phạm tội pācittiya ...(như trên)... vị có hoài nghi về điều đã nghe, không tin điều đã nghe, không nhớ về điều đã nghe, quên điều đã nghe ...(như trên)... vị có hoài nghi về điều đã cảm giác, không tin điều đã cảm giác, không nhớ về điều đã cảm giác, quên điều đã cảm giác ...(như trên)... Với ba yếu tố, vị có hoài nghi về điều đã nhận thức, không tin điều đã nhận thức, không nhớ về điều đã nhận thức, quên điều đã nhận thức lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức và đã thấy” ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức và đã nghe” ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức và đã cảm giác” ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức, đã thấy, và đã nghe” ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức, đã thấy, và đã cảm giác” ...(như trên)... “Tôi đã nhận thức, đã thấy, đã nghe, và đã cảm giác” bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.” 

Với bốn yếu tố, ...(như trên)... Với năm yếu tố, ...(như trên)... Với sáu yếu tố, ...(như trên)... Với bảy yếu tố, vị có hoài nghi về điều đã nhận thức, không tin điều đã nhận thức, không nhớ về điều đã nhận thức, quên điều đã nhận thức lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã nhận thức, đã thấy, đã nghe, và đã cảm giác” bị phạm tội pācittiya (ưng đối trị): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.

[181] Vị nói không suy nghĩ, vị nói theo thói quen (vị nói không suy nghĩ–davāya bhaṇati–nghĩa là vị nói nhanh, vị nói theo thói quen–ravāya bhaṇati–nghĩa là vị nghĩ rằng: “Ta sẽ nói điều này” lại nói điều khác), vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ nhất.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:

[182] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong khi cãi cọ với các tỳ khưu hiền thiện đã mắng nhiếc các tỳ khưu hiền thiện theo sự sanh ra, theo tên gọi, theo dòng họ, theo công việc, theo nghề nghiệp, theo bệnh tật, theo đặc điểm, theo phiền não, theo tội vi phạm, lại còn chửi rủa và khinh bỉ bằng sự sỉ vả hạ tiện. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong khi cãi cọ với các tỳ khưu hiền thiện lại mắng nhiếc các tỳ khưu hiền thiện theo sự sanh ra, theo tên gọi, theo dòng họ, theo công việc, theo nghề nghiệp, theo bệnh tật, theo đặc điểm, theo phiền não, theo tội vi phạm, lại còn chửi rủa và khinh bỉ bằng sự sỉ vả hạ tiện?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi trong khi cãi cọ với các tỳ khưu hiền thiện đã mắng nhiếc các tỳ khưu hiền thiện theo sự sanh ra, theo tên gọi, theo dòng họ, theo công việc, theo nghề nghiệp, theo bệnh tật, theo đặc điểm, theo phiền não, theo tội vi phạm, lại còn chửi rủa và khinh bỉ bằng sự sỉ vả hạ tiện, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: 

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi trong khi cãi cọ với các tỳ khưu hiền thiện lại mắng nhiếc các tỳ khưu hiền thiện theo sự sanh ra, theo tên gọi, theo dòng họ, theo công việc, theo nghề nghiệp, theo bệnh tật, theo đặc điểm, theo phiền não, theo tội vi phạm, lại còn chửi rủa và khinh bỉ bằng sự sỉ vả hạ tiện? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… 

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: 

[183] - Này các tỳ khưu, vào thời trước đây ở thành Takkasilā có người bà-la-môn nọ có con bò mộng tên là Nandivisāla. Này các tỳ khưu, khi ấy con bò mộng Nandivisāla đã nói với người bà-la-môn ấy điều này: “Này Bà-la-môn, hãy đi và hãy đánh cá với nhà phú thương một ngàn (nói rằng): ‘Con bò mộng của chúng tôi sẽ lôi đi một trăm xe kéo được nối liền với nhau.’” Này các tỳ khưu, sau đó người bà-la-môn ấy đã đánh cá với nhà phú thương một ngàn (nói rằng): ‘Con bò mộng của chúng tôi sẽ lôi đi một trăm xe kéo được nối liền với nhau.’ Này các tỳ khưu, sau đó người bà-la-môn ấy đã nối liền một trăm xe kéo lại với nhau rồi máng con bò mộng Nandivisāla vào và đã nói điều này: “Này đồ xạo, hãy đi. Này đồ xạo, hãy kéo.” Này các tỳ khưu, khi ấy con bò mộng Nandivisāla đã đứng yên ngay tại chỗ ấy. Này các tỳ khưu, khi ấy người bà-la-môn ấy bị thua một ngàn nên đã rầu rĩ. 

Này các tỳ khưu, khi ấy con bò mộng Nandivisāla đã nói với người bà-la-môn ấy điều này: “Này Bà-la-môn, vì sao ngươi lại rầu rĩ vậy?” “Này ông bò, bởi vì do ông mà ta đã bị thua một ngàn như thế.” “Này Bà-la-môn, vì sao ngươi lại bôi xấu ta bằng cách nói đồ xạo (trong khi) ta là kẻ không xạo? Này Bà-la-môn, ngươi hãy đi và hãy đánh cá với nhà phú thương hai ngàn (nói rằng): ‘Con bò mộng của chúng tôi sẽ lôi đi một trăm xe kéo được nối liền với nhau.’ Và chớ có bôi xấu ta bằng cách nói đồ xạo (trong khi) ta là kẻ không xạo.” Này các tỳ khưu, sau đó người bà-la-môn ấy đã đánh cá với nhà phú thương hai ngàn (nói rằng): ‘Con bò mộng của chúng tôi sẽ lôi đi một trăm xe kéo được nối liền với nhau.’ Này các tỳ khưu, rồi người bà-la-môn ấy sau khi nối liền một trăm xe kéo lại với nhau rồi đã máng con bò mộng Nandivisāla vào và đã nói điều này: “Này bạn hiền, hãy đi. Này bạn hiền, hãy kéo.” Này các tỳ khưu, khi ấy con bò mộng Nandivisāla đã lôi đi một trăm xe kéo được nối liền với nhau.

[184] 

Vị nói lời hoà nhã,
không hoà nhã luôn tránh.
Được nói lời hoà nhã
bò kéo đi gánh nặng,
vị thành tựu tài sản
nhờ vậy được hoan hỷ.

[185] Này các tỳ khưu, ngay từ thời ấy ta còn không hài lòng với sự chửi rủa, với sự khinh bỉ, thì hiện nay điều gì khiến ta sẽ hài lòng với sự chửi rủa, với sự khinh bỉ được? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi nói lời mắng nhiếc thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” 

[186] Lời mắng nhiếc nghĩa là vị mắng nhiếc theo mười sự việc: theo sự sanh ra, theo tên gọi, theo dòng họ, theo công việc, theo nghề nghiệp, theo bệnh hoạn, theo đặc điểm, theo phiền não, theo tội phạm, và bằng sự sỉ vả. 

[187] Sự sanh ra nghĩa là có hai sự sanh ra: sự sanh ra thấp kém và sự sanh ra cao quý. Sự sanh ra thấp kém nghĩa là sự sanh ra của hạng cùng đinh, sự sanh ra của hạng đan tre, sự sanh ra của hạng thợ săn, sự sanh ra của hạng làm xe, sự sanh ra của hạng hốt rác; sự sanh ra ấy gọi là sự sanh ra thấp kém. Sự sanh ra cao quý là sự sanh ra của hạng sát-đế-lỵ và sự sanh ra của bà-la-môn; sự sanh ra ấy gọi là sự sanh ra cao quý. 

[188] Tên gọi nghĩa là có hai loại tên gọi: tên gọi thấp kém và tên gọi cao quý. Tên gọi thấp kém nghĩa là tên Avakaṇṇaka, Javakaṇṇaka, Dhaniṭṭhaka, Saviṭṭhaka, Kulavaḍḍhaka hoặc là (tên gọi) bị khinh bỉ, bị chê bai, bị ghê tởm, bị xem thường, không được tôn trọng ngay trong những xứ sở ấy; tên gọi ấy gọi là tên gọi thấp kém. Tên gọi cao quý nghĩa là được liên quan đến đức Phật, được liên quan đến đức Pháp, được liên quan đến đức Tăng, hoặc là (tên gọi) không bị khinh bỉ, không bị chê bai, không bị ghê tởm, không bị xem thường, được tôn trọng ngay trong những xứ sở ấy; tên gọi ấy gọi là tên gọi cao quý. 

[189] Dòng họ nghĩa là có hai loại dòng họ: dòng họ thấp kém và dòng họ cao quý. Dòng họ thấp kém nghĩa là dòng họ Kosiya, dòng họ Bhāradvāja, hoặc là (dòng họ) bị khinh bỉ, bị chê bai, bị ghê tởm, bị xem thường, không được tôn trọng ngay trong những xứ sở ấy; dòng họ ấy gọi là dòng họ thấp kém. Dòng họ cao quý nghĩa là dòng họ Gotama, dòng họ Moggallāna, dòng họ Kaccāyana, dòng họ Vāseṭṭha, hoặc là (dòng họ) không bị khinh bỉ, không bị chê bai, không bị ghê tởm, không bị xem thường, được tôn trọng ngay trong những xứ sở ấy; dòng họ ấy gọi là dòng họ cao quý. 

[190] Công việc nghĩa là có hai loại công việc: công việc thấp kém và công việc cao quý. Công việc thấp kém nghĩa là công việc của thợ mộc, công việc hốt dọn bông hoa, hoặc là (công việc) bị khinh bỉ, bị chê bai, bị ghê tởm, bị xem thường, không được tôn trọng ngay trong những xứ sở ấy; công việc ấy gọi là công việc thấp kém. Công việc cao quý nghĩa là việc đồng áng, việc thương buôn, việc chăn bò, hoặc là (công việc) không bị khinh bỉ, không bị chê bai, không bị ghê tởm, không bị xem thường, được tôn trọng trong những xứ sở ấy; công việc ấy gọi là công việc cao quý. 

[191] Nghề nghiệp nghĩa là có hai loại nghề nghiệp: nghề nghiệp thấp kém và nghề nghiệp cao quý. Nghề nghiệp thấp kém nghĩa là nghề đan tre, nghề làm gốm, nghề thợ dệt, nghề thuộc da, nghề hớt tóc, hoặc là (nghề nghiệp) bị khinh bỉ, bị chê bai, bị ghê tởm, bị xem thường, không được tôn trọng ngay trong những xứ sở ấy; nghề nghiệp ấy gọi là nghề nghiệp thấp kém. Nghề nghiệp cao quý nghĩa là nghề quản lý, nghề kế toán, nghề thư ký, hoặc là (nghề nghiệp) không bị khinh bỉ, không bị chê bai, không bị ghê tởm, không bị xem thường, được tôn trọng trong những xứ sở ấy; nghề nghiệp ấy gọi là nghề nghiệp cao quý. 

[192] Tất cả các bệnh hoạn là thấp kém, tuy nhiên bệnh tiểu đường là cao quý.

[193] Đặc điểm nghĩa là có hai đặc điểm: đặc điểm thấp kém và đặc điểm cao quý. Đặc điểm thấp kém nghĩa là quá cao, quá lùn, quá đen, quá trắng; đặc điểm ấy gọi là đặc điểm thấp kém. Đặc điểm cao quý nghĩa là không quá cao, không quá lùn, không quá đen, không quá trắng; đặc điểm ấy gọi là đặc điểm cao quý. 

[194] Tất cả các phiền não là thấp kém.

[195] Tất cả các tội vi phạm là thấp kém. Tuy nhiên, sự thành đạt quả vị Nhập Lưu[2] là cao quý.

[196] Sự sỉ vả nghĩa là có hai sự sỉ vả: sự sỉ vả thấp kém và sự sỉ vả cao quý. Sự sỉ vả thấp kém nghĩa là (nói rằng): “Ngươi là con lạc đà, ngươi là con cừu, ngươi là con bò , ngươi là con lừa, ngươi là loài thú, ngươi đi địa ngục, không có cõi trời cho ngươi, khổ cảnh chờ đợi ngươi,” đệm vào tiếng “ya,” hoặc đệm vào tiếng “bha,” hoặc gọi là “kāṭa” đối với người nam và “koṭacikā” đối với người nữ; sự sỉ vả ấy gọi là sự sỉ vả thấp kém. Sự sỉ vả cao quý nghĩa là (nói rằng): “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” sự sỉ vả ấy gọi là sự sỉ vả cao quý. 

[197] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) thấp kém là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là hạng cùng đinh, ngươi là hạng đan tre, ngươi là hạng thợ săn, ngươi là hạng làm xe, ngươi là hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[198] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) cao quý là hạng sát-đế-lỵ, hạng bà-la-môn rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là hạng cùng đinh, ngươi là hạng đan tre, ngươi là hạng thợ săn, ngươi là hạng làm xe, ngươi là hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[199] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) thấp kém là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là sát-đế-lỵ, ngươi là bà-la-môn;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[200] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) cao quý là hạng sát-đế-lỵ, hạng bà-la-môn rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là sát-đế-lỵ, ngươi là bà-la-môn;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[201] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có tên gọi) thấp kém là Avakaṇṇaka, Javakaṇṇaka, Dhaniṭṭhaka, Saviṭṭhaka, Kulavaḍḍhaka rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là Avakaṇṇaka, ngươi là Javakaṇṇaka, ngươi là Dhaniṭṭhaka, ngươi là Saviṭṭhaka, ngươi là Kulavaḍḍhaka;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[202] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có tên gọi) cao quý là Buddharakkhita Dhammarakkhita Saṅgharakkhita rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là Avakaṇṇaka, ngươi là Javakaṇṇaka, ngươi là Dhaniṭṭhaka, ngươi là Saviṭṭhaka, ngươi là Kulavaḍḍhaka;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[203] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có tên gọi) thấp kém là Avakaṇṇaka, Javakaṇṇaka, Dhaniṭṭhaka, Saviṭṭhaka, Kulavaḍḍhaka rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là Buddharakkhita, ngươi là Dhammarakkhita, ngươi là Saṅgharakkhita;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[204] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có tên gọi) cao quý là Buddharakkhita Dhammarakkhita Saṅgharakkhita rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là Buddharakkhita, ngươi là Dhammarakkhita, ngươi là Saṅgharakkhita;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[205] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có dòng họ) thấp kém là Kosiya, Bhāradvāja rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là Kosiya, ngươi là Bhāradvāja;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[206] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có dòng họ) cao quý là Gotama, Moggallāna, Kaccāyana, Vāseṭṭha rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là Kosiya, ngươi là Bhāradvāja;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[207] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có dòng họ) thấp kém là Kosiya, Bhāradvāja rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là Gotama, ngươi là Moggallāna, ngươi là Kaccāyana, ngươi là Vāseṭṭha;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[208] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có dòng họ) cao quý là Gotama, Moggallāna, Kaccāyana, Vāseṭṭha rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là Gotama, ngươi là Moggallāna, ngươi là Kaccāyana, ngươi là Vāseṭṭha;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[209] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có công việc) thấp kém là thợ mộc, người hốt dọn bông hoa rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là thợ mộc, ngươi là người hốt dọn bông hoa;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[210] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có công việc) cao quý là nông phu, thương buôn, người chăn bò rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là thợ mộc, ngươi là người hốt dọn bông hoa;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[211] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có công việc) thấp kém là thợ mộc, người hốt dọn bông hoa rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là nông phu, ngươi là thương buôn, ngươi là người chăn bò;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[212] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có công việc) cao quý là nông phu, thương buôn, người chăn bò rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là nông phu, ngươi là thương buôn, ngươi là người chăn bò;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[213] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nghề nghiệp) thấp kém là nghề đan tre, nghề làm gốm, nghề thợ dệt, nghề thuộc da, nghề hớt tóc rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là thợ đan tre, ngươi là thợ làm gốm, ngươi là thợ dệt, ngươi là thợ thuộc da, ngươi là thợ hớt tóc;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[214] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nghề nghiệp) cao quý là quản lý, kế toán, thư ký rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là thợ đan tre, ngươi là thợ làm gốm, ngươi là thợ dệt, ngươi là thợ thuộc da, ngươi là thợ hớt tóc;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[215] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nghề nghiệp) thấp kém là thợ đan tre, thợ làm gốm, thợ dệt, thợ thuộc da, thợ hớt tóc rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là quản lý, ngươi là kế toán, ngươi là thư ký;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[216] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nghề nghiệp) cao quý là quản lý, kế toán, thư ký rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là quản lý, ngươi là kế toán, ngươi là thư ký;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[217] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có bệnh hoạn) thấp kém là bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là người bệnh cùi, ngươi là người bệnh mụt nhọt, ngươi là người bệnh chàm, ngươi là người bệnh lao phổi, ngươi là người bệnh động kinh;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[218] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có bệnh hoạn) cao quý là bệnh tiểu đường rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là người bệnh cùi, ngươi là người bệnh mụt nhọt, ngươi là người bệnh chàm, ngươi là người bệnh lao phổi, ngươi là người bệnh động kinh;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[219] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có bệnh hoạn) thấp kém là bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người bệnh tiểu đường;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[220] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có bệnh hoạn) cao quý là bệnh tiểu đường rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người bệnh tiểu đường;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[221] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có đặc điểm) thấp kém là quá cao, quá lùn, quá đen, quá trắng rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là quá cao, ngươi là quá lùn, ngươi là quá đen, ngươi là quá trắng;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[222] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có đặc điểm) cao quý là không quá cao, không quá lùn, không quá đen, không quá trắng rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là quá cao, ngươi là quá lùn, ngươi là quá đen, ngươi là quá trắng;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[223] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có đặc điểm) thấp kém là quá cao, quá lùn, quá đen, quá trắng rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là không quá cao, ngươi là không quá lùn, ngươi là không quá đen, ngươi là không quá trắng;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[224] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có đặc điểm) cao quý là không quá cao, không quá lùn, không quá đen, không quá trắng rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là không quá cao, ngươi là không quá lùn, ngươi là không quá đen, ngươi là không quá trắng;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[225] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nội tâm) thấp kém bị tham khuấy nhiễu, bị sân khuấy nhiễu, bị si khuấy nhiễu rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi bị tham khuấy nhiễu, ngươi bị sân khuấy nhiễu, ngươi bị si khuấy nhiễu;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[226] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nội tâm) cao quý là có sự đoạn tận tham, có sự đoạn tận sân, có sự đoạn tận si rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi bị tham khuấy nhiễu, ngươi bị sân khuấy nhiễu, ngươi bị si khuấy nhiễu;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[227] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nội tâm) thấp kém bị tham khuấy nhiễu, bị sân khuấy nhiễu, bị si khuấy nhiễu rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi đã đoạn tận tham, ngươi đã đoạn tận sân, ngươi đã đoạn tận si;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[228] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có nội tâm) cao quý là có sự đoạn tận tham, có sự đoạn tận sân, có sự đoạn tận si rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi đã đoạn tận tham, ngươi đã đoạn tận sân, ngươi đã đoạn tận si;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[229] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có āpatti) thấp kém là bị phạm tội pārājika, bị phạm tội saṅghādisesa, bị phạm tội thullaccaya, bị phạm tội pācittiya, bị phạm tội pāṭidesanīya, bị phạm tội dukkaṭa, bị phạm tội dubbhāsita rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi đã phạm tội pārājika, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa, ngươi đã phạm tội thullaccaya, ngươi đã phạm tội pācittiya, ngươi đã phạm tội pāṭidesanīya, ngươi đã phạm tội dukkaṭa, ngươi đã phạm tội dubbhāsita;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[230] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có āpatti) cao quý là đã chứng đạt quả vị Nhập Lưu (Sota-āpatti) rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi đã phạm tội pārājika, ...(như trên)... ngươi đã phạm tội dubbhāsita;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[231] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có āpatti) thấp kém là phạm tội pārājika, ...(như trên)... phạm tội dubbhāsita rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi đã chứng đạt quả vị Nhập Lưu (Sotāpatti);” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[232] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (có āpatti) cao quý là đã chứng đạt quả vị Nhập Lưu (Sota-āpatti) rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi đã chứng đạt quả vị Nhập Lưu (Sotāpatti);” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[233] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) thấp kém là con lạc đà, con cừu, con bò, con lừa, loài thú, người địa ngục rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là con lạc đà, ngươi là con cừu, ngươi là con bò, ngươi là con lừa, ngươi là loài thú, ngươi đi địa ngục, không có cõi trời cho ngươi, khổ cảnh chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[234] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) cao quý là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là con lạc đà, ngươi là con cừu, ngươi là con bò, ngươi là con lừa, ngươi là loài thú, ngươi đi địa ngục, không có cõi trời cho ngươi, khổ cảnh chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[235] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) thấp kém là con lạc đà, con cừu, con bò, con lừa, loài thú, người địa ngục rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[236] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) cao quý là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[237] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[238] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là sát-đế-lỵ, là bà-la-môn;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[239] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là Avakaṇṇaka, Javakaṇṇaka, Dhaniṭṭhaka, Saviṭṭhaka, Kulavaḍḍhaka;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là Buddharakkhita Dhammarakkhita Saṅgharakkhita;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là Kosiya, Bhāradvāja;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là Gotama, Moggallāna, Kaccāyana, Vāseṭṭha;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là thợ mộc, người hốt dọn bông hoa;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là nông phu, thương buôn, người chăn bò;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là thợ đan tre, thợ làm gốm, thợ dệt, thợ thuộc da, thợ hớt tóc;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là quản lý, kế toán, thư ký;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là người bệnh cùi, người bệnh mụt nhọt, người bệnh chàm, người bệnh lao phổi, người bệnh động kinh;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là người bệnh tiểu đường;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là quá cao, quá lùn, quá đen, quá trắng;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là không quá cao, không quá lùn, không quá đen, không quá trắng;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị bị tham khuấy nhiễu, bị sân khuấy nhiễu, bị si khuấy nhiễu;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị đã đoạn tận tham, đã đoạn tận sân, đã đoạn tận si;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị đã phạm tội pārājika, ...(như trên)... đã phạm tội dubbhāsita;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị đã chứng đạt quả vị Nhập Lưu;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là con lạc đà, con cừu, con bò, con lừa, loài thú, người địa ngục, không có cõi trời cho những người ấy, khổ cảnh chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[240] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[241] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Có lẽ những người này là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. ...(như trên)... 

Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Có lẽ những người này là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[242] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Chúng tôi không phải là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Chúng tôi không phải là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho chúng tôi, cõi trời chờ đợi chúng tôi;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[243] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục người chưa tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) thấp kém rồi nói theo sự thấp kém rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) cao quý rồi nói theo sự thấp kém rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) thấp kém rồi nói theo sự cao quý rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) cao quý là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[244] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục người chưa tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[245] Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục người chưa tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Có lẽ những người này là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. ...(như trên)... “Có lẽ những người này là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

Vị đã tu lên bậc trên có ý định chửi rủa, có ý định khinh bỉ, có ý định hạ nhục người chưa tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Chúng tôi không phải là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Chúng tôi không phải là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho chúng tôi, cõi trời chờ đợi chúng tôi;” vị nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[246] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) thấp kém là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là hạng cùng đinh, ngươi là hạng đan tre, ngươi là hạng thợ săn, ngươi là hạng làm xe, ngươi là hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) cao quý là hạng sát-đế-lỵ, hạng bà-la-môn rồi nói theo sự thấp kém rằng: “Ngươi là hạng cùng đinh, ngươi là hạng đan tre, ngươi là hạng thợ săn, ngươi là hạng làm xe, ngươi là hạng hốt rác;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) thấp kém là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là sát-đế-lỵ, ngươi là bà-la-môn;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên (có sự sanh ra) cao quý là hạng sát-đế-lỵ, hạng bà-la-môn rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là sát-đế-lỵ, ngươi là bà-la-môn;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. ...(như trên)... 

Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) thấp kém rồi nói theo sự thấp kém rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) cao quý rồi nói theo sự thấp kém rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) thấp kém rồi nói theo sự cao quý rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) cao quý rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói.

[247] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

[248] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Có lẽ những người này là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Có lẽ những người này là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

[249] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn vị đã tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Chúng tôi không phải là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Chúng tôi không phải là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho chúng tôi, cõi trời chờ đợi chúng tôi;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

[250] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn người chưa tu lên bậc trên (bằng sự sỉ vả) thấp kém rồi nói theo sự thấp kém rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) cao quý rồi nói theo sự thấp kém rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) thấp kém rồi nói theo sự cao quý rằng ...(như trên)... (bằng sự sỉ vả) cao quý rồi nói theo sự cao quý rằng: “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói.

[251] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn người chưa tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Ở đây, có một số vị là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Ở đây, có một số vị là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

[252] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn người chưa tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Có lẽ những người này là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Có lẽ những người này là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

[253] Vị đã tu lên bậc trên không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn người chưa tu lên bậc trên rồi nói như vầy: “Chúng tôi không phải là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác;” vị nói thì ...(như trên)... “Chúng tôi không phải là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho chúng tôi, cõi trời chờ đợi chúng tôi;” vị nói thì phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) theo từng lời nói. 

[254] Vị (nói để) đề cập đến ý nghĩa, vị (nói để) đề cập đến Pháp, vị (nói) nhắm đến sự giảng dạy, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ nhì.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ BA:

[255] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tạo ra sự đâm thọc giữa các tỳ khưu đang có sự xung đột, đang có sự cãi cọ, đang đưa đến các sự tranh luận, sau khi nghe từ vị này rồi kể lại cho vị kia đưa đến sự chia rẽ với vị này, sau khi nghe từ vị kia rồi kể lại cho vị này đưa đến sự chia rẽ với vị kia; vì thế các sự xung đột chưa sanh khởi được sanh khởi, và các sự xung đột đã sanh khởi càng phát triển rộng lớn và tăng thêm nhiều hơn nữa.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tạo ra sự đâm thọc giữa các tỳ khưu đang có sự xung đột, đang có sự cãi cọ, đang đưa đến sự tranh luận, sau khi nghe từ vị này rồi kể lại cho vị kia đưa đến sự chia rẽ với vị này, sau khi nghe từ vị kia rồi kể lại cho vị này đưa đến sự chia rẽ với vị kia; vì thế các sự xung đột chưa sanh khởi được sanh khởi, và các sự xung đột đã sanh khởi càng phát triển rộng lớn và tăng thêm nhiều hơn nữa?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)… 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tạo ra sự đâm thọc giữa các tỳ khưu đang có sự xung đột, đang có sự cãi cọ, đang đưa đến sự tranh luận, sau khi nghe từ vị này rồi kể lại cho vị kia đưa đến sự chia rẽ với vị này, sau khi nghe từ vị kia rồi kể lại cho vị này đưa đến sự chia rẽ với vị kia; vì thế các sự xung đột chưa sanh khởi được sanh khởi, và các sự xung đột đã sanh khởi càng phát triển rộng lớn và tăng thêm nhiều hơn nữa, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: 

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tạo ra sự đâm thọc giữa các tỳ khưu đang có sự xung đột, đang có sự cãi cọ, đang đưa đến sự tranh luận, sau khi nghe từ vị này rồi kể lại cho vị kia đưa đến sự chia rẽ với vị này, sau khi nghe từ vị kia rồi kể lại cho vị này đưa đến sự chia rẽ với vị kia; vì thế các sự xung đột chưa sanh khởi được sanh khởi, và các sự xung đột đã sanh khởi càng phát triển rộng lớn và tăng thêm nhiều hơn nữa vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi (tạo ra) sự đâm thọc giữa các tỳ khưu thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” 

[256] Sự đâm thọc nghĩa là sự đâm thọc vì hai nguyên do: của vị ao ước được thương hoặc là của vị có ý định chia rẽ. Vị tạo ra sự đâm thọc theo mười sự việc: theo sự sanh ra, theo tên gọi, theo dòng họ, theo công việc, theo nghề nghiệp, theo bệnh hoạn, theo đặc điểm, theo phiền não, theo tội vi phạm, và bằng sự sỉ vả. 

Sự sanh ra nghĩa là có hai sự sanh ra: sự sanh ra thấp kém và sự sanh ra cao quý. Sự sanh ra thấp kém nghĩa là sự sanh ra của hạng cùng đinh, sự sanh ra của hạng đan tre, sự sanh ra của hạng thợ săn, sự sanh ra của hạng làm xe, sự sanh ra của hạng hốt rác; sự sanh ra ấy gọi là sự sanh ra thấp kém. Sự sanh ra cao quý là sự sanh ra của hạng sát-đế-lỵ và sự sanh ra của bà-la-môn; sự sanh ra ấy gọi là sự sanh ra cao quý. ...(như trên)... 

Sự sỉ vả nghĩa là có hai sự sỉ vả: sự sỉ vả thấp kém và sự sỉ vả cao quý. Sự sỉ vả thấp kém nghĩa là (nói rằng): “Ngươi là con lạc đà, ngươi là con cừu, ngươi là con bò, ngươi là con lừa, ngươi là loài thú, ngươi đi địa ngục, không có cõi trời cho ngươi, khổ cảnh chờ đợi ngươi,” đệm vào tiếng “ya,” hoặc đệm vào tiếng “bha,” hoặc gọi là “kāṭa” đối với người nam và “koṭacikā” đối với người nữ; sự sỉ vả ấy gọi là sự sỉ vả thấp kém. Sự sỉ vả cao quý nghĩa là (nói rằng): “Ngươi là người thông thái, ngươi là người có kinh nghiệm, ngươi là người thông minh, ngươi là người học rộng, ngươi là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi;” sự sỉ vả ấy gọi là sự sỉ vả cao quý. 

[257] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[258] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là sát-đế-lỵ, bà-la-môn” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[259] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là Avakaṇṇaka, Javakaṇṇaka, Dhaniṭṭhaka, Saviṭṭhaka, Kulavaḍḍhaka” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[260] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là Buddharakkhita, Dhammarakkhita, Saṅgharakkhita” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[261] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là Kosiya, Bhāradvāja” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[262] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là Gotama, Moggallāna, Kaccāyana, Vāseṭṭha” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[263] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là thợ mộc, người hốt dọn bông hoa” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[264] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là nông phu, thương buôn, người chăn bò” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[265] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là thợ đan tre, thợ làm gốm, thợ dệt, thợ thuộc da, thợ hớt tóc” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[266] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là quản lý, kế toán, thư ký” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[267] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là người bệnh cùi, người bệnh mụt nhọt, người bệnh chàm, người bệnh lao phổi, người bệnh động kinh” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[268] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là người bệnh tiểu đường” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[269] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là quá cao, quá lùn, quá đen, quá trắng” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[270] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là không quá cao, không quá lùn, không quá đen, không quá trắng” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[271] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi bị tham khuấy nhiễu, bị sân khuấy nhiễu, bị si khuấy nhiễu” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[272] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi đã đoạn tận tham, đã đoạn tận sân, đã đoạn tận si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[273] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi phạm tội pārājika, phạm tội saṅghādisesa, phạm tội thullaccaya, phạm tội pācittiya, phạm tội pāṭidesanīya, phạm tội dukkaṭa, phạm tội dubbhāsita” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[274] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là vị Nhập Lưu” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[275] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là con lạc đà, con cừu, con bò, con lừa, loài thú, người địa ngục, không có cõi trời cho ngươi, khổ cảnh chờ đợi ngươi” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[276] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói ngươi là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là vị Pháp sư, không có khổ cảnh cho ngươi, cõi trời chờ đợi ngươi” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

[277] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: ‘Ở đây có một số vị là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[278] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: ‘Ở đây có một số vị là sát-đế-lỵ, là bà-la-môn.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[279] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: ‘Ở đây có một số vị là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho những người ấy, cõi trời chờ đợi những người ấy.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[280] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: Có lẽ những người này là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. ...(như trên)... 

Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: ‘Có lẽ những người nào là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, những người ấy không có khổ cảnh, cõi trời chờ đợi những người ấy.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[281] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: ‘Chúng tôi không phải là hạng cùng đinh, hạng đan tre, hạng thợ săn, hạng làm xe, hạng hốt rác.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. ...(như trên)... 

Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên (nói rằng): “Vị tên (như vầy) nói: ‘Chúng tôi không phải là thông thái, có kinh nghiệm, thông minh, học rộng, là Pháp sư, không có khổ cảnh cho chúng tôi, cõi trời chờ đợi chúng tôi.’ Vị ấy chỉ nói điều ấy, không nói điều khác” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói. 

[282] Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) theo từng lời nói.

Vị đã tu lên bậc trên nghe từ vị đã tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

Vị đã tu lên bậc trên nghe từ người chưa tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với vị đã tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

Vị đã tu lên bậc trên nghe từ người chưa tu lên bậc trên rồi tạo ra sự đâm thọc đối với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) theo từng lời nói.

[283] Vị không ao ước được thương, vị không có ý định chia rẽ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ ba.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:

[284] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư dạy các cư sĩ đọc Pháp theo từng câu. Các cư sĩ sống không tôn kính, không nghe lời, cư xử không thích đáng đối với các tỳ khưu. 

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại dạy các cư sĩ đọc Pháp theo từng câu khiến các cư sĩ sống không tôn kính, không nghe lời, cư xử không thích đáng đối với các tỳ khưu? 

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)… 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi dạy các cư sĩ đọc Pháp theo từng câu khiến các cư sĩ sống không tôn kính, không nghe lời, cư xử không thích đáng đối với các tỳ khưu, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: 

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại dạy các cư sĩ đọc Pháp theo từng câu khiến các cư sĩ sống không tôn kính, không nghe lời, cư xử không thích đáng đối với các tỳ khưu vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này nh