I.
CHƯƠNG PĀRĀJIKA
(PĀRĀJIKAKAṆḌAṂ)
ĐIỀU
PĀRĀJIKA THỨ NHẤT:
[1]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi
(Xá Vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tu viện của ông Anāthapiṇḍika
(Cấp Cô Độc). Vào lúc bấy giờ, Sāḷha cháu trai của Migāra
[1] có ý định xây dựng trú xá cho hội chúng tỳ khưu ni.
Khi ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra đã đi đến gặp các
tỳ khưu ni và nói điều này:
- Thưa
các ni sư, tôi muốn xây dựng trú xá cho hội chúng tỳ khưu
ni. Hãy giao cho tôi vị tỳ khưu ni là vị phụ trách công trình
mới.
Vào
lúc bấy giờ, có bốn chị em đã xuất gia nơi các tỳ khưu
ni là: Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, Thullanandā. Trong số các
cô ấy, tỳ khưu ni Sundarīnandā đã xuất gia lúc còn trẻ,
đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, trí tuệ, kinh nghiệm, thông
minh, sắc sảo, cần cù, biết cách suy xét tính toán, có khả
năng để xây dựng, có khả năng để hoàn thành công việc
ấy. Khi ấy, hội chúng tỳ khưu ni đã chỉ định tỳ khưu
ni Sundarīnandā làm vị phụ trách công trình mới rồi bàn
giao cho Sāḷha cháu trai của Migāra.
Vào
lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā thường xuyên đi đến
nhà của Sāḷha cháu trai của Migāra (nói rằng):
- Hãy
bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí
xẻng, hãy bố thí lưỡi đục.
Sāḷha
cháu trai của Migāra cũng thường xuyên đi đến ni viện để
biết được việc đã làm xong hoặc chưa làm xong. Do sự thường
xuyên gặp gỡ, hai người đã sanh tâm quyến luyến. Khi ấy,
Sāḷha cháu trai của Migāra trong khi không có được cơ hội
để gần gũi thân mật với tỳ khưu ni Sundarīnandā nên đã
làm bữa trai phạn dâng hội chúng tỳ khưu ni nhằm đạt được
mục đích ấy. Khi ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra trong khi
xếp đặt chỗ ngồi ở nhà ăn (nghĩ rằng): “Chừng này
vị tỳ khưu ni là thâm niên hơn ni sư Sundarīnandā” rồi
đã sắp xếp chỗ ngồi phía bên này, “Chừng này vị là
non trẻ hơn” rồi đã sắp xếp chỗ ngồi ở phía bên kia,
và đã sắp xếp chỗ ngồi cho tỳ khưu ni Sundarīnandā ở
góc tường là nơi đã được che khuất. Như thế, các tỳ
khưu ni trưởng lão có thể tin rằng: “Cô ta đang ngồi ở
chỗ các tỳ khưu ni mới tu,” còn các tỳ khưu ni mới tu
có thể tin rằng: “Cô ta đang ngồi ở chỗ các tỳ khưu
ni trưởng lão.” Sau đó, Sāḷha cháu trai của Migāra đã
cho người thông báo thời giờ đến hội chúng tỳ khưu ni
rằng:
- Thưa
các ni sư, đã đến giờ, bữa ăn đã chuẩn bị xong.
Tỳ
khưu ni Sundarīnandā đã xét đoán ra rằng: “Sāḷha cháu trai
của Migāra đã làm bữa trai phạn dâng hội chúng tỳ khưu
ni không phải vì phước báu, anh ta có ý muốn gần gũi thân
mật với ta; nếu ta đi thì ta sẽ bị mất thể diện!” nên
đã bảo vị tỳ khưu ni học trò rằng:
- Hãy
đi và mang về thức ăn cho ta. Và ai hỏi ta thì cho hay rằng:
“Cô bị bệnh.”
- Thưa
ni sư, xin vâng. Vị tỳ khưu ni ấy đã trả lời tỳ khưu
ni Sundarīnandā.
Vào
lúc bấy giờ, Sāḷha cháu trai của Migāra đứng ở bên ngoài
cánh cổng ra vào hỏi han về tỳ khưu ni Sundarīnandā rằng:
- Thưa
ni sư, ni sư Sundarīnandā ở đâu? Thưa ni sư, ni sư Sundarīnandā
ở đâu?
Khi
được nói như thế, vị tỳ khưu ni học trò của tỳ khưu
ni Sundarīnandā đã nói với Sāḷha cháu trai của Migāra điều
này:
- Này
đạo hữu, (ni sư) bị bệnh. Tôi sẽ mang thức ăn về.
Khi
ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra (nghĩ rằng): “Sở dĩ ta
đã làm bữa trai phạn dâng hội chúng tỳ khưu ni có nguyên
nhân là ni sư Sundarīnandā” nên đã ra lệnh cho mọi người
rằng: “Hãy dâng bữa trai phạn đến hội chúng tỳ khưu
ni,” nói xong đã đi đến tu viện của các tỳ khưu ni.
Vào
lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā đứng ở bên ngoài
cổng ra vào của tu viện trông ngóng Sāḷha cháu trai của
Migāra. Rồi tỳ khưu ni Sundarīnandā đã nhìn thấy Sāḷha
cháu trai của Migāra từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn
thấy đã đi vào tu viện lấy thượng y trùm đầu lại rồi
nằm xuống ở chiếc giường. Sau đó, Sāḷha cháu trai của
Migāra đã đi đến gặp tỳ khưu ni Sundarīnandā, sau khi đến
đã nói với tỳ khưu ni Sundarīnandā điều này:
- Thưa
ni sư, có phải ni sư không được khoẻ? Sao lại nằm?
- Này
đạo hữu, bởi vì điều ấy là như vậy! Là khi nàng thích
chàng mà chàng lại không thích!
- Thưa
ni sư, sao tôi lại không thích ni sư được? Ngặt là tôi không
có được cơ hội để gần gũi thân mật với ni sư.
Rồi
Sāḷha cháu trai của Migāra nhiễm dục vọng đã thực hiện
việc xúc chạm cơ thể với tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm
dục vọng. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ yếu
đuối già cả bị bệnh ở bàn chân đang nằm không xa tỳ
khưu ni Sundarīnandā. Vị tỳ khưu ni ấy đã thấy Sāḷha cháu
trai của Migāra nhiễm dục vọng đang thực hiện việc xúc
chạm cơ thể với tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng,
sau khi thấy mới phàn nàn phê phán chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận việc
xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng?
Sau
đó, vị tỳ khưu ni ấy dã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm
tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ni ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận việc
xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các vị tỳ khưu ấy phàn nàn phê phán chê bai rằng:
- Vì
sao tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận
việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng
ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục
vọng, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, thật không đúng đắn đối với tỳ khưu ni
Sundarīnandā, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng
pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ
khưu, vì sao tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại
ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục
vọng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu,
hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin
ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin)
của một số người đã có đức tin.
Sau
đó, khi đã khiển trách tỳ khưu ni Sundarīnandā bằng nhiều
phương thức, đức Thế Tôn đã chê trách về sự khó khăn
trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự
tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm,
sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đã ngợi
khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng
trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự
từ khước, sự tiết chế, sự hòa nhã, sự đoạn giảm,
sự ra sức nỗ lực. Ngài đã thuyết Pháp thoại thích đáng
và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho
các tỳ khưu ni vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội
chúng, nhằm việc trấn áp những tỳ khưu ni ác xấu, nhằm
sự lạc trú của các tỳ khưu ni hiền thiện, nhằm ngăn ngừa
các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu
hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm
sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào
nhiễm dục vọng ưng thuận sự sờ vào hoặc sự vuốt ve
hoặc sự nắm lấy hoặc sự chạm vào hoặc sự ôm chặt
từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên
của người nam nhiễm dục vọng, vị ni này cũng là vị phạm
tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ sờ phần
trên đầu gối.”
[2]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào có mối quan hệ như vầy,
có giai cấp như vầy, có tên như vầy, có họ như vầy, có
giới hạnh như vầy, có trú xứ như vầy, có hành xứ như
vầy (yathāgocarā), là vị trưởng lão ni (trên mười năm tỳ
khưu ni), mới tu (dưới năm năm), hoặc trung niên (trên năm
năm); vị ni ấy được gọi là “vị ni nào.”
[3]
Tỳ khưu ni: “Người nữ đi khất thực” là tỳ khưu ni.
“Người nữ chấp nhận việc đi khất thực” là tỳ khưu
ni. “Người nữ mặc y đã được cắt rời” là tỳ khưu
ni. Là tỳ khưu ni do sự thừa nhận. Là tỳ khưu ni do tự
mình xác nhận. Là tỳ khưu ni khi được (đức Phật) nói
rằng: “Này tỳ khưu ni, hãy đi đến (ehi bhikkhunī).” “Người
nữ đã tu lên bậc trên bằng Tam Quy” là tỳ khưu ni. “Người
nữ hiền thiện” là tỳ khưu ni. “Người nữ có thực chất”
là tỳ khưu ni. “Người nữ thánh hữu học” là tỳ khưu
ni. “Người nữ thánh vô học” là tỳ khưu ni. “Người
nữ đã được tu lên bậc trên bằng hành sự có lời thông
báo đến lần thứ tư không sai sót, đáng được duy trì với
cả hai hội chúng có sự hợp nhất” là tỳ khưu ni. Ở đây,
vị tỳ khưu ni đã được tu lên bậc trên bằng hành sự
có lời thông báo đến lần thứ tư không sai sót, đáng được
duy trì với cả hai hội chúng có sự hợp nhất; vị ni này
là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.
(Nữ)
nhiễm dục vọng nghĩa là người nữ có dục vọng, có sự
khao khát, có tâm quyến luyến.
(Nam)
nhiễm dục vọng nghĩa là người nam có dục vọng, có sự
khao khát, có tâm quyến luyến.
Người
nam nghĩa là nam nhân loại, không phải dạ-xoa nam, không phải
ma nam, không phải thú đực, có sự hiểu biết, có khả năng
thực hiện việc xúc chạm cơ thể.
Từ
xương đòn (ở cổ) trở xuống: là phía dưới xương đòn
(ở cổ).
Từ
đầu gối trở lên: là phía trên đầu gối.
Sự
sờ vào nghĩa là việc được cọ xát vào.
Sự
vuốt ve nghĩa là sự di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác.
Sự
nắm lấy nghĩa là việc được nắm lấy.
Sự
chạm vào nghĩa là việc được đụng vào.
Hoặc
ưng thuận sự ôm chặt: sau khi nắm lấy phần thân thể rồi
ưng thuận việc ôm chặt vào.
Vị
ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị ni
trước đây.[2]
Là
vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông bị
chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy;
tương tợ như thế, vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng ưng thuận
sự sờ vào hoặc sự vuốt ve hoặc sự nắm lấy hoặc sự
chạm vào hoặc sự ôm chặt từ xương đòn (ở cổ) trở
xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục vọng
thì không còn là nữ sa-môn, không phải là Thích nữ; vì thế
được gọi “là vị phạm tội pārājika.”
Không
được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự,
có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học
tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ni ấy
không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không
được cộng trú.”
[3]
Khi cả hai nhiễm dục vọng, (đối với đối tượng) từ
xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên, vị[3]
dùng thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội pārājika.
Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối
tượng) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Vị dùng vật
được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội). Vị dùng vật được gắn
liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối
tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào thân
(đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị sờ vào vật được gắn liền với (đối tượng)
bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ
vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
[4]
(Đối với đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên
từ đầu gối trở xuống, vị dùng thân sờ vào thân (đối
tượng) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Vị dùng thân
sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn liền
với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào
vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật
ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật được
gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật (đối tượng) ném
ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[5]
Khi một bên nhiễm dục vọng,[4] (đối với đối tượng)
từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên,
vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội). Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền
với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị
dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng)
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn
liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối
tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào thân
(đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng)
bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ
vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
[6]
(Đối với đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên
từ đầu gối trở xuống, vị dùng thân sờ vào thân (đối
tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng thân sờ
vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn liền với
thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật
được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật được gắn
liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng
vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[7]
Khi cả hai nhiễm dục vọng, đối với dạ-xoa nam hoặc ma
nam hoặc thú đực, vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng)
từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên,
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Vị dùng thân sờ vào
vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn liền với thân
sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được
gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật được gắn
liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng
vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[8]
(Đối với đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên
từ đầu gối trở xuống, vị dùng thân sờ vào thân (đối
tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng thân sờ
vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn liền với
thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật
được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật được gắn
liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng
vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[9]
Khi một bên nhiễm dục vọng, (đối với đối tượng) từ
xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên, vị
dùng thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với
thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng
vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng)
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn
liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối
tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào thân
(đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng)
bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ
vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
[10]
(Đối với đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên
từ đầu gối trở xuống, vị dùng thân sờ vào thân (đối
tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng thân sờ
vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Vị dùng vật được gắn liền với
thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật
được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật được gắn
liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng
vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[11]
Không cố ý, vị ni thất niệm, vị ni không hay biết,[5] vị
ni không ưng thuận, vị ni bị điên, vị ni có tâm bị rối
loạn, vị ni bị thọ khổ hành hạ, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều pārājika thứ nhất.
*******
ĐIỀU
PĀRĀJIKA THỨ NHÌ:
[12]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Sundarīnandā đã mang thai do Sāḷha cháu trai của
Migāra. Khi bào thai còn non tháng, cô ta đã che giấu. Khi bào
thai đã được tròn tháng, cô ta đã hoàn tục và sanh con.
Các tỳ khưu ni đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này:
- Này
ni sư, Sundarīnandā hoàn tục không bao lâu đã sanh con. Chẳng
lẽ cô ta đã mang thai ngay khi còn là tỳ khưu ni?
- Này
các ni sư, đúng vậy.
- Này
ni sư, vì sao cô biết vị tỳ khưu ni đã vi phạm tội pārājika
lại không tự chính mình khiển trách cũng không thông báo
cho nhóm?
- Điều
không đức hạnh nào của cô ấy, điều không đức hạnh
ấy là của tôi. Điều ô danh nào của cô ấy, điều ô danh
ấy là của tôi. Điều không vinh dự nào của cô ấy, điều
không vinh dự ấy là của tôi. Điều thất lợi nào của cô
ấy, điều thất lợi ấy là của tôi. Này các ni sư, tại
sao tôi lại thông báo cho những người khác về điều không
đức hạnh của bản thân, điều ô danh của bản thân, điều
không vinh dự của bản thân, điều thất lợi của bản thân?
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā dầu biết vị tỳ khưu ni đã vi phạm
tội pārājika lại không tự chính mình khiển trách cũng không
thông báo cho nhóm?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy
sau khi triệu tập hội chúng tỳ khưu lại đã thuyết Pháp
thoại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā dầu biết vị
tỳ khưu ni đã vi phạm tội pārājika vẫn không tự chính
mình khiển trách cũng không thông báo cho nhóm, có đúng không
vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā dầu biết vị tỳ
khưu ni đã vi phạm tội pārājika vẫn không tự chính mình
khiển trách cũng không thông báo cho nhóm vậy? Này các tỳ
khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc
này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức
tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có
đức tin. ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu
ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
ni nào dầu biết vị tỳ khưu ni đã vi phạm tội pārājika
vẫn không tự chính mình khiển trách cũng không thông báo
cho nhóm khi vị ni kia hãy còn tồn tại, hoặc bị chết đi,
hoặc bị trục xuất, hoặc bỏ đi. Sau này, vị ni ấy nói
như vầy: ‘Này các ni sư, chính trước đây tôi đã biết
rõ tỳ khưu ni kia rằng:—Sư tỷ ấy là như thế và như thế—mà
tôi không tự chính mình khiển trách cũng không thông báo cho
nhóm;’ vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được
cộng trú, là người nữ che giấu tội.”
[13]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Biết
nghĩa là vị tự mình biết, hoặc các người khác thông báo
cho cô ấy, hoặc cô kia thông báo.
Đã
vi phạm tội pārājika: đã vi phạm một tội pārājika nào
trong tám tội pārājika.
Không
tự chính mình khiển trách: là không đích thân khiển trách.
Không
thông báo cho nhóm: là không thông báo cho các tỳ khưu ni khác.
[14]
Khi vị ni kia hãy còn tồn tại: còn tồn tại nghĩa là còn
tồn tại trong hiện tướng (tỳ khưu ni) được đề cập
đến.
Bị
chết đi nghĩa là bị qua đời được đề cập đến.
Bị
trục xuất nghĩa là tự mình hoàn tục hoặc bị trục xuất
bởi các vị khác.
Bỏ
đi nghĩa là chuyển sang sinh hoạt với tu sĩ ngoại đạo được
đề cập đến.
[15]
Sau này, vị ni ấy nói như vầy: “Này các ni sư, chính trước
đây tôi đã biết rõ tỳ khưu ni kia rằng: ‘Sư tỷ ấy là
như thế và như thế’ mà tôi không tự chính mình khiển
trách”: Tôi không đích thân buộc tội.
(Tôi)
không thông báo cho nhóm: Tôi không thông báo cho các tỳ khưu
ni khác.
[16]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Là
vị phạm tội pārājika: cũng giống như chiếc lá vàng đã
lìa khỏi cành không thể xanh trở lại; tương tợ như thế,
vị tỳ khưu ni biết vị tỳ khưu ni đã vi phạm tội pārājika
(nghĩ rằng): “Ta sẽ không tự chính mình khiển trách cũng
sẽ không thông báo cho nhóm.” Khi trách nhiệm đã được
buông bỏ thì không còn là nữ sa-môn, không phải là Thích
nữ; vì thế được gọi là “vị phạm tội pārājika.”
Không
được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự,
có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học
tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ni ấy
không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không
được cộng trú.”
[17]
Vị ni (nghĩ rằng): “Sẽ xảy ra sự xung đột, hoặc sự
cãi cọ, hoặc sự tranh luận, hoặc sự tranh cãi đến hội
chúng” rồi không thông báo, vị ni (nghĩ rằng): “Sẽ xảy
ra sự chia rẽ hội chúng hoặc sự bất đồng trong hội chúng”
rồi không thông báo, vị ni (nghĩ rằng): “Vị ni này hung
bạo thô lỗ sẽ gây nguy hiểm đến mạng sống hoặc nguy
hiểm đến Phạm hạnh” rồi không thông báo, trong khi không
nhìn thấy các tỳ khưu ni thích hợp khác rồi không thông
báo, vị ni không có ý định che giấu rồi không thông báo,
vị ni (nghĩ rằng): “Sẽ được nhận biết do hành động
của chính cô ấy” rồi không thông báo, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều pārājika thứ nhì.
*******
ĐIỀU
PĀRĀJIKA THỨ BA:
[18]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā xu hướng theo tỳ khưu Ariṭṭha trước
đây là người huấn luyện chim ưng (là vị) đã bị hội
chúng hợp nhất phạt án treo. Các tỳ khưu ni ít ham muốn,
...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā lại xu hướng theo tỳ khưu Ariṭṭha trước
đây là người huấn luyện chim ưng (là vị) đã bị hội
chúng hợp nhất phạt án treo?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā xu hướng theo
tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim
ưng (là vị) đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo, có
đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại xu hướng theo
tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim
ưng (là vị) đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo vậy?
Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ
khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào xu hướng theo vị tỳ khưu đã bị hội
chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng,
không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo theo Pháp,
theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Vị tỳ
khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: ‘Này
ni sư, vị tỳ khưu ấy đã bị hội chúng hợp nhất phạt
án treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối cải,
không thể hiện tình đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo
lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Này ni sư, chớ có xu hướng
theo vị tỳ khưu ấy.’ Và khi được nói như vậy bởi các
tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế,
thì vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở
đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc
nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc
này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ, vị ni này cũng là
vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người
nữ xu hướng theo kẻ bị phạt án treo.”
[19]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Hội
chúng hợp nhất nghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết
lập trong cùng ranh giới (sīmā).
Bị
phạt án treo nghĩa là bị phạt án treo trong việc không nhìn
nhận tội, hoặc trong việc không sửa chữa lỗi, hoặc trong
việc không từ bỏ tà kiến ác.
Theo
Pháp, theo Luật: theo Pháp nào đó, theo Luật nào đó.
Theo
lời giáo huấn của bậc Đạo Sư: theo lời giáo huấn của
đức Phật, theo lời giáo huấn của đấng Chiến Thắng.
Không
tôn trọng nghĩa là vị không tuân theo hội chúng hoặc (không
tuân theo) cá nhân hoặc (không tuân theo) hành sự.
Không
hối cải nghĩa là bị phạt án treo chưa được thu hồi.
Không
thể hiện tình đồng đạo nghĩa là các tỳ khưu có sự đồng
cộng trú giống nhau được gọi là các đồng đạo. Vị ấy
không có điều ấy với các vị ấy, vì thế được gọi
là “không thể hiện tình đồng đạo.”
Xu
hướng theo vị ấy: vị ấy có quan điểm gì, có điều mong
mỏi gì, có sự thích ý gì thì cô ni ấy cũng có quan điểm
ấy, có điều mong mỏi ấy, có sự thích ý ấy.
[20]
Vị tỳ khưu ni ấy: là vị tỳ khưu ni xu hướng theo vị bị
phạt án treo.
Bởi
các tỳ khưu ni: bởi các tỳ khưu ni khác. Các vị ni nào thấy,
các vị ni nào nghe, các vị ni ấy nên nói rằng: “Này ni
sư, vị tỳ khưu ấy đã bị hội chúng hợp nhất phạt án
treo là vị (tỳ khưu) không tôn trọng, không hối cải, không
thể hiện tình đồng đạo theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo
huấn của bậc Đạo Sư. Này ni sư, chớ có xu hướng theo
vị tỳ khưu ấy.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên
được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ, như
thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Các vị ni sau khi nghe mà không nói thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
tỳ khưu ni ấy nên được kéo đến giữa hội chúng rồi
nên được nói rằng: “Này ni sư, vị tỳ khưu ấy đã bị
hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không
tôn trọng, không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo
theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.
Này ni sư, chớ có xu hướng theo vị tỳ khưu ấy.” Nên được
nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba.
Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp;
nếu (vị ni ấy) không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
[21]
Vị tỳ khưu ni ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ
khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ
khưu ni này tên (như vầy) xu hướng theo vị tỳ khưu đã bị
hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không
tôn trọng, không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo
theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.
Vị ni ấy không chịu từ bỏ sự việc ấy. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở tỳ
khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là
lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ
khưu ni này tên (như vầy) xu hướng theo vị tỳ khưu đã bị
hội chúng hợp nhất phạt án treo là vị (tỳ khưu) không
tôn trọng, không hối cải, không thể hiện tình đồng đạo
theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.
Vị ni ấy không chịu từ bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc
nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy.
Đại đức ni nào đồng ý việc nhắc nhở tỳ khưu ni tên
(như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị ni nào
không đồng ý có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để
dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[22]
Do lời đề nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời
thông báo của hành sự thì phạm các tội thullaccaya (trọng
tội). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội pārājika.
[23]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Là
vị phạm tội pārājika: cũng giống như tảng đá lớn bị
bể làm hai không thể gắn liền lại được; tương tợ như
thế, vị tỳ khưu ni khi đang được nhắc nhở đến lần
thứ ba vẫn không chịu từ bỏ thì không còn là nữ sa-môn,
không phải là Thích nữ; vì thế được gọi “là vị phạm
tội pārājika.”
Không
được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự,
có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học
tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ni ấy
không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không
được cộng trú.”
[24]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni không dứt bỏ thì phạm tội pārājika.
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni không dứt bỏ thì
phạm tội pārājika.
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni không
dứt bỏ thì phạm tội pārājika.
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[25]
Vị ni chưa được nhắc nhở, vị ni dứt bỏ, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều pārājika thứ ba.
*******
ĐIỀU
PĀRĀJIKA THỨ TƯ:
[26]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư nhiễm dục vọng thích thú sự
nắm lấy cánh tay của người nam nhiễm dục vọng, thích thú
sự nắm lấy chéo áo choàng (của người nam), đứng chung,
trò chuyện, đi đến nơi hẹn hò, thích thú sự viếng thăm
của người nam, đi vào nơi che khuất, kề sát cơ thể nhằm
mục đích ấy là nhằm mục đích của việc thực hiện điều
không tốt đẹp ấy.[6] Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như
trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư nhiễm dục vọng lại thích
thú sự nắm lấy cánh tay của người nam nhiễm dục vọng,
thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng (của người nam), đứng
chung, trò chuyện, đi đến nơi hẹn hò, thích thú sự viếng
thăm của người nam, đi vào nơi che khuất, kề sát cơ thể
nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của việc thực hiện
điều không tốt đẹp ấy?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư nhiễm dục
vọng thích thú sự nắm lấy cánh tay của người nam nhiễm
dục vọng, thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng (của người
nam), đứng chung, trò chuyện, đi đến nơi hẹn hò, thích thú
sự viếng thăm của người nam, đi vào nơi che khuất, kề
sát cơ thể nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của việc
thực hiện điều không tốt đẹp ấy, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư nhiễm dục
vọng lại thích thú sự nắm lấy cánh tay của người nam
nhiễm dục vọng, thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng (của
người nam), đứng chung, trò chuyện, đi đến nơi hẹn hò,
thích thú sự viếng thăm của người nam, đi vào nơi che khuất,
kề sát cơ thể nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của
việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy vậy? Này các
tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các
tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng thích thú sự nắm lấy cánh
tay của người nam nhiễm dục vọng, hoặc thích thú sự nắm
lấy chéo áo choàng (của người nam), hoặc đứng chung, hoặc
trò chuyện, hoặc đi đến nơi hẹn hò, hoặc thích thú sự
viếng thăm của người nam, hoặc đi vào nơi che khuất, hoặc
kề sát cơ thể nhằm mục đích ấy là nhằm mục đích của
việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni này cũng
là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người
nữ liên quan tám sự việc.”
[27]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
(Nữ)
nhiễm dục vọng nghĩa là người nữ có dục vọng, có sự
khao khát, có tâm quyến luyến.
(Nam)
nhiễm dục vọng nghĩa là người nam có dục vọng, có sự
khao khát, có tâm quyến luyến.
Người
nam nghĩa là nam nhân loại, không phải dạ-xoa nam, không phải
ma nam, không phải thú đực, có sự hiểu biết, có khả năng
thực hiện việc xúc chạm cơ thể.
Hoặc
thích thú sự nắm lấy cánh tay: cánh tay nghĩa là tính từ
cùi chỏ cho đến đầu móng tay. Nhằm mục đích của việc
thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni thích thú sự
nắm lấy từ xương đòn (ở cổ) trở lên và đầu gối trở
xuống thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Hoặc
thích thú sự nắm lấy chéo áo choàng: Nhằm mục đích của
việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni thích thú
sự nắm lấy hoặc tấm choàng dưới hoặc tấm choàng trên
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Hoặc
đứng chung: Nhằm mục đích của việc thực hiện điều không
tốt đẹp ấy, vị ni đứng trong tầm tay[7] của người nam
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Hoặc
trò chuyện: Nhằm mục đích của việc thực hiện điều không
tốt đẹp ấy, vị ni đứng trò chuyện trong tầm tay của
người nam thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Hoặc
đi đến nơi hẹn hò: Nhằm mục đích của việc thực hiện
điều không tốt đẹp ấy, vị ni đi đến địa điểm tên
(như vầy) đã được người nam nói ra thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác) theo mỗi bước đi, khi đã vào ở trong tầm tay của
người nam thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Hoặc
thích thú sự viếng thăm của người nam: Nhằm mục đích
của việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni thích
thú sự viếng thăm của người nam thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác), khi đã vào ở trong tầm tay của người nam thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội).
Hoặc
đi vào nơi che khuất: Nhằm mục đích của việc thực hiện
điều không tốt đẹp ấy, khi đã vào trong chỗ được che
kín bởi bất cứ vật gì thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội).
Hoặc
kề sát cơ thể nhằm mục đích ấy: Nhằm mục đích của
việc thực hiện điều không tốt đẹp ấy, vị ni đứng
trong tầm tay của người nam kề sát cơ thể thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội).
[28]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Là
vị phạm tội pārājika: cũng giống như cây thốt nốt bị
chặt ở ngọn không thể tăng trưởng được nữa; tương
tợ như thế, vị tỳ khưu ni khi làm đủ tám sự việc thì
không còn là nữ sa-môn, không phải là Thích nữ; vì thế
được gọi “là vị phạm tội pārājika.”
Không
được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự,
có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học
tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ni ấy
không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không
được cộng trú.”
[29]
Không cố ý, vị ni thất niệm, vị ni không hay biết, vị
ni không thích thú, vị ni bị điên, vị ni có tâm bị rối
loạn, vị ni bị thọ khổ hành hạ, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều pārājika thứ tư.
*******
[30]
Bạch chư đại đức ni, tám điều pārājika[8] đã được
đọc tụng xong. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều
kia thuộc về các điều này thì không có được sự cộng
trú cùng với các tỳ khưu ni,[9] trước đây như thế nào
thì sau này là như vậy; (vị ni ấy) là vị ni phạm tội pārājika
không được cộng trú.
Trong
các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn
các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?
Đến
lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh
tịnh trong vấn đề này?
Đến
lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh
tịnh trong vấn đề này?
Các
đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận
sự việc này là như vậy.
Dứt
Chương Pārājika.
*******
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Migāranattā: lúc đầu chúng tôi hiểu theo văn tự nghĩ rằng
Sāḷha là cháu cố của bà Visākhā, nhưng ngài Buddhaghosa giải
thích rằng chữ ở giữa đã bị bỏ bớt nên cần phải hiểu
rằng: “Migāramātuyā pana nattā hoti” nghĩa là cháu trai (nội
hoặc ngoại) của Migāramātā tức là bā Visākhā.
[2]
Tính luôn các tỳ khưu ni đã vi phạm bốn điều pārājika
của tỳ khưu nên gọi là các vị ni trước đây (theo lời
giải thích của ngài Buddhaghosa).
[3]
Vấn đề vị tỳ khưu ni hay đối tượng nam là người tạo
tác thật sự làm chúng tôi bối rối. Bản dịch của Cô I.B.
Horner ghi rõ chính vị tỳ khưu ni là người thực hiện các
hành động sờ vào, vuốt ve, v.v... ở trên cơ thể của phái
nam. Chúng tôi đã xem xét kỹ đoạn [1, 2] về nhiều phương
diện: văn phạm, ngữ cảnh, thành ngữ và xác định rằng
các hành động trên là của phái nam. Như trong câu chuyện,
tỳ khưu ni Sundarīnandā chỉ tiếp nhận và ưng thuận (sādiyati)
hành động từ phía đối tượng thay vì thực hiện (samāpajjati),
so sánh “purisapuggalassa kāyasaṃsaggaṃ” và “mātugāmena
saddhiṃ kāyasaṃsaggaṃ,” và điều quy định cũng sử dụng
từ sādiyeyya (đồng ý, chấp thuận, thích thú, ...); nếu vị
tỳ khưu ni là người tạo tác, các động từ sẽ dùng phải
là āmaseyya, parāmaseyya, ... Tuy nhiên đến phần [3] này, văn
phạm không xác định rõ giới tính nam hay nữ trong câu văn
là điều ít khi xảy ra đối với loại ngôn ngữ này. Ngài
Buddhaghosa giải thích rằng vị tỳ khưu ni sờ vào thân người
nam hay ưng thuận việc người nam sờ vào thân (của mình)
cũng bị phạm tội tương đương tùy theo vị trí sờ vào
ở trên thân thể. Như vậy, câu văn ở trên có thể hiểu
theo hai cách. Và điều quy định này cần hiểu luôn cả 2
khía cạnh, vị tỳ khưu ni ưng thuận hành động của phái
nam hoặc chính vị ni thực hiện các hành động trên. Chúng
tôi theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa nên dùng chữ
“vị” và “(đối tượng),” quý độc giả nên hiểu theo
cả hai cách.
[4]
Ekato avassute: khi một bên đầy dục vọng. Cô I.B. Horner dịch
rằng người thực hiện hành động là vị tỳ khưu ni. Về
điểm này, văn phạm cũng không xác định rõ giới tính. Ngài
Buddhaghosa giải thích như đã được ghi ở trên. Chúng tôi
xin phân tích thêm như sau: Trường hợp vị tỳ khưu ni nhiễm
dục vọng và chủ động thì phạm tội theo quy định; trường
hợp người nam nhiễm dục vọng sờ vào cơ thể của vị
tỳ khưu ni, nếu vị tỳ khưu ni không ưng thuận thì không
phạm tội theo phần [11] ở bên dưới. Từ avassute được
hiểu là danh tĩnh từ, trung tánh, định sở cách, số ít.
(Ở phần [1,2] có thể nghĩ rằng vị tỳ khưu ni đóng vai
trò thụ động, nhưng từ phần [3] trở đi tuy không xác định
rõ ràng qua văn phạm nhưng việc vị tỳ khưu ni đóng vai trò
chủ động được thể hiện qua ngữ cảnh; có lẽ đây là
điểm để cô I.B. Horner xác định lối dịch của cô). Chúng
tôi chọn lời giải thích của ngài Buddhaghosa vì bao quát được
mọi tình huống có thể xảy ra trong trường hợp này
[5]
Asatiyā: vị ni thất niệm nghĩa là tâm đang bận suy nghĩ việc
khác, ajānantiyā: vị ni không biết đây là người nam hay người
nữ (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).
[6]
Theo ngài Buddhaghosa, điều không tốt đẹp là nói đến sự
xúc chạm cơ thể (kāyasaṃsagga) chứ không phải sự thực
hiện việc đôi lứa (methunadhamma).
[7]
Hatthapāsa: tầm tay, có chiều dài vào khoảng 1,25 mét.
[8]
Tỳ khưu ni phải thọ trì bốn điều pārājika đã được
quy định cho tỳ khưu được gọi là điều quy định chung
và bốn điều quy định riêng được trình bày ở đây; như
thế, tổng cộng là 8 điều pārājika.
[9]
Theo ngài Buddhaghosa, vị ấy không còn được tham dự các lễ
Uposatha, Pavāraṇā, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha,
và các hành sự của hội chúng (saṅghakamma).