VIII.
CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ) (tt)
PHẦN
VẬT THỰC - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[470]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
ở không xa thành Sāvatthi có phường hội nọ sắp đặt sự
thí thực tại phước xá. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư vào buổi
sáng sau khi mặc y, cầm y bát, đi vào thành Sāvatthi để khất
thực, khi không nhận được đồ ăn khất thực đã đi đến
phước xá. Dân chúng (nói rằng): “Lâu lắm các ngài đại
đức mới đến” rồi đã phục vụ một cách trịnh trọng.
Sau đó vào ngày thứ nhì, vào ngày thứ ba, các tỳ khưu nhóm
Lục Sư vào buổi sáng sau khi mặc y, cầm y bát, đã đi vào
thành Sāvatthi để khất thực, khi không nhận được đồ
ăn khất thực đã đi đến phước xá và thọ thực. Sau đó,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã khởi ý điều này: “Chúng
ta sẽ làm điều gì đây, có nên đi về tu viện rồi cũng
sẽ trở lại chính nơi này?” Các vị tiếp tục cư ngụ
tại chính nơi ấy và thọ dụng vật thực ở phước xá.
Các ngoại đạo lánh xa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử cứ tiếp tục cư trú và thọ dụng
vật thực ở phước xá? Vật thực ở phước xá được sắp
đặt đâu có dành riêng cho các vị; vật thực ở phước
xá được sắp đặt dành cho tất cả!
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tiếp tục cư trú và thọ
dụng vật thực ở phước xá?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tiếp tục cư trú và thọ
dụng vật thực ở phước xá, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tiếp tục cư trú
và thọ dụng vật thực ở phước xá vậy? Này những kẻ
rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vật thực
ở phước xá được thọ dụng một lần. Nếu vượt quá
số ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều
học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu
như thế.
[471]
Vào lúc bấy giờ, đại đức Sārīputta trong khi đi đến thành
Sāvatthi ở trong xứ sở Kosala đã ghé lại phước xá nọ.
Dân chúng (nói rằng): “Lâu lắm trưởng lão mới đến”
rồi đã phục vụ một cách trịnh trọng. Sau đó, khi đại
đức Sārīputta đã thọ thực xong, có cơn bệnh ngặt nghèo
đã phát khởi. Đại đức đã không thể rời trú xá ấy
ra đi. Sau đó vào ngày thứ nhì, những người ấy đã nói
với đại đức Sārīputta điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy thọ thực.
Khi
ấy, đại đức Sārīputta (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã
cấm tiếp tục cư trú và thọ dụng vật thực ở phước
xá,” trong lúc ngần ngại đã không thọ lãnh nên bữa ăn
đã bị lỡ. Sau đó, đại đức Sārīputta đã đi đến thành
Sāvatthi và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ
khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức
Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh được tiếp
tục cư trú và thọ thực ở phước xá. Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu không bị bệnh được thọ dụng vật thực ở phước
xá một lần. Nếu vượt quá số ấy thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[472]
Không bị bệnh nghĩa là có thể lìa phước xá ấy ra đi.
Bệnh
nghĩa là không thể lìa phước xá ấy ra đi.
Vật
thực ở phước xá nghĩa là loại vật thực nào đó thuộc
về năm loại vật thực được phân phát theo nhu cầu không
chỉ định (người thọ) ở trong phòng, hoặc ở mái che, hoặc
ở gốc cây, hoặc ở ngoài trời. Vị tỳ khưu không bị bệnh
nên thọ thực một lần, nếu (nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn”
rồi thọ lãnh vượt quá số lần ấy thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
[473]
Khi không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị thọ
dụng vật thực ở phước xá vượt quá số lần ấy thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị thọ dụng vật thực
ở phước xá vượt quá số lần ấy thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Khi
không bị bệnh, (lầm) tưởng là có bệnh, vị thọ dụng
vật thực ở phước xá vượt quá số lần ấy thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Khi
bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.
[474]
Vị bị bệnh, vị không bị bệnh thọ thực một lần, vị
thọ thực khi chuẩn bị ra đi hoặc khi vừa mới đến, các
người chủ thỉnh và mời ăn, được sắp đặt dành riêng
(cho vị ấy), được sắp đặt không đủ theo nhu cầu (phần
ăn rất ít ỏi), trừ ra năm loại vật thực (thọ dụng) tất
cả (các thức khác) thì không phạm tội, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[475]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta
bị mất mát về lợi lộc và danh vọng nên cùng với tùy
tùng liên tục yêu cầu các gia đình rồi thọ thực. Dân chúng
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại liên tục yêu cầu các gia đình
rồi thọ thực? Khi được đầy đủ ai mà không vừa ý? Đồ
ngon ngọt ai lại không thích thú?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao Devadatta cùng với tùy tùng lại liên tục yêu cầu các
gia đình rồi thọ thực?
…(như
trên)…
- Này
Devadatta, nghe nói ngươi cùng với tùy tùng liên tục yêu cầu
các gia đình rồi thọ thực, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi cùng với tùy tùng lại liên tục
yêu cầu các gia đình rồi thọ thực vậy? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[476]
Vào lúc bấy giờ, dân chúng thỉnh mời các tỳ khưu bị bệnh
với bữa trai phạn. Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không
nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật
thực dâng chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu
rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu bị bệnh được thọ dụng
vật thực dâng chung nhóm. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là:
trường hợp bị bệnh. Đây là duyên cớ trong trường hợp
ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định
cho các tỳ khưu như thế.
[477]
Vào lúc bấy giờ, trong thời hạn dâng y dân chúng sau khi chuẩn
bị bữa trai phạn có dâng y rồi thỉnh mời các tỳ khưu
(nói rằng): “Sau khi mời thọ thực, chúng tôi sẽ dâng y.”
Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.”
Y được phát sanh ít ỏi. Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm
trong thời hạn dâng y. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật thực
dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường
hợp bị bệnh, trong thời hạn dâng y. Đây là duyên cớ trong
trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế
Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[478]
Vào lúc bấy giờ, dân chúng thỉnh mời các tỳ khưu là những
vị đang may y với bữa trai phạn. Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm
đoán vật thực dâng chung nhóm.” Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm
trong lúc may y. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Trường hợp vật thực dâng chung
nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp
bị bệnh, trong thời hạn dâng y, trong lúc may y. Đây là duyên
cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[479]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đường xa cùng với dân
chúng. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói với những người
ấy điều này:
- Này
các đạo hữu, hãy chờ đợi chốc lát. Chúng tôi sẽ đi
khất thực.
Những
người ấy đã nói như vầy:
- Thưa
các ngài, hãy thọ thực ở ngay đây.
Các
tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm
trong trường hợp đi đường xa. Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp
vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp
ấy là: trường hợp bị bệnh, trong thời hạn dâng y, trong
lúc may y, trong lúc đi đường xa. Đây là duyên cớ trong trường
hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy
định cho các tỳ khưu như thế.
[480]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi thuyền cùng với dân chúng.
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói với những người ấy
điều này:
- Này
các đạo hữu, hãy đưa thuyền vào bờ chốc lát. Chúng tôi
sẽ đi khất thực.
Những
người ấy đã nói như vầy:
- Thưa
các ngài, hãy thọ thực ở ngay đây.
Các
tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm
trong trường hợp lên thuyền. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật
thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là:
trường hợp bị bệnh, trong thời hạn dâng y, trong lúc may
y, trường hợp đi đường xa, trường hợp lên thuyền. Đây
là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã
được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[481]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu khi trải qua mùa (an cư) mưa
ở các nơi đi đến thành Rājagaha để diện kiến đức Thế
Tôn. Dân chúng khi nhìn thấy các tỳ khưu người khác xứ
sở đã thỉnh mời với bữa trai phạn. Các vị tỳ khưu trong
lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế
Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.” Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực dâng chung nhóm
trong trường hợp đông đảo (các tỳ khưu). Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường
hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường
hợp ấy là: trường hợp bị bệnh, trong thời hạn dâng y,
trong lúc may y, trường hợp đi đường xa, trường hợp lên
thuyền, trường hợp đông đảo (các tỳ khưu). Đây là duyên
cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[482]
Vào lúc bấy giờ, có người thân quyến ruột thịt của đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã xuất gia nơi các đạo sĩ
lõa thể. Khi ấy, người đạo sĩ lõa thể ấy đã đi đến
gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói
với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:
- Tâu
đại vương, tôi muốn làm bữa ăn cho tất cả các giáo phái
khác.
- Thưa
ngài, nếu ngài có thể dâng vật thực đến hội chúng tỳ
khưu có đức Phật đứng đầu trước tiên thì trẫm có thể
làm như thế.
Sau
đó, người đạo sĩ lõa thể ấy đã phái sứ giả đi gặp
các tỳ khưu (nói rằng):
- Xin
các tỳ khưu hãy nhận lời bữa ăn vào ngày mai của tôi.
Các
tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực dâng chung nhóm.”
Sau đó, người đạo sĩ lõa thể ấy đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế
Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng
ở một bên. Khi đã đứng một bên, người đạo sĩ lõa thể
ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Ngài
Gotama đã xuất gia, tôi cũng đã xuất gia. Người đã xuất
gia thì xứng đáng để thọ nhận vật thực của người đã
xuất gia. Xin ngài Gotama nhận lời tôi về bữa trai phạn vào
ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.
Đức
Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, người
đạo sĩ lõa thể ấy hiểu được sự nhận lời của đức
Thế Tôn nên đã ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy
nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ
khưu rằng:
-
Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực dâng chung
nhóm trong trường hợp bữa trai phạn của sa-môn. Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp vật thực dâng chung nhóm thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường
hợp ấy là: trường hợp bị bệnh, trong thời hạn dâng y,
trong lúc may y, trường hợp đi đường xa, trường hợp lên
thuyền, trường hợp đông đảo (các tỳ khưu), trường hợp
bữa trai phạn của sa-môn. Đây là duyên cớ trong trường
hợp ấy.”
[483]
Vật thực thuộc về nhóm nghĩa là nơi nào bốn vị tỳ khưu
được thỉnh mời với loại vật thực nào đó trong năm loại
vật thực rồi thọ thực, việc này gọi là vật thực dâng
chung nhóm.
Ngoại
trừ có duyên cớ: trừ ra có duyên cớ.
Trường
hợp bị bệnh nghĩa là ngay cả (trường hợp) các bàn chân
bị nứt nẻ. (Nghĩ rằng): “Trường hợp bị bệnh” rồi
nên thọ thực.
Trong
thời hạn dâng y nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu
thì tháng cuối cùng của mùa mưa, khi Kaṭhina được thành
tựu thì năm tháng. (Nghĩ rằng): “Trong thời hạn dâng y”
rồi nên thọ thực.
Trong
lúc may y nghĩa là trong lúc y đang được may. (Nghĩ rằng):
“Trong lúc may y” rồi nên thọ thực.
Trường
hợp đi đường xa nghĩa là (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi nửa
do tuần” [1] rồi nên thọ thực. Vị sắp sửa đi thì nên
thọ thực. Vị vừa mới đến thì nên thọ thực.
Trường
hợp lên thuyền nghĩa là (nghĩ rằng): “Ta sẽ lên thuyền”
rồi nên thọ thực. Vị đã lên thuyền thì nên thọ thực.
Vị vừa rời (thuyền) thì nên thọ thực.
Trường
hợp đông đảo (các tỳ khưu) nghĩa là nơi nào hai hay ba vị
tỳ khưu đi khất thực thì khất thực được mau mắn (yāpenti).
Khi có vị thứ tư đi đến thì khất thực không được mau
mắn (na yāpenti). (Nghĩ rằng): “Trường hợp đông đảo”
rồi nên thọ thực.
Trường
hợp bữa trai phạn của sa-môn nghĩa là bất cứ người nào
thành tựu phẩm chất du sĩ thực hiện bữa trai phạn. (Nghĩ
rằng): “Trường hợp bữa trai phạn của sa-môn” rồi nên
thọ thực.
Ngoại
trừ có duyên cớ, (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi
thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt
xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[484]
Vật thực dâng chung nhóm, nhận biết là vật thực dâng chung
nhóm, vị thọ thực thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ.
Vật
thực dâng chung nhóm, có sự hoài nghi, vị thọ thực thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Vật
thực dâng chung nhóm, (lầm) tưởng không phải là vật thực
dâng chung nhóm, vị thọ thực thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Không
phải vật thực dâng chung nhóm, (lầm) tưởng là vật thực
dâng chung nhóm, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải vật thực dâng chung nhóm, có sự hoài nghi, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Không
phải vật thực dâng chung nhóm, nhận biết không phải là
vật thực dâng chung nhóm thì vô tội.
[485]
Khi có duyên cớ, hai hoặc ba vị thọ thực chung, sau khi đi
khất thực tụ hội chung lại (một chỗ) rồi thọ thực,
trong bữa ăn thường kỳ, trong bữa ăn (phân phối) theo thẻ,
vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi
nửa tháng, (thọ dụng) tất cả (các thức khác) thì không
phạm tội trừ ra năm loại vật thực, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[486]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī,
Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, trong
thành Vesālī sự luân phiên về các bữa trai phạn gồm các
thức ăn hảo hạng đã được ấn định. Khi ấy, có người
lao công nghèo nọ đã khởi ý điều này: “Theo như cách những
người này thực hiện bữa trai phạn một cách trịnh trọng
thì việc này không phải là tầm thường, hay là ta nên thực
hiện bữa trai phạn?” Sau đó, người lao công nghèo ấy đã
đi đến gặp cậu chủ tên Kira, sau khi đến đã nói với
cậu chủ tên Kira ấy rằng:
- Thưa
cậu chủ, tôi muốn thực hiện bữa trai phạn dâng hội chúng
tỳ khưu có đức Phật đứng đầu, hãy cho tôi tiền lương.
Cậu
chủ tên Kira ấy cũng có niềm tin và mộ đạo. Khi ấy, cậu
chủ tên Kira ấy đã cho người lao công nghèo ấy tiền lương
phụ trội. Sau đó, người lao công nghèo ấy đã đi đến
gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế
Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một
bên, người lao công nghèo ấy đã nói với đức Thế Tôn
điều này:
- Bạch
ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào
ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.
- Này
đạo hữu, người hãy biết hội chúng tỳ khưu là đông đảo.
- Bạch
ngài, hội chúng tỳ khưu hãy là đông đảo. Con đã chuẩn
bị được nhiều táo. Các thức uống trộn với táo sẽ được
đầy đủ.
Đức
Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, người
lao công nghèo ấy hiểu được sự nhận lời của đức Thế
Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế
Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Các
tỳ khưu đã nghe được rằng: “Nghe nói hội chúng tỳ khưu
có đức Phật đứng đầu đã được người lao công nghèo
thỉnh mời vào ngày mai, các thức uống trộn với táo sẽ
được đầy đủ.” Các vị ấy đã đi khất thực vào lúc
sáng sớm rồi đã thọ thực. Dân chúng đã nghe được rằng:
“Nghe nói hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã
được người lao công nghèo thỉnh mời.” Họ đã mang lại
cho người lao công nghèo vô số vật thực loại cứng loại
mềm.
Sau
đó, khi trải qua đêm ấy người lao công nghèo ấy đã cho
chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại
mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:
- Bạch
ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.
Khi
ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi
đến tư gia của người lao công nghèo ấy, sau khi đến đã
ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với
hội chúng tỳ khưu. Sau đó, người lao công nghèo ấy đã
phục vụ các tỳ khưu ở trong nhà ăn. Các tỳ khưu đã nói
như vầy:
- Này
đạo hữu, hãy dâng chút ít thôi. Này đạo hữu, hãy dâng
chút ít thôi.
- Thưa
các ngài, chớ có thọ lãnh chỉ chút ít (vì nghĩ rằng): “Người
lao công này nghèo.” Tôi đã cho chuẩn bị sẵn sàng vô số
vật thực loại cứng loại mềm. Thưa các ngài, hãy thọ lãnh
theo như ước muốn.
- Này
đạo hữu, không phải vì lý do này mà chúng tôi thọ lãnh
chỉ chút ít, tuy nhiên vào lúc sáng sớm chúng tôi đã đi
khất thực và đã thọ thực rồi; vì thế chúng tôi thọ
lãnh chỉ chút ít.
Khi
ấy, người lao công nghèo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các ngài đại đức đã được tôi thỉnh mời còn thọ
thực ở nơi khác? Không lẽ tôi không đủ khả năng để
bố thí theo như ước muốn hay sao?
Các
tỳ khưu đã nghe được người lao công nghèo ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu khi được thỉnh mời ở nơi khác lại thọ
thực ở nơi khác?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu khi được thỉnh mời ở
nơi khác còn thọ thực ở nơi khác, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi khi được thỉnh mời
ở nơi khác lại thọ thực ở nơi khác vậy? Này những kẻ
rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp
vật thực thỉnh sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[487]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Có vị tỳ
khưu khác đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi đến gặp vị
tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều
này:
- Này
đại đức, hãy thọ thực.
- Này
đại đức, thôi đi. Có sự chuẩn bị về bữa ăn cho tôi
rồi.
Thức
ăn của vị tỳ khưu ấy đã được mang lại khi đã trưa.
Vị tỳ khưu ấy đã thọ thực không được như ý. Các vị
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế
Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại
rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu bị bệnh được thọ dụng
vật thực thỉnh sau. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật thực thỉnh
sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp
bị bệnh. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều
học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu
như thế.
[488]
Vào lúc bấy giờ, trong thời hạn dâng y dân chúng sau khi chuẩn
bị bữa trai phạn có dâng y rồi thỉnh mời các tỳ khưu
(nói rằng): “Sau khi mời thọ thực, chúng tôi sẽ dâng y.”
Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không nhận lời (nghĩ rằng):
“Đức Thế Tôn đã cấm đoán vật thực thỉnh sau.” Y được
phát sanh ít ỏi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực thỉnh sau trong
thời hạn dâng y. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Trường hợp vật thực thỉnh
sau thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có
duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp
bị bệnh, trong thời hạn dâng y. Đây là duyên cớ trong trường
hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy
định cho các tỳ khưu như thế.
[489]
Vào lúc bấy giờ, dân chúng thỉnh mời các tỳ khưu là những
vị đang may y với bữa trai phạn. Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm
đoán vật thực thỉnh sau.” Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng vật thực thỉnh sau trong
lúc may y. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Trường hợp vật thực thỉnh sau thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Duyên cớ trong trường hợp ấy là: trường hợp bị bệnh,
trong thời hạn dâng y, trong lúc may y. Đây là duyên cớ trong
trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức Thế
Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[490]
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát,
cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận đã đi đến
gia đình nọ, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi
được sắp đặt sẵn. Sau đó, những người ấy đã dâng
vật thực đến đức Thế Tôn và đại đức Ānanda. Đại
đức Ānanda trong lúc ngần ngại nên không thọ lãnh.
- Này
Ānanda, hãy nhận lấy.
- Bạch
Thế Tôn, đã có đủ. Có sự chuẩn bị về bữa ăn cho con
rồi.
- Này
Ānanda, như thế thì sau khi nhường lại (cho vị khác) rồi
hãy nhận lấy.
Sau
đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, khi đã nhường lại sự chuẩn bị về bữa
ăn ta cho phép thọ dụng vật thực thỉnh sau. Và này các tỳ
khưu, nên nhường lại như vầy: “Tôi cho đến vị tên (như
vầy) sự chuẩn bị về bữa ăn của tôi.”
[491]
Vật thực thỉnh sau nghĩa là khi đã được thỉnh mời với
bất cứ loại vật thực nào thuộc về năm loại vật thực,
trừ ra món ấy vị thọ thực bất cứ loại vật thực nào
khác thuộc về năm loại vật thực; việc này gọi là vật
thực thỉnh sau.
Ngoại
trừ có duyên cớ: trừ ra có duyên cớ.
Trường
hợp bị bệnh nghĩa là không thể ngồi ở một chỗ để
thọ thực theo như ý muốn. (Nghĩ rằng): “Trường hợp bị
bệnh” rồi nên thọ thực.
Trong
thời hạn dâng y nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu
thì tháng cuối cùng của mùa mưa, khi Kaṭhina được thành
tựu thì năm tháng. (Nghĩ rằng): “Trong thời hạn dâng y”
rồi nên thọ thực.
Trong
lúc may y nghĩa là trong lúc y đang được may. (Nghĩ rằng):
“Trong lúc may y” rồi nên thọ thực.
Ngoại
trừ có duyên cớ, (nghĩ rằng): “Ta sẽ thọ thực” rồi
thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt
xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[492]
Vật thực thỉnh sau, nhận biết là vật thực thỉnh sau, vị
thọ thực thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ
có duyên cớ.
Vật
thực thỉnh sau, có sự hoài nghi, vị thọ thực thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Vật
thực thỉnh sau, (lầm) tưởng không phải là vật thực thỉnh
sau, vị thọ thực thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ.
Không
phải vật thực thỉnh sau, (lầm) tưởng là vật thực thỉnh
sau, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải vật thực thỉnh sau, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
phải vật thực thỉnh sau, nhận biết không phải là vật
thực thỉnh sau thì vô tội.
[493]
Khi có duyên cớ, sau khi nhường lại (cho vị khác) rồi thọ
thực, vị thọ thực hai hoặc ba sự thỉnh mời chung một
lượt, vị thọ thực theo tuần tự của sự thỉnh mời, khi
được toàn bộ cả làng thỉnh mời thì thọ thực ở bất
cứ nơi nào ở trong ngôi làng ấy, khi được toàn bộ cả
phường hội thỉnh mời thì thọ thực ở bất cứ nơi nào
ở trong phường hội ấy, khi được thỉnh mời vị nói rằng:
“Tôi sẽ nhận đồ khất thực,” trong bữa ăn thường kỳ,
trong bữa ăn (phân phối) theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào
ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng, tất cả
(các thức khác) trừ ra năm loại vật thực, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[494]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
mẹ của Kāṇā là nữ cư sĩ có niềm tin và mộ đạo. Kāṇā
đã được gả cho người đàn ông nọ ở thôn làng. Khi ấy,
Kāṇā đã đi đến nhà mẹ vì công việc cần làm nào đó.
Sau đó, chồng của Kāṇā đã phái người đưa tin đi đến
gặp Kāṇā (nhắn rằng): “Kāṇā hãy trở về. Tôi muốn
sự trở về của Kāṇā.” Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā
(nghĩ rằng): “Thật xấu hổ khi đi với tay không!” nên
đã nấu bánh ngọt. Khi bánh ngọt chín, có vị tỳ khưu đi
khất thực nọ đã đi vào nhà của nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā.
Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã bảo dâng bánh ngọt
đến vị tỳ khưu ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo
cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị
ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta
cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị ấy. Bánh ngọt được
chuẩn bị như thế đã không còn.
Đến
lần thứ nhì, chồng của Kāṇā đã phái người đưa tin
đi đến gặp Kāṇā (nhắn rằng): “Kāṇā hãy trở về.
Tôi muốn sự trở về của Kāṇā.” Đến lần thứ nhì,
nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā (nghĩ rằng): “Thật xấu hổ khi
đi với tay không!” nên đã nấu bánh ngọt. Khi bánh ngọt
chín, có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào nhà của
nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā. Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā
đã bảo dâng bánh ngọt đến vị tỳ khưu ấy. Vị ấy sau
khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng
bánh ngọt đến vị ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo
cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị
ấy. Bánh ngọt được chuẩn bị như thế đã không còn.
Đến
lần thứ ba, chồng của Kāṇā đã phái người đưa tin đi
đến gặp Kāṇā (nhắn rằng): “Kāṇā hãy trở về. Tôi
muốn sự trở về của Kāṇā. Nếu Kāṇā không trở về,
tôi sẽ dắt về người vợ khác.” Đến lần thứ ba, nữ
cư sĩ mẹ của Kāṇā (nghĩ rằng): “Thật xấu hổ khi đi
với tay không!” nên đã nấu bánh ngọt. Khi bánh ngọt chín,
có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào nhà của nữ
cư sĩ mẹ của Kāṇā. Khi ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā
đã bảo dâng bánh ngọt đến vị tỳ khưu ấy. Vị ấy sau
khi ra đi đã thông báo cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng
bánh ngọt đến vị ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông báo
cho vị khác. Bà ta cũng đã bảo dâng bánh ngọt đến vị
ấy. Bánh ngọt được chuẩn bị như thế đã không còn.
Sau
đó, chồng của Kāṇā đã dắt về người vợ khác. Kāṇā
đã nghe được rằng: “Nghe nói người vợ khác đã được
người đàn ông ấy dắt về.” Cô ấy đã đứng khóc lóc.
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát,
đi đến nhà của nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā, sau khi đến
đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi
ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với nữ cư sĩ mẹ của
Kāṇā đang ngồi một bên điều này:
- Vì
sao Kāṇā này lại khóc vậy?
Khi
ấy, nữ cư sĩ mẹ của Kāṇā đã kể lại sự việc ấy
cho đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức
tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nữ cư sĩ
mẹ của Kāṇā bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi
đứng dậy và ra đi.
[495]
Vào lúc bấy giờ, có đoàn xe nọ có ý định từ thành Rājagaha
đi về phía tây. Có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi
vào khất thực ở đoàn xe ấy. Có nam cư sĩ nọ đã bảo
dâng đến vị tỳ khưu ấy bánh lúa mạch. Vị ấy sau khi
ra đi đã thông báo cho vị khác. Ông ta cũng đã bảo dâng
bánh lúa mạch đến vị ấy. Vị ấy sau khi ra đi đã thông
báo cho vị khác. Ông ta cũng đã bảo dâng bánh lúa mạch đến
vị ấy. Vật dự phòng đường xa được chuẩn bị như thế
đã không còn. Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã nói với những người
ấy điều này:
- Này
các ông, hãy chờ đến ngày mai. Vật dự phòng đường xa
được chuẩn bị như thế đã được dâng đến các ngài
đại đức. Tôi sẽ chuẩn bị vật dự phòng đường xa.
- Này
ông, chúng tôi không thể chờ đợi. Đoàn xe đã khởi hành.
Rồi họ đã ra đi.
Khi
ấy, nam cư sĩ ấy sau khi chuẩn bị vật dự phòng đường
xa đã đi sau. Bọn đạo tặc đã cướp đoạt. Dân chúng phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại thọ lãnh không biết chừng mực?
Người này sau khi bố thí cho các vị ấy rồi trong khi đi
sau đã bị cướp đoạt bởi bọn cướp.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu
rằng:
-
Này các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học
cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội
chúng, ...(như trên)... và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này
các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như
vầy: “Vị tỳ khưu khi đi đến gia đình được yêu cầu
nhận lãnh các bánh ngọt hoặc các bánh lúa mạch, vị tỳ
khưu đang mong mỏi thì nên thọ lãnh hai hoặc ba bình bát đầy.
Nếu thọ lãnh quá số lượng ấy thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị). Sau khi thọ lãnh hai hoặc ba bình bát đầy,
khi mang về từ nơi ấy thì nên chia sẻ cùng với các tỳ
khưu. Đây là sự đúng đắn trong trường hợp ấy.”
[496]
Khi vị tỳ khưu đi đến gia đình: Gia đình nghĩa là có bốn
loại gia đình: gia đình sát-đế-lỵ, gia đình bà-la-môn,
gia đình thương buôn, và gia đình hạng cùng đinh.
Đi
đến: là đi đến nơi ấy.
Bánh
ngọt nghĩa là bất cứ thức gì được chuẩn bị nhằm mục
đích làm quà biếu.
Bánh
lúa mạch nghĩa là bất cứ thức gì được chuẩn bị nhằm
mục đích làm vật dự phòng đường xa.
Được
yêu cầu nhận lãnh: (Nói rằng): “Ngài thích chừng nào hãy
lấy chừng ấy.”
(Với
vị) đang mong mỏi: (với vị) đang ước muốn.
Nên
thọ lãnh hai hoặc ba bình bát đầy: Nên thọ lãnh đầy hai
hoặc ba bình bát.
Nếu
thọ lãnh quá số lượng ấy: Vị thọ lãnh quá số lượng
ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Sau khi thọ lãnh
hai hoặc ba bình bát đầy, vị đi ra khỏi nơi ấy nhìn thấy
vị tỳ khưu khác nên thông báo rằng: “Tôi đã thọ lãnh
hai ba bình bát đầy ở nơi kia, chớ thọ lãnh ở đó.” Nếu
sau khi nhìn thấy, vị không thông báo thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Nếu đã được thông báo vị thọ lãnh thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[497]
Khi mang về từ nơi ấy thì nên chia sẻ cùng với các tỳ
khưu: là sự đi trở về, sau khi mang về thì nên chia sẻ.
Đây
là sự đúng đắn trong trường hợp ấy: đây là sự hợp
lý trong trường hợp ấy.
Hơn
hai ba bình bát đầy, nhận biết là hơn, vị thọ lãnh thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hơn
hai ba bình bát đầy, có sự hoài nghi, vị thọ lãnh thì phạm
tội pācittiya.
Hơn
hai ba bình bát đầy, (lầm) tưởng là còn kém, vị thọ lãnh
thì phạm tội pācittiya.
Còn
kém hai ba bình bát đầy, (lầm) tưởng là hơn, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Còn
kém hai ba bình bát đầy, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Còn
kém hai ba bình bát đầy, nhận biết là còn kém thì vô tội.
[498]
Vị thọ lãnh hai hoặc ba bình bát đầy, vị thọ lãnh còn
kém hai hoặc ba bình bát đầy, họ bố thí vật đã được
chuẩn bị không vì mục đích làm quà biếu hoặc không vì
mục đích làm vật dự phòng đường xa, họ bố thí phần
còn thừa khi đã chuẩn bị vì mục đích làm quà biếu hoặc
vì mục đích làm vật dự phòng đường xa, họ bố thí khi
sự ra đi đã bị hủy bỏ, của các thân quyến, của những
người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng
vật sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NĂM:
[499]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
có người bà-la-môn nọ đã thỉnh mời và dâng bữa ăn đến
các tỳ khưu. Khi thọ thực xong và đã từ chối (vật thực
dâng thêm), các tỳ khưu đã đi đến các gia đình thân quyến
rồi một số vị đã thọ thực thêm, một số vị đã nhận
lấy đồ khất thực rồi đi. Sau đó, người bà-la-môn ấy
đã nói với hàng xóm điều này:
- Này
quý ông, các tỳ khưu đã được tôi làm hài lòng. Hãy đến,
tôi cũng sẽ làm hài lòng quý ông.
Những
người ấy đã nói như vầy:
- Này
ông, có phải ông sẽ làm hài lòng chúng tôi không? Ngay cả
những vị đã được ông thỉnh mời còn đi đến các nhà
của chúng tôi, một số đã thọ thực thêm, một số đã
nhận lấy đồ khất thực rồi đi.
Khi
ấy, người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các ngài đại đức sau khi thọ thực trong nhà của chúng
tôi lại thọ thực ở nơi khác? Không lẽ tôi không đủ khả
năng để bố thí theo như ước muốn hay sao?
Các
tỳ khưu đã nghe được người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu thọ thực xong và đã từ chối (vật thực
dâng thêm) lại thọ thực ở nơi khác?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu thọ thực xong và đã từ
chối (vật thực dâng thêm) lại thọ thực ở nơi khác, có
đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy thọ thực xong
và đã từ chối (vật thực dâng thêm) lại thọ thực ở
nơi khác vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ thực xong và đã từ
chối (vật thực dâng thêm) lại nhai hoặc ăn vật thực cứng
hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[500]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu mang lại các đồ ăn khất
thực hảo hạng cho các tỳ khưu bị bệnh. Các vị bị bệnh
ăn không được như ý. Các tỳ khưu đổ bỏ các đồ ăn
ấy. Đức Thế Tôn đã nghe được tiếng động ồn, tiếng
động lớn, tiếng kêu của các con quạ, sau khi nghe đã bảo
đại đức Ānanda rằng:
- Này
Ānanda, tiếng động ồn, tiếng động lớn, tiếng kêu của
các con quạ ấy là gì vậy?
Khi
ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này
Ānanda, các tỳ khưu có thọ thực thức ăn thừa của vị
bệnh không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, không thọ thực.
Sau
đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép thọ thực thức ăn thừa của vị
bị bệnh và của vị không bị bệnh. Và này các tỳ khưu,
nên làm thành thức ăn thừa như vầy: “Tất cả chừng này
là đủ rồi.” Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ thực xong
và đã từ chối (vật thực dâng thêm) lại nhai hoặc ăn vật
thực cứng hoặc vật thực mềm không phải là thức ăn thừa
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[501]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Thọ
thực xong nghĩa là bất cứ loại vật thực nào thuộc về
năm loại vật thực đã được ăn, dầu chỉ với (một chút
ở) đầu cọng cỏ kusa.
Đã
từ chối (vật thực dâng thêm) nghĩa là việc ăn được ghi
nhận, vật thực được ghi nhận, (thí chủ) đứng trong tầm
tay (1 mét 25) dâng lên (vật thực) và sự từ chối được
ghi nhận.
Không
phải là thức ăn thừa nghĩa là việc làm thành được phép
chưa được thực hiện, việc thọ lãnh chưa được thực
hiện, việc nâng lên chưa được thực hiện, (việc dâng)
đã được thực hiện ở ngoài tầm tay, đã được thực
hiện bởi vị chưa thọ thực xong, được thực hiện bởi
vị đã thọ thực xong đã từ chối (vật thực dâng thêm)
đã từ chỗ ngồi đứng dậy nhưng chưa nói: “Tất cả chừng
này là đủ rồi,” không phải là thức ăn thừa của vị
bị bệnh; vật này gọi là không phải thức ăn thừa.
Thức
ăn thừa nghĩa là việc làm thành được phép đã được thực
hiện, việc thọ lãnh đã được thực hiện, việc nâng lên
đã được thực hiện, (việc dâng) đã được thực hiện
ở trong tầm tay, đã được thực hiện bởi vị đã thọ
thực xong, được thực hiện bởi vị đã thọ thực xong đã
từ chối (vật thực dâng thêm) đã từ chỗ ngồi đứng dậy
và đã nói: “Tất cả chừng này là đủ rồi,” là thức
ăn thừa của vị bị bệnh; vật này gọi là thức ăn thừa.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp,
bánh, cá, thịt. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi
thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt
xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[502]
Không phải thức ăn thừa, nhận biết không phải là thức
ăn thừa, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực
mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Không
phải thức ăn thừa, có sự hoài nghi, vị nhai hoặc ăn vật
thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya.
Không
phải thức ăn thừa, (lầm) tưởng là thức ăn thừa, vị
nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm
tội pācittiya.
Vị
thọ lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Thức
ăn thừa, (lầm) tưởng không phải là thức ăn thừa, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Thức
ăn thừa, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Thức
ăn thừa, nhận biết là thức ăn thừa thì vô tội.
[503]
Sau khi bảo làm thành thức ăn thừa rồi thọ thực, sau khi
bảo làm thành thức ăn thừa vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn”
rồi thọ lãnh, vị mang theo vì nhu cầu của vị khác rồi
đi, vị thọ thực phần còn thừa của vị bị bệnh, vị
thọ dụng vật dùng đến hết đêm vật dùng trong bảy ngày
vật dùng suốt đời khi có duyên cớ,[2] vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ SÁU:
[504]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
có hai vị tỳ khưu đang đi đường xa đến thành Sāvatthi
ở trong xứ Kosala. Một vị tỳ khưu hành xử sai nguyên tắc.
Vị tỳ khưu thứ nhì đã nói với vị tỳ khưu kia điều
này:
- Này
đại đức, chớ làm như thế. Điều này không được phép.
Vị
kia đã kết oan trái với vị ấy. Sau đó, các vị tỳ khưu
ấy đã đi đến thành Sāvatthi. Vào lúc bấy giờ, ở thành
Sāvatthi có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của phường
hội nọ. Vị tỳ khưu thứ nhì thọ thực xong và đã từ
chối (vật thực dâng thêm). Còn vị tỳ khưu kết oan trái
sau khi đi đến nhà thân quyến đã cầm lấy đồ ăn rồi
đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị
tỳ khưu ấy điều này:
- Này
đại đức, hãy thọ thực.
- Này
đại đức, thôi đi. Tôi đã đầy.
- Này
đại đức, đồ ăn ngon lắm. Hãy thọ thực.
Khi
ấy, vị tỳ khưu ấy trong lúc bị vị tỳ khưu kia nài ép
nên đã thọ thực đồ ăn ấy. Vị tỳ khưu kết oan trái
đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này
đại đức, chính ngươi mới cần được ta nhắc nhở. Hãy
suy nghĩ việc ngươi đã thọ thực xong và đã từ chối (vật
thực dâng thêm) lại thọ thực thức ăn không phải là đồ
còn thừa.
- Này
đại đức, sao lại không chỉ bảo?
- Này
đại đức, sao lại không hỏi?
Sau
đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ
khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao vị tỳ khưu lại yêu cầu vị tỳ khưu đã thọ thực
xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) nhận lãnh thức
ăn không phải là đồ còn thừa?
...(như
trên)...
- Này
tỳ khưu, nghe nói ngươi yêu cầu vị tỳ khưu đã thọ thực
xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) nhận lãnh thức
ăn không phải là đồ còn thừa, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại yêu cầu vị tỳ khưu đã
thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) nhận
lãnh thức ăn không phải là đồ còn thừa vậy? Này kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào có ý muốn bươi móc lỗi lầm biết rõ vị tỳ khưu đã
thọ thực xong và đã từ chối (vật thực dâng thêm) vẫn
yêu cầu nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm không
phải là thức ăn thừa (nói rằng): “Này tỳ khưu, hãy nhai
hoặc hãy ăn đi;” khi vị kia đã ăn thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[505]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Vị
tỳ khưu: là vị tỳ khưu khác.
Thọ
thực xong nghĩa là bất cứ loại vật thực nào thuộc về
năm loại vật thực đã được ăn, dầu chỉ với (một chút
ở) đầu cọng cỏ kusa.
Đã
từ chối (vật thực dâng thêm) nghĩa là việc ăn được ghi
nhận, vật thực được ghi nhận, (thí chủ) đứng trong tầm
tay (1 mét 25) dâng lên (vật thực) và sự từ chối được
ghi nhận.
Không
phải là thức ăn thừa nghĩa là việc làm thành được phép
chưa được thực hiện, việc thọ lãnh chưa được thực
hiện, việc nâng lên chưa được thực hiện, (việc dâng)
đã được thực hiện ở ngoài tầm tay, được thực hiện
bởi vị chưa thọ thực xong, được thực hiện bởi vị đã
thọ thực xong đã từ chối (vật thực dâng thêm) đã từ
chỗ ngồi đứng dậy nhưng chưa nói: “Tất cả chừng này
là đủ rồi,” không phải là thức ăn thừa của vị bị
bệnh; vật này gọi là không phải thức ăn thừa.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp,
bánh, cá, thịt.
Yêu
cầu nhận lãnh: (Nói rằng): “Đại đức thích chừng nào
hãy lấy chừng ấy.”
Biết
nghĩa là tự mình biết, hoặc các người khác thông báo cho
vị ấy, hoặc vị kia thông báo.
Có
ý muốn bươi móc lỗi lầm: (nghĩ rằng): “Ta sẽ quở trách,
ta sẽ nhắc nhở, ta sẽ làm cho hối lỗi, ta sẽ làm cho nhớ
lại, ta sẽ làm cho xấu hổ.” Vị mang lại thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Với lời nói của vị ấy, (vị kia nghĩ
rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì (vị ấy)
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần (vị kia) nuốt xuống
thì (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[506]
Vị đã từ chối (vật thực dâng thêm), nhận biết là đã
từ chối (vật thực dâng thêm), vị yêu cầu nhận lãnh vật
thực cứng hoặc vật thực mềm không phải là thức ăn thừa
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã từ chối (vật thực dâng thêm), có sự hoài nghi, vị
yêu cầu nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm không
phải là thức ăn thừa thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
đã từ chối (vật thực dâng thêm), (lầm) tưởng là chưa
từ chối (vật thực dâng thêm), vị yêu cầu nhận lãnh vật
thực cứng hoặc vật thực mềm không phải là thức ăn thừa
thì vô tội.
Vị
mang lại vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Với lời nói của vị ấy, (vị kia nghĩ
rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì (vị ấy)
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần (vị kia) nuốt xuống
thì (vị ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
chưa từ chối (vật thực dâng thêm), (lầm) tưởng là đã
từ chối (vật thực dâng thêm), phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
chưa từ chối (vật thực dâng thêm), có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
chưa từ chối (vật thực dâng thêm), nhận biết là chưa từ
chối (vật thực dâng thêm) thì vô tội.
[507]
Vị sau khi bảo làm thành thức ăn thừa rồi cho; sau khi bảo
làm thành thức ăn thừa rồi cho (nói rằng): “Hãy thọ thực;”
vị cho (nói rằng): “Hãy đi (và) mang theo vì nhu cầu của
vị khác;” vị cho phần còn thừa của vị bị bệnh; vị
cho vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật
dùng suốt đời (nói rằng): “Hãy thọ dụng khi có duyên
cớ;” vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BẢY:
[508]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, ở
thành Rājagaha có lễ hội ở trên đỉnh núi. Các tỳ khưu
nhóm Mười Bảy Sư đã đi để xem lễ hội ở trên đỉnh
núi. Dân chúng sau khi nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mười Bảy
Sư đã cho các vị ấy tắm, đã cho xức dầu, đã mời ăn,
rồi đã dâng vật thực cứng. Các tỳ khưu nhóm Mười Bảy
Sư sau khi nhận lấy vật thực cứng đã đi về tu viện và
đã nói với các tỳ khưu nhóm Lục Sư điều này:
- Này
các đại đức, hãy nhận lấy. Hãy nhai vật thực cứng.
- Này
các đại đức, vật thực cứng đã được các ngươi nhận
từ đâu vậy?
Các
tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đã kể lại sự việc ấy cho
các tỳ khưu nhóm Lục Sư.
- Này
các đại đức, có phải các ngươi đã thọ dụng vật thực
vào lúc sái thời?
- Này
các đại đức, đúng vậy.
Các
tỳ khưu nhóm Lục Sư phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư lại thọ dụng vật thực
vào lúc sái thời?
Sau
đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã kể lại sự việc ấy
cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư lại thọ dụng vật thực
vào lúc sái thời?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi thọ dụng vật thực vào
lúc sái thời, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại thọ dụng vật
thực vào lúc sái thời vậy? Này những kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc
ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm vào lúc sái thời
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[509]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Lúc
sái thời nghĩa là từ lúc đã quá nửa ngày cho đến rạng
đông (ngày hôm sau).
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp,
bánh, cá, thịt. Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn”
rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt
xuống thì (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[510]
Vào lúc sái thời, nhận biết là lúc sái thời, vị nhai hoặc
ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vào
lúc sái thời, có sự hoài nghi, vị nhai hoặc ăn vật thực
cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vào
lúc sái thời, (lầm) tưởng là lúc đúng thời, vị nhai hoặc
ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị
thọ lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vào
lúc đúng thời, (lầm) tưởng là lúc sái thời, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc đúng thời, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc đúng thời, nhận biết là lúc đúng thời thì vô tội.
[511]
Vị thọ dụng vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy
ngày, vật dùng suốt đời khi có duyên cớ; vị bị điên;
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TÁM:
[512]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
thầy tế độ của đại đức Ānanda là đại đức Veḷaṭṭhasīsa
cư ngụ ở trong rừng. Vị ấy đi khất thực sau khi nhận
được nhiều đồ ăn đã đem về tu viện phần cơm không
bị dính thức ăn rồi đem phơi khô và để riêng. Khi có nhu
cầu về thực phẩm vị ấy ngâm nước rồi thọ dụng; năm
ba bữa vị ấy mới đi vào làng để khất thực. Các tỳ
khưu đã nói với đại đức Veḷaṭṭhasīsa điều này:
- Này
đại đức, vì sao năm ba bữa đại đức mới đi vào làng
để khất thực?
Khi
ấy, đại đức Veḷaṭṭhasīsa đã kể lại sự việc ấy
cho các tỳ khưu.
- Này
đại đức, có phải đại đức thọ dụng vật thực đã
được tích trữ?
- Nảy
các đại đức, đúng vậy.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Veḷaṭṭhasīsa lại thọ dụng vật thực đã
được tích trữ?
...(như
trên)...
- Này
Veḷaṭṭhasīsa, nghe nói ngươi thọ dụng vật thực đã được
tích trữ, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
Veḷaṭṭhasīsa, vì sao ngươi lại thọ dụng vật thực đã
được tích trữ vậy? Này Veḷaṭṭhasīsa, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay
làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin.
…(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn
vật thực cứng hoặc vật thực mềm đã được tích trữ
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[513]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Đã
được tích trữ nghĩa là đã được thọ lãnh hôm nay và
được nhai vào ngày kế tiếp.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp,
bánh, cá, thịt. Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn”
rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt
xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[514]
Vật đã được tích trữ, nhận biết là vật đã được
tích trữ, vị nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực
mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vật
đã được t