IX.
CHƯƠNG PĀṬIDESANĪYA (ƯNG PHÁT LỘ)
Bạch
chư đại đức, bốn điều pāṭidesanīya này được đưa
ra đọc tụng.
ĐIỀU
HỌC THỨ NHẤT:
[781]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
có vị tỳ khưu ni nọ sau khi đi khất thực ở trong thành
Sāvatthi đến lúc đi trở về đã nhìn thấy vị tỳ khưu
nọ và đã nói điều này:
- Này
ngài đại đức, hãy nhận lãnh vật thực.
- Này
sư tỷ, tốt lắm!
Rồi
đã nhận lãnh hết tất cả. Khi thời giờ đã kề cận, vị
ni ấy đã không thể đi khất thực nên bữa ăn đã bị lỡ.
Sau
đó, vào ngày thứ nhì…(như trên)… vào ngày thứ ba, vị
tỳ khưu ni ấy sau khi đi khất thực ở trong thành Sāvatthi
đến lúc đi trở về đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy và đã
nói điều này:
- Này
ngài đại đức, hãy nhận lãnh vật thực.
- Này
sư tỷ, tốt lắm!
Rồi
đã nhận lãnh hết tất cả. Khi thời giờ đã kề cận, vị
ni ấy đã không thể đi khất thực nên bữa ăn đã bị lỡ.
Sau
đó vào ngày thứ tư, vị tỳ khưu ni ấy run lập cập đi
trên đường. Người gia chủ đại phú đang đi xe ngược chiều
đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này:
- Này
ni sư, hãy tránh ra.
Vị
ni ấy trong lúc bước xuống đã bị té ngã ngay tại chỗ
ấy. Người gia chủ đại phú đã xin lỗi vị tỳ khưu ni
ấy:
- Thưa
ni sư, xin hãy thứ lỗi. Ni sư đã bị tôi làm té ngã.
- Này
gia chủ, không phải ta đã bị ngươi làm té ngã mà chính
vì ta đây đuối sức.
- Thưa
ni sư, vì sao ni sư đuối sức?
Khi
ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho người
gia chủ đại phú. Người gia chủ đại phú ấy đã đưa vị
tỳ khưu ni ấy về nhà, dâng thức ăn, rồi phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các ngài đại đức lại nhận lãnh vật thực từ tay của
tỳ khưu ni? Là người nữ có lợi lộc khó khăn!
Các
tỳ khưu đã nghe được người gia chủ đại phú phàn nàn,
phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao tỳ khưu lại nhận lãnh vật thực từ tay của tỳ khưu
ni?
…(như
trên)…
- Này
tỳ khưu, nghe nói ngươi nhận lãnh vật thực từ tay của
tỳ khưu ni, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
- Này
tỳ khưu, là nữ thân quyến của ngươi hay không phải là
nữ thân quyến?
- Bạch
Thế Tôn, không phải là nữ thân quyến.
- Này
kẻ rồ dại, người nam không phải là thân quyến không biết
điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì làm hài
lòng hay không làm hài lòng người nữ không phải là thân
quyến. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nhận lãnh vật
thực từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến vậy? Này
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. … (như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực
mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào
xóm nhà, rồi nhai hoặc ăn thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận
rằng: ‘Bạch chư đại đức, tôi đã vi phạm tội đáng
chê trách, không có lợi ích, cần phải thú nhận; tôi xin
thú nhận tội ấy.’”
[782]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
(Người
nữ) không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có
liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng
bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.
Tỳ
khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở
cả hai hội chúng.
Xóm
nhà nghĩa là con đường có xe cộ, ngõ cụt, giao lộ, căn
nhà.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, súp,
bánh, cá, thịt. Vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn”
rồi thọ nhận thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi một
lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Không
phải là nữ thân quyến, nhận biết không phải là nữ thân
quyến, vị tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực
mềm từ tay của vị ni đã đi vào xóm nhà rồi nhai hoặc
ăn thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Không
phải là nữ thân quyến, có sự hoài nghi, vị tự tay nhận
lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay của vị
ni đã đi vào xóm nhà rồi nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya
(ưng phát lộ).
Không
phải là nữ thân quyến, (lầm) tưởng là nữ thân quyến,
vị tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm
từ tay của vị ni đã đi vào xóm nhà rồi nhai hoặc ăn thì
phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Vị
nhận lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vị
(nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi nhận lãnh từ
tay của vị ni tu lên bậc trên từ một hội chúng thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Nữ
thân quyến, (lầm) tưởng không phải là nữ thân quyến, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Nữ
thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Nữ
thân quyến, nhận biết là nữ thân quyến thì vô tội.
[783]
Từ vị (tỳ khưu ni) là nữ thân quyến, (vị ni) bảo (người
khác) trao cho chứ không tự trao cho, (vị ni) sau khi để xuống
rồi cho, ở trong tu viện, ở chỗ trú ngụ của các tỳ khưu
ni, ở chỗ ngụ của các tu sĩ ngoại đạo, khi đang đi trở
về, (vị ni) mang từ làng về rồi cho, (vị ni) cho vật dùng
đến hết đêm vật dùng trong bảy ngày vật dùng suốt đời
(nói rằng): “Hãy thọ dụng khi có duyên cớ,” từ cô ni
tu tập sự, từ sa di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[784]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các
tỳ khưu được thỉnh mời đang thọ thực ở các gia đình.
Các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đứng hướng dẫn sự phục vụ
đến các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nói rằng):
- Hãy
dâng xúp ở đây, hãy dâng cơm ở chỗ này.
Các
tỳ khưu nhóm Lục Sư thọ thực theo như ý thích. Các tỳ
khưu khác thọ thực không được như ý. Các tỳ khưu ít ham
muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư không ngăn cản các tỳ khưu
ni đang hướng dẫn sự phục vụ?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi không ngăn cản các tỳ khưu
ni đang hướng dẫn sự phục vụ, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại không ngăn cản
các tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục vụ vậy? Này những
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. … (như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường
hợp các tỳ khưu được thỉnh mời thọ thực ở các gia
đình. Nếu có vị tỳ khưu ni đứng tại nơi ấy hướng dẫn
sự phục vụ (nói rằng): ‘Hãy dâng xúp ở đây, hãy dâng
cơm ở chỗ này.’ Vị tỳ khưu ni ấy nên bị từ chối bởi
các tỳ khưu ấy (nói rằng): ‘Này sư tỷ, hãy lui ra cho đến
khi nào các tỳ khưu thọ thực xong.’ Nếu không một vị
tỳ khưu nào lên tiếng để từ chối tỳ khưu ni ấy (nói
rằng): ‘Này sư tỷ, hãy lui ra cho đến khi nào các tỳ khưu
thọ thực xong’ thì các tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng:
“Bạch chư đại đức, chúng tôi đã vi phạm tội đáng chê
trách, không có lợi ích, cần phải thú nhận; chúng tôi xin
thú nhận tội ấy.’”
[785]
Trường hợp các tỳ khưu được thỉnh mời thọ thực ở
các gia đình: Gia đình nghĩa là có bốn loại gia đình: gia
đình sát-đế-lỵ, gia đình bà-la-môn, gia đình thương buôn,
và gia đình hạng cùng đinh.
Được
thỉnh mời thọ thực: được thỉnh mời thọ thực loại
vật thực nào đó thuộc về năm loại vật thực.
Tỳ
khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở
cả hai hội chúng.
(Vị
ni) đang hướng dẫn sự phục vụ nghĩa là (nói rằng): “Hãy
dâng xúp ở đây, hãy dâng cơm ở chỗ này” thuận theo tình
bạn bè, thuận theo sự đồng quan điểm, thuận theo sự thân
thiết, thuận theo sự có chung thầy tế độ, thuận theo sự
có chung thầy dạy học; điều này gọi là (vị ni) đang hướng
dẫn sự phục vụ.
Bởi
các tỳ khưu ấy: bởi các vị tỳ khưu đang thọ thực.
Vị
tỳ khưu ni ấy: là vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục
vụ. Các tỳ khưu ấy nên từ chối vị tỳ khưu ni ấy (nói
rằng): “Này sư tỷ, hãy lui ra cho đến khi nào các tỳ khưu
thọ thực xong.” Nếu không một vị tỳ khưu nào từ chối,
vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi nhận lãnh
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi một lần nuốt xuống
thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
[786]
Người nữ đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên
bậc trên, vị không ngăn cản vị ni đang hướng dẫn sự
phục vụ thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Người
nữ đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị không ngăn cản
vị ni đang hướng dẫn sự phục vụ thì phạm tội pāṭidesanīya
(ưng phát lộ).
Người
nữ đã tu lên bậc trên, (lầm tưởng) là chưa tu lên bậc
trên, vị không ngăn cản vị ni đang hướng dẫn sự phục
vụ thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Vị
không ngăn cản vị ni tu lên bậc trên từ một hội chúng
đang hướng dẫn sự phục vụ thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Người
nữ chưa tu lên bậc trên, (lầm tưởng) là đã tu lên bậc
trên, phạm tội dukkaṭa.
Người
nữ chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Người
nữ chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên
thì vô tội.
[787]
(Vị tỳ khưu ni) bảo (người khác) dâng chớ không tự dâng
bữa ăn của bản thân, (vị ni) tự dâng chớ không bảo dâng
bữa ăn của những người khác, (vị ni) bảo dâng vật chưa
dâng, (vị ni) bảo dâng nơi nào chưa được dâng, (vị ni)
bảo dâng đồng đều cho tất cả, cô ni tu tập sự hướng
dẫn sự phục vụ, vị sa di ni hướng dẫn sự phục vụ,
trừ ra năm loại vật thực còn tất cả (các thức khác) không
phạm tội, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[788]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
ở trong thành Sāvatthi có gia đình nọ cả hai (vợ chồng)
đều mộ đạo, tăng trưởng về đức tin, và dứt bỏ về
của cải. Ở trong gia đình ấy, khi có vật thực cứng hoặc
vật thực mềm gì phát sanh trước bữa ăn, họ đều phân
phát tất cả vật thực ấy đến các vị tỳ khưu, đôi lúc
họ không còn gì (để ăn). Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại thọ lãnh không biết chừng mực?
Những người này sau khi bố thí cho các vị này đôi lúc không
còn gì (để ăn).
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu
rằng:
- Này
các tỳ khưu, (trường hợp) gia đình nào tăng trưởng về
đức tin và dứt bỏ về của cải, ta cho phép ban cho sự công
nhận là bậc hữu học đến gia đình có hiện trạng như
thế bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ nhì.
Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Gia đình tên (như
vầy) tăng trưởng về đức tin và dứt bỏ về của cải.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên
ban cho sự công nhận là bậc hữu học đến gia đình tên
(như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Gia đình tên (như
vầy) tăng trưởng về đức tin và dứt bỏ về của cải.
Hội chúng ban cho sự công nhận là bậc hữu học đến gia
đình tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban
cho sự công nhận là bậc hữu học đến gia đình tên (như
vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự
công nhận là bậc hữu học đã được hội chúng ban cho đến
gia đình tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng
ý nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Trường hợp các gia đình đã được công nhận
là bậc hữu học, vị tỳ khưu nào tự tay nhận lãnh vật
thực cứng hoặc vật thực mềm ở các gia đình đã được
công nhận là bậc hữu học theo hình thức như thế, rồi
nhai hoặc ăn thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch
chư đại đức, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không
có lợi ích, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[789]
Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthi có lễ hội. Dân chúng
thỉnh mời các tỳ khưu rồi dâng vật thực. Gia đình ấy
cũng đã thỉnh mời các tỳ khưu. Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không nhận lời (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm
đoán tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm
ở các gia đình đã được công nhận là bậc hữu học rồi
nhai hoặc ăn.” Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Cuộc
sống của chúng tôi có điều gì khiến các ngài đại đức
không thọ lãnh của chúng tôi?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu
rằng:
- Này
các tỳ khưu, với vị đã được thỉnh mời ta cho phép tự
tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở các
gia đình đã được công nhận là bậc hữu học rồi nhai
hoặc ăn. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Trường hợp các gia đình đã được
công nhận là bậc hữu học, vị tỳ khưu nào không được
thỉnh mời trước, tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc
vật thực mềm ở các gia đình đã được công nhận là bậc
hữu học theo hình thức như thế, rồi nhai hoặc ăn thì vị
tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức,
tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có lợi ích, cần
phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’” Và điều
học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu
như thế.
[790]
Vào lúc bấy giờ, có tỳ khưu nọ là vị thường lui tới
với gia đình ấy. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy
đã mặc y cầm y bát đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã
ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Vào lúc
bấy giờ, vị tỳ khưu ấy bị bệnh. Khi ấy, những người
ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy thọ thực.
Khi
ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm
đoán vị không được thỉnh mời tự tay nhận lãnh vật thực
cứng hoặc vật thực mềm ở các gia đình đã được công
nhận là bậc hữu học rồi nhai hoặc ăn” trong lúc ngần
ngại đã không thọ lãnh và đã không thể đi khất thực
nên bữa ăn đã bị lỡ. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi
về tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các
tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy,
đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, với vị tỳ khưu bị bệnh ta cho phép tự tay
nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở các gia
đình đã được công nhận là bậc hữu học rồi nhai hoặc
ăn. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Trường hợp các gia đình đã được công
nhận là bậc hữu học, vị tỳ khưu nào không được thỉnh
mời trước, không bị bệnh, tự tay nhận lãnh vật thực
cứng hoặc vật thực mềm ở các gia đình đã được công
nhận là bậc hữu học theo hình thức như thế, rồi nhai hoặc
ăn thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại
đức, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có lợi
ích, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”
[791]
Trường hợp các gia đình đã được công nhận là bậc hữu
học: Đã được công nhận là bậc hữu học nghĩa là gia
đình nào tăng trưởng về đức tin, dứt bỏ về của cải,
và sự công nhận là bậc hữu học bằng hành sự với lời
thông báo đến lần thứ nhì đã được ban cho gia đình có
hiện trạng như thế.
Vị
nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Ở
các gia đình đã được công nhận là bậc hữu học theo hình
thức như thế: ở các gia đình đã được công nhận là bậc
hữu học theo hình thức như vậy.
Không
được thỉnh mời nghĩa là không được thỉnh mời vào ngày
nay hoặc ngày mai. Họ thỉnh mời khi (vị tỳ khưu) đi vào
vùng phụ cận của ngôi nhà; việc này gọi là không được
thỉnh mời.
Được
thỉnh mời nghĩa là được thỉnh mời vào ngày nay hoặc ngày
mai. Họ thỉnh mời khi (vị tỳ khưu) không đi vào vùng phụ
cận của ngôi nhà; việc này gọi là được thỉnh mời.
Không
bị bệnh nghĩa là có thể đi khất thực.
Bị
bệnh nghĩa là không thể đi khất thực.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, súp,
bánh, cá, thịt. Vị không được thỉnh mời, không bị bệnh
(nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi một lần nuốt xuống thì
phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
[792]
Đã được công nhận là bậc hữu học, nhận biết đã được
công nhận là bậc hữu học, vị không được thỉnh mời,
không bị bệnh, tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật
thực mềm rồi nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ).
Đã
được công nhận là bậc hữu học, có sự hoài nghi, vị
không được thỉnh mời, không bị bệnh, tự tay nhận lãnh
vật thực cứng hoặc vật thực mềm rồi nhai hoặc ăn thì
phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Đã
được công nhận là bậc hữu học, (lầm tưởng) chưa được
công nhận là bậc hữu học, vị không được thỉnh mời,
không bị bệnh, tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật
thực mềm rồi nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ).
Vị
nhận lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Chưa
được công nhận là bậc hữu học, (lầm tưởng) đã được
công nhận là bậc hữu học, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Chưa
được công nhận là bậc hữu học, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Chưa
được công nhận là bậc hữu học, nhận biết chưa được
công nhận là bậc hữu học thì vô tội.
[793]
Vị đã được thỉnh mời, vị bị bệnh, vị thọ thực phần
còn lại của vị đã được thỉnh mời hoặc của vị bị
bệnh, vật thực đã được sắp đặt tại nơi ấy là của
những người (thí chủ) khác, (gia đình ấy) sau khi đem ra
khỏi nhà rồi dâng, bữa ăn thường kỳ, bữa ăn theo thẻ,
vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi
nửa tháng, (người ấy) dâng vật dùng đến hết đêm vật
dùng trong bảy ngày vật dùng suốt đời (nói rằng): “Hãy
thọ dụng khi có duyên cớ,” vị bị điên, vị vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[794]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng
Sākya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy
giờ, các nô lệ của dòng Sākya nổi loạn. Các người nữ
dòng Sākya muốn làm bữa trai phạn ở những chỗ trú ngụ
trong rừng. Các nô lệ của dòng Sākya đã nghe được rằng:
“Nghe nói các người nữ dòng Sākya có ý định làm bữa
trai phạn ở những chỗ trú ngụ trong rừng.” Chúng đã canh
giữ các con đường. Các người nữ dòng Sākya đã mang thực
phẩm thượng hạng loại cứng loại mềm đi đến chỗ trú
ngụ ở trong rừng. Các nô lệ của dòng Sākya đã xuất hiện,
cướp đoạt, và làm nhục các người nữ dòng Sākya. Những
người dòng Sākya đã xuất hiện bắt giữ bọn cướp cùng
với các đồ đạc rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các ngài đại đức không thông báo về bọn cướp đang
ẩn náu trong tu viện?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người dòng Sākya phàn nàn,
phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý
do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo
các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho
các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội
chúng, ...(như trên)... nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp,
và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Trường hợp những
chỗ trú ngụ ở trong rừng được xác định là có sự nguy
hiểm, có sự kinh hoàng, vị tỳ khưu nào trong khi đang sống
ở những chỗ trú ngụ có hình thức như thế, sau khi tự
tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm chưa được
báo tin trước ở trong khuôn viên tu viện, rồi nhai hoặc ăn,
thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại
đức, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có lợi
ích, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[795]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở những chỗ trú
ngụ trong rừng bị bệnh. Dân chúng mang vật thực cứng vật
thực mềm đi đến chỗ trú ngụ trong rừng. Khi ấy, những
người ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy thọ thực.
Khi
ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm
đoán sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc vật thực
mềm ở những chỗ trú ngụ trong rừng rồi nhai hoặc ăn”
trong lúc ngần ngại đã không nhận lãnh. Vị ấy đã không
thể đi khất thực nên bữa ăn đã bị lỡ. Sau đó, vị tỳ
khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ
khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức
Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, với vị tỳ khưu bị bệnh ta cho phép sau khi
tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở
những chỗ trú ngụ trong rừng rồi nhai hoặc ăn. Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp những chỗ trú ngụ ở trong rừng được xác
định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng, vị tỳ khưu
nào trong khi đang sống ở những chỗ trú ngụ có hình thức
như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật
thực mềm chưa được báo tin trước ở trong khuôn viên tu
viện, không bị bệnh rồi nhai hoặc ăn thì vị tỳ khưu ấy
nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức, tôi đã vi phạm
tội đáng chê trách, không có lợi ích, cần phải thú nhận;
tôi xin thú nhận tội ấy.’”
[796]
Những chỗ trú ngụ ở trong rừng nghĩa là chỗ trú ngụ ở
trong rừng cách (căn nhà) cuối cùng khoảng cách 500 cây cung.
[1]
Có
sự nguy hiểm nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận
tu viện, chỗ cắm trại của bọn cướp được thấy, chỗ
ăn được thấy, chỗ đứng được thấy, chỗ ngồi được
thấy, chỗ nằm được thấy.
Có
sự kinh hoàng nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận
tu viện, dân chúng bị giết bởi bọn cướp được thấy,
bị cướp giật được thấy, bị đánh đập được thấy.
Vị
nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Ở
những chỗ trú ngụ có hình thức như thế: ở các chỗ trú
ngụ có hình thức như vậy.
Chưa
được báo tin nghĩa là đã được báo tin đến năm hạng
(người đồng đạo);[2] điều này gọi là chưa được báo
tin. Đã được báo tin (ở các nơi khác) ngoại trừ tu viện
hoặc vùng phụ cận tu viện; điều này gọi là chưa được
báo tin.
Đã
được báo tin nghĩa là bất cứ người nữ nào hoặc người
nam nào đi đến tu viện hoặc vùng phụ cận tu viện rồi
thông báo rằng: “Thưa ngài, vật thực cứng hoặc vật thực
mềm của người tên (như vầy) sẽ được mang lại.” Nếu
có sự nguy hiểm, nên nói rằng: “Có sự nguy hiểm.” Nếu
có sự kinh hoàng, nên nói rằng: “Có sự kinh hoàng.” Nếu
(người ấy) nói lại rằng: “Thưa ngài, hãy vậy đi. Sẽ
được mang lại” thì nên nói với bọn trộm cướp rằng:
“Dân chúng đi đến nơi đây, hãy lui ra.”
Khi
đã được báo tin liên quan đến cháo, vật phụ thuộc của
cháo được mang lại; điều này nghĩa là đã được báo tin.
Khi đã được báo tin liên quan đến bữa ăn, vật phụ thuộc
của bữa ăn được mang lại; điều này nghĩa là đã được
báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến vật thực cứng,
vật phụ thuộc của vật thực cứng được mang lại; điều
này nghĩa là đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên
quan đến gia đình, những người trong gia đình ấy mang lại
vật thực cứng hoặc vật thực mềm; điều này nghĩa là
đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến ngôi
làng, những người trong ngôi làng ấy mang lại vật thực
cứng hoặc vật thực mềm; điều này nghĩa là đã được
báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến phường hội,
những người trong phường hội ấy mang lại vật thực cứng
hoặc vật thực mềm; điều này nghĩa là đã được báo tin.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng
đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt
đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, súp,
bánh, cá, thịt.
Khuôn
viên tu viện nghĩa là bên trong tu viện đối với tu viện
đã được rào lại, là vùng phụ cận đối với tu viện
không được rào lại.
Không
bị bệnh nghĩa là có thể đi khất thực.
Bị
bệnh nghĩa là không thể đi khất thực. Vị không bị bệnh
(nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận (vật
thực) chưa được báo tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ).
[797]
Khi chưa được báo tin, nhận biết là chưa được báo tin,
sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm
ở trong khuôn viên tu viện, vị không bị bệnh nhai hoặc ăn
thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Khi
chưa được báo tin, có sự hoài nghi, sau khi tự tay nhận lãnh
vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở trong khuôn viên tu
viện, vị không bị bệnh nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya
(ưng phát lộ).
Khi
chưa được báo tin, (lầm) tưởng là đã được báo tin, sau
khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm
ở trong khuôn viên tu viện, vị không bị bệnh nhai hoặc ăn
thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).
Vị
nhận lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày,
vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi
đã được báo tin, (lầm) tưởng là chưa được báo tin, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
đã được báo tin, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Khi
đã được báo tin, nhận biết là đã được báo tin thì vô
tội.
[798]
Khi đã được báo tin, vị bị bệnh, vị thọ thực phần
còn lại trong trường hợp đã được báo tin hoặc của vị
bị bệnh, vị thọ lãnh ở bên ngoài tu viện rồi thọ thực
ở bên trong tu viện, vị thọ thực rễ cây hoặc vỏ cây
hoặc lá cây hoặc bông hoa hoặc trái cây sanh trưởng tại
nơi ấy, vị thọ dụng vật dùng đến hết đêm vật dùng
trong bảy ngày vật dùng suốt đời khi có duyên cớ, vị bị
điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
*******
[799]
Bạch chư đại đức, bốn điều pāṭidesanīya (ưng phát lộ)
đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các
đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong
vấn đề này?
Đến
lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh
tịnh trong vấn đề này?
Đến
lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh
tịnh trong vấn đề này?
Các
đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận
sự việc này là như vậy.
Dứt
Chương Pāṭidesanīya (Ưng Phát Lộ).
*******
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Tài liệu The Buddhist Monastic Code cho biết khoảng cách của
500 cây cung độ chừng 1 km.
[2]
Năm hạng người đồng đạo là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô
ni tu tập sự, sa di, và sa di ni.