IV.
CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ) (tt)
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[364]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ mang thai. Cô ấy đi khất
thực. Dân chúng đã nói như vầy:
- Hãy
bố thí đồ khất thực cho ni sư. Ni sư mang bào thai nặng
nề!
Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ mang thai?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ mang thai?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ
mang thai, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người
nữ mang thai vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp độ người
nữ mang thai thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[365]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ mang thai nghĩa là có sanh mạng đã thành tựu được đề
cập đến.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn (ācarinī), hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ
định ranh giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do
lời đề nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời
thông báo của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác).
Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội
pācittiya (ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên
ngôn phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[366]
Người nữ mang thai, nhận biết là người nữ mang thai, vị
ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Người
nữ mang thai, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ mang thai, (lầm) tưởng là người nữ không mang thai, vị
ni tiếp độ thì vô tội.
Người
nữ không mang thai, (lầm) tưởng là người nữ mang thai, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ không mang thai, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Người
nữ không mang thai, nhận biết là người nữ không mang thai
thì vô tội.
[367]
Vị ni tiếp độ người nữ mang thai (lầm) tưởng là không
mang thai, vị ni tiếp độ người nữ không mang thai (khi) nhận
biết là không mang thai, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[368]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ còn cho con bú. Cô ấy
đi khất thực. Dân chúng đã nói như vầy:
- Hãy
bố thí đồ khất thực cho ni sư. Ni sư còn có người thứ
nhì!
Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ còn cho con bú?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ còn cho con bú?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ
còn cho con bú, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người
nữ còn cho con bú vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp độ người
nữ còn cho con bú thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[369]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ còn cho con bú nghĩa là người mẹ hoặc là người vú
nuôi.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[370]
Người nữ còn cho con bú, nhận biết là người nữ còn cho
con bú, vị ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Người
nữ còn cho con bú, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ còn cho con bú, (lầm) tưởng là người nữ không cho con
bú, vị ni tiếp độ thì vô tội.
Người
nữ không cho con bú, (lầm) tưởng là người nữ còn cho con
bú, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ không cho con bú, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Người
nữ không cho con bú, nhận biết là người nữ không cho con
bú thì vô tội.
[371]
Vị ni tiếp độ người nữ còn cho con bú (lầm) tưởng là
người nữ không cho con bú, vị ni tiếp độ người nữ không
cho con bú (khi) nhận biết là người nữ không cho con bú, vị
ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[372]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ cô ni tu tập sự chưa thực hành
việc học tập về sáu pháp trong hai năm. Các vị ni ấy ngu
dốt, không có kinh nghiệm, không biết việc được phép hay
không được phép. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ cô ni tu tập sự chưa thực
hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ cô ni tu tập
sự chưa thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm,
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ cô ni tu
tập sự chưa thực hành việc học tập về sáu pháp trong
hai năm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự chấp thuận việc học
tập về sáu pháp trong hai năm đến cô ni tu tập sự. Và này
các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Cô ni tu tập sự ấy nên
đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh
lễ ở chân các tỳ khưu ni, ngồi chồm hổm, chắp tay lên,
và nên nói như vầy:
“Bạch
chư đại đức ni, tôi tên (như vầy) là cô ni tu tập sự
của đại đức ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự
chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai năm.”
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) là cô ni tu tập sự của đại đức ni tên
(như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận việc học
tập về sáu pháp trong hai năm. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự chấp thuận việc
học tập về sáu pháp trong hai năm đến cô ni tu tập sự
tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) là cô ni tu tập sự của đại đức ni tên
(như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận việc học
tập về sáu pháp trong hai năm. Hội chúng ban cho sự chấp
thuận việc học tập về sáu pháp trong hai năm đến cô ni
tu tập sự tên (như vầy). Đại đức ni nào đồng ý việc
ban cho sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai
năm đến cô ni tu tập sự tên (như vầy) xin im lặng; vị
ni nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự
chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai năm đã được
hội chúng ban cho đến cô ni tu tập sự tên (như vầy). Sự
việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi
nhận sự việc này là như vậy.”
Cô
ni tu tập sự ấy nên được nói rằng: “Cô hãy nói như
vầy:
1.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự giết hại mạng sống không
vi phạm trong hai năm.
2.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự lấy vật không được cho
(trộm cắp) không vi phạm trong hai năm.
3.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa điều phi Phạm hạnh (hành dâm)
không vi phạm trong hai năm.
4.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự nói dối không vi phạm trong
hai năm.
5.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự dễ duôi uống chất say
là rượu và chất lên men không vi phạm trong hai năm.
6.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự ăn sái thời không vi phạm
trong hai năm.”
Sau
đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ni ấy bằng
nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng
...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp
độ cô ni tu tập sự chưa thực hành việc học tập về sáu
pháp trong hai năm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[373]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Chưa
thực hành việc học tập nghĩa là việc học tập chưa được
ban cho hoặc là việc học tập đã ban cho bị hư hoại.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[374]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni tiếp
độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[375]
Vị ni tiếp độ cô ni tu tập sự đã thực hành việc học
tập về sáu pháp trong hai năm, vị ni bị điên, vị ni vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:
[376]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ cô ni tu tập sự đã thực hành
việc học tập về sáu pháp trong hai năm (nhưng) chưa được
hội chúng chấp thuận. Các tỳ khưu ni đã nói như vầy:
- Này
các cô ni tu tập sự, hãy đi đến. Hãy nhận biết việc này,
hãy bố thí vật này, hãy mang lại vật này, có sự cần dùng
với vật này, hãy làm vật này thành được phép.
Các
cô ni ấy đã nói như vầy:
- Này
các ni sư, chúng tôi không phải là các cô ni tu tập sự. Chúng
tôi là các tỳ khưu ni.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ cô ni tu tập sự đã thực
hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm (nhưng) chưa
được hội chúng chấp thuận?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ cô ni tu tập
sự đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm
(nhưng) chưa được hội chúng chấp thuận, có đúng không
vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ cô ni tu
tập sự đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai
năm (nhưng) chưa được hội chúng chấp thuận vậy? Này các
tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, …(như trên)…
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự chấp thuận về việc tiếp
độ đến cô ni tu tập sự đã thực hành việc học tập
về sáu pháp trong hai năm. Và này các tỳ khưu, nên ban cho
như vầy: Cô ni tu tập sự đã thực hành việc học tập về
sáu pháp trong hai năm ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp
thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
“Bạch
chư đại đức ni, tôi tên (như vầy), là cô ni tu tập sự
của đại đức ni tên (như vầy) đã thực hành việc học
tập về sáu pháp trong hai năm, (giờ) thỉnh cầu hội chúng
sự chấp thuận về việc tiếp độ.“
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy), là cô ni tu tập sự của đại đức ni tên
(như vầy) đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong
hai năm, (giờ) thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận về việc
tiếp độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội
chúng nên ban cho sự chấp thuận về việc tiếp độ đến
cô ni tu tập sự tên (như vầy) đã thực hành việc học tập
về sáu pháp trong hai năm. Đây là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy), là cô ni tu tập sự của đại đức ni tên
(như vầy) đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong
hai năm, (giờ) thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận về việc
tiếp độ. Hội chúng ban cho sự chấp thuận về việc tiếp
độ đến cô ni tu tập sự tên (như vầy) đã thực hành việc
học tập về sáu pháp trong hai năm. Đại đức ni nào đồng
ý việc ban cho sự chấp thuận về việc tiếp độ đến cô
ni tu tập sự tên (như vầy) đã thực hành việc học tập
về sáu pháp trong hai năm xin im lặng; vị ni nào không đồng
ý có thể nói lên.
Sự
chấp thuận về việc tiếp độ đã được hội chúng ban
cho đến cô ni tu tập sự tên (như vầy) đã thực hành việc
học tập về sáu pháp trong hai năm. Sự việc được hội
chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này
là như vậy.”
Sau
đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ni ấy bằng
nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng
...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp
độ cô ni tu tập sự đã thực hành việc học tập về sáu
pháp trong hai năm (nhưng) chưa được hội chúng chấp thuận
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[377]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Đã
thực hành việc học tập nghĩa là đã thực hành việc học
tập về sáu pháp.
Chưa
được chấp thuận nghĩa là sự chấp thuận về việc tiếp
độ bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ hai
chưa được ban cho.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[378]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni tiếp
độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[379]
Vị ni tiếp độ cô ni tu tập sự đã thực hành việc học
tập về sáu pháp trong hai năm (và) đã được hội chúng chấp
thuận, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:
[380]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ đã kết hôn khi chưa
đủ mười hai tuổi. [1] Các cô ấy không có khả năng chịu
đựng sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc
chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các
lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng không cam chịu
các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt,
không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ
thể đã sanh khởi. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ đã kết hôn
khi chưa đủ mười hai tuổi?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ
đã kết hôn khi chưa đủ mười hai tuổi, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người
nữ đã kết hôn khi chưa đủ mười hai tuổi vậy? Này các
tỳ khưu, bởi vì người nữ đã kết hôn khi chưa đủ mười
hai tuổi không có khả năng chịu đựng sự lạnh, sự nóng,
sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió,
nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích,
có khuynh hướng không cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối,
khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu,
chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ
khưu, người nữ đã kết hôn khi đã đủ mười hai tuổi
có khả năng chịu đựng sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự
khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các
loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng
cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc
bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người
thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Và này các tỳ khưu, các
tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu ni nào tiếp độ người nữ đã kết hôn khi chưa
đủ mười hai tuổi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[381]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa
đủ mười hai tuổi nghĩa là chưa đạt đến mười hai tuổi.
Người
nữ đã kết hôn nghĩa là đề cập đến người nữ đã đi
đến ở chung với người đàn ông.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[382]
Khi chưa đủ mười hai tuổi, nhận biết là khi chưa đủ mười
hai tuổi, vị ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Khi
chưa đủ mười hai tuổi, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa đủ mười hai tuổi, (lầm) tưởng là đã tròn đủ,
vị ni tiếp độ thì vô tội.
Khi
đã tròn đủ mười hai tuổi, (lầm) tưởng là chưa đủ mười
hai tuổi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
đã tròn đủ mười hai tuổi, có sự hoài nghi, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi
đã tròn đủ mười hai tuổi, nhận biết là đã tròn đủ
thì vô tội.
[383]
Vị ni tiếp độ (người nữ đã kết hôn) khi chưa đủ mười
hai tuổi (lầm) tưởng là đã tròn đủ, vị ni tiếp độ
(người nữ đã kết hôn) khi đã tròn đủ mười hai tuổi
(với sự) nhận biết là đã tròn đủ, vị ni bị điên, vị
ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:
[384]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ đã kết hôn khi tròn
đủ mười hai tuổi chưa thực hành việc học tập về sáu
pháp trong hai năm. Các vị ni ấy ngu dốt, không có kinh nghiệm,
không biết việc được phép hay không được phép. Các tỳ
khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ đã kết hôn
khi tròn đủ mười hai tuổi chưa thực hành việc học tập
về sáu pháp trong hai năm?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ
đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi chưa thực hành việc
học tập về sáu pháp trong hai năm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người
nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi chưa thực hành
việc học tập về sáu pháp trong hai năm vậy? Này các tỳ
khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, …(như trên)…
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự chấp thuận việc học
tập về sáu pháp trong hai năm đến người nữ đã kết hôn
khi tròn đủ mười hai tuổi. Và này các tỳ khưu, nên ban
cho như vầy: Người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai
tuổi ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một
bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni, ngồi chồm hổm,
chắp tay lên, và nên nói như vầy:
“Bạch
chư đại đức ni, tôi tên (như vầy) thuộc về đại đức
ni tên (như vầy) là người nữ đã kết hôn khi tròn đủ
mười hai tuổi thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận việc
học tập về sáu pháp trong hai năm.”
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) thuộc về đại đức ni tên (như vầy) là người
nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi thỉnh cầu hội
chúng sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai
năm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng
nên ban cho sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong
hai năm đến người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai
tuổi tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) thuộc về đại đức ni tên (như vầy) là người
nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi thỉnh cầu hội
chúng sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai
năm. Hội chúng ban cho sự chấp thuận việc học tập về
sáu pháp trong hai năm đến người nữ đã kết hôn khi tròn
đủ mười hai tuổi tên (như vầy). Đại đức ni nào đồng
ý việc ban cho sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp
trong hai năm đến người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười
hai tuổi tên (như vầy) xin im lặng; vị ni nào không đồng
ý có thể nói lên.
Sự
chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai năm đã được
hội chúng ban cho đến người nữ đã kết hôn khi tròn đủ
mười hai tuổi tên (như vầy). Sự việc được hội chúng
đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như
vậy.”
Người
nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi ấy nên được
nói rằng: “Cô hãy nói như vầy:
1.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự giết hại mạng sống không
vi phạm trong hai năm.
...(như
trên)...
6.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự ăn sái thời không vi phạm
trong hai năm.”
Sau
đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ni ấy bằng
nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng
...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp
độ người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi
chưa thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[385]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Tròn
đủ mười hai tuổi nghĩa là đã đạt đến mười hai tuổi.
Người
nữ đã kết hôn nghĩa là đề cập đến người nữ đã đi
đến ở chung với người đàn ông.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Chưa
thực hành việc học tập nghĩa là việc học tập chưa được
ban cho hoặc là việc học tập đã ban cho bị hư hoại.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[386]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni tiếp
độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[387]
Vị ni tiếp độ người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười
hai tuổi đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai
năm, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:
[388]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ đã kết hôn khi tròn
đủ mười hai tuổi đã thực hành việc học tập về sáu
pháp trong hai năm (nhưng) chưa được hội chúng chấp thuận.
Các tỳ khưu ni đã nói như vầy:
- Này
các cô ni tu tập sự, hãy đi đến. Hãy nhận biết việc này,
hãy bố thí vật này, hãy mang lại vật này, có sự cần dùng
với vật này, hãy làm vật này thành được phép.
Các
cô ni ấy đã nói như vầy:
- Này
các ni sư, chúng tôi không phải là các cô ni tu tập sự. Chúng
tôi là các tỳ khưu ni.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người nữ đã kết hôn
khi tròn đủ mười hai tuổi đã thực hành việc học tập
về sáu pháp trong hai năm (nhưng) chưa được hội chúng chấp
thuận?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ người nữ
đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi đã thực hành việc
học tập về sáu pháp trong hai năm (nhưng) chưa được hội
chúng chấp thuận, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ người
nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi đã thực hành
việc học tập về sáu pháp trong hai năm (nhưng) chưa được
hội chúng chấp thuận vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như
trên)…
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự chấp thuận về việc tiếp
độ đến người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai
tuổi đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm.
Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Người nữ đã kết
hôn khi tròn đủ mười hai tuổi ấy đã thực hành việc học
tập về sáu pháp trong hai năm nên đi đến nơi hội chúng,
đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu
ni, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
“Bạch
chư đại đức ni, tôi tên (như vầy) thuộc về đại đức
ni tên (như vầy) là người nữ đã kết hôn khi tròn đủ
mười hai tuổi đã thực hành việc học tập về sáu pháp
trong hai năm (giờ) thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận về
việc tiếp độ.”
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) thuộc về đại đức ni tên (như vầy), là
người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi đã thực
hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm, (giờ) thỉnh
cầu hội chúng sự chấp thuận về việc tiếp độ. Nếu
là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban
cho sự chấp thuận về việc tiếp độ đến cô ni tên (như
vầy) là người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi
đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm. Đây
là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) thuộc về đại đức ni tên (như vầy), là
người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi đã thực
hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm, (giờ) thỉnh
cầu hội chúng sự chấp thuận về việc tiếp độ. Hội
chúng ban cho sự chấp thuận về việc tiếp độ đến cô
ni tên (như vầy) là người nữ đã kết hôn khi tròn đủ
mười hai tuổi đã thực hành việc học tập về sáu pháp
trong hai năm. Đại đức ni nào đồng ý việc ban cho sự chấp
thuận về việc tiếp độ đến cô ni tên (như vầy) là người
nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi đã thực hành
việc học tập về sáu pháp trong hai năm xin im lặng; vị ni
nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự
chấp thuận về việc tiếp độ đã được hội chúng ban
cho đến cô ni tên (như vầy) là người nữ đã kết hôn khi
tròn đủ mười hai tuổi đã thực hành việc học tập về
sáu pháp trong hai năm. Sự việc được hội chúng đồng ý
nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Sau
đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ni ấy bằng
nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng
...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp
độ người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười hai tuổi
đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm (nhưng)
chưa được hội chúng chấp thuận thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[389]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Tròn
đủ mười hai tuổi nghĩa là đã đạt đến mười hai tuổi.
Người
nữ đã kết hôn nghĩa là đề cập đến người nữ đã đi
đến ở chung với người đàn ông.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Đã
thực hành việc học tập nghĩa là đã thực hành việc học
tập về sáu pháp.
Chưa
được chấp thuận nghĩa là sự chấp thuận về việc tiếp
độ bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ hai
chưa được ban cho.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[390]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni tiếp
độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[391]
Vị ni tiếp độ người nữ đã kết hôn khi tròn đủ mười
hai tuổi đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai
năm (và) đã được hội chúng chấp thuận, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:
[392]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tiếp độ người nữ đệ tử
rồi không dạy dỗ cũng không bảo người dạy dỗ trong hai
năm. Các vị ni ấy ngu dốt, không có kinh nghiệm, không biết
việc được phép hay không được phép. Các tỳ khưu ni ít
ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā sau khi tiếp độ người nữ đệ tử lại
không dạy dỗ cũng không bảo người dạy dỗ trong hai năm?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tiếp độ
người nữ đệ tử rồi không dạy dỗ cũng không bảo người
dạy dỗ trong hai năm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tiếp độ
người nữ đệ tử lại không dạy dỗ cũng không bảo người
dạy dỗ trong hai năm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như
trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào sau khi tiếp
độ người nữ đệ tử rồi không dạy dỗ cũng không bảo
người dạy dỗ trong hai năm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).”
[393]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ đệ tử nghĩa là người nữ sống chung trú xá được
đề cập đến.
Sau
khi tiếp độ: sau khi cho tu lên bậc trên.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Không
dạy dỗ: không tự mình dạy dỗ bằng cách đọc tụng, bằng
sự thẩm vấn, bằng sự giáo giới, bằng sự chỉ dạy.
Không
bảo người dạy dỗ: không chỉ thị cho người khác. Vị
ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ không dạy dỗ cũng không bảo người
dạy dỗ trong hai năm;” trong việc buông bỏ trách nhiệm thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[394]
Khi có sự nguy hiểm, vị ni tầm cầu nhưng không đạt được,
vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[395]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni không hầu cận ni sư tế độ đã tiếp độ
cho trong hai năm. Các vị ni ấy ngu dốt, không có kinh nghiệm,
không biết việc được phép hay không được phép. Các tỳ
khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại không hầu cận ni sư tế độ đã
tiếp độ cho trong hai năm?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni không hầu cận ni sư
tế độ đã tiếp độ cho trong hai năm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại không hầu cận ni
sư tế độ đã tiếp độ cho trong hai năm vậy? Này các tỳ
khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ
khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu ni nào không hầu cận ni sư tế độ đã tiếp độ cho
trong hai năm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[396]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Đã
tiếp độ cho: đã cho tu lên bậc trên.
Ni
sư tế độ nghĩa là vị ni là thầy tế độ được đề
cập đến.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Không
hầu cận: không tự mình hầu cận. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta
sẽ không hầu cận trong hai năm;” trong việc buông bỏ trách
nhiệm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[397]
Vị ni sư tế độ là vị ni ngu dốt hoặc không có liêm sỉ,
vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
SẢN PHỤ - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
[398]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tiếp độ người nữ đệ tử
rồi không cách ly (vị ni ấy) cũng không làm cho (vị ni ấy)
được cách ly. Người chồng đã giữ lại. Các tỳ khưu ni
ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā sau khi tiếp độ người nữ đệ tử lại
không cách ly (vị ni ấy) cũng không làm cho (vị ni ấy) được
cách ly khiến người chồng đã giữ lại? Nếu vị tỳ khưu
ni này đã ra đi thì người chồng không thể giữ lại được.
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tiếp độ
người nữ đệ tử rồi không cách ly (vị ni ấy) cũng không
làm cho (vị ni ấy) được cách ly khiến người chồng đã
giữ lại, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tiếp độ
người nữ đệ tử lại không cách ly (vị ni ấy) cũng không
làm cho (vị ni ấy) được cách ly khiến người chồng đã
giữ lại vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và
này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào sau khi tiếp độ người
nữ đệ tử rồi không cách ly (vị ni ấy) cũng không làm
cho (vị ni ấy) được cách ly cho dầu chỉ là năm sáu do tuần
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[399]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ đệ tử nghĩa là người nữ sống chung trú xá được
đề cập đến.
Đã
tiếp độ cho: đã cho tu lên bậc trên.
Không
cách ly: không tự mình cách ly.
Không
làm cho (vị ni ấy) được cách ly: không chỉ thị cho vị
khác. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ không cách ly (vị ni ấy)
cũng không làm cho (vị ni ấy) được cách ly cho dầu chỉ
là năm sáu do tuần,” trong việc buông bỏ trách nhiệm thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[400]
Khi có trường hợp nguy hiểm, vị ni tìm kiếm nhưng không
có được vị tỳ khưu ni thứ hai, trong những lúc có sự
cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Phần
Sản Phụ là phần thứ bảy.
*******
PHẦN
THIẾU NỮ - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[401]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ thiếu nữ chưa đủ hai mươi tuổi.
Các cô ấy không có khả năng chịu đựng sự lạnh, sự nóng,
sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió,
nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích,
có khuynh hướng không cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối,
khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu,
chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Các tỳ khưu
ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ thiếu nữ chưa đủ hai
mươi tuổi?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ thiếu nữ
chưa đủ hai mươi tuổi, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ thiếu
nữ chưa đủ hai mươi tuổi vậy? Này các tỳ khưu, bởi vì
thiếu nữ chưa đủ hai mươi tuổi không có khả năng chịu
đựng sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc
chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các
lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng không cam chịu
các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt,
không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ
thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, thiếu nữ đã đủ hai
mươi tuổi có khả năng chịu đựng sự lạnh, sự nóng, sự
đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng,
và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh
hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt,
sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người
thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Và này các tỳ khưu, các
tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu ni nào tiếp độ thiếu nữ chưa đủ hai mươi tuổi
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[402]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa
đủ hai mươi tuổi nghĩa là chưa đạt đến hai mươi tuổi.
Thiếu
nữ nghĩa là đề cập đến vị sa di ni.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[403]
Khi chưa đủ hai mươi tuổi, nhận biết là chưa đủ hai mươi
tuổi, vị ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Khi
chưa đủ hai mươi tuổi, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa đủ hai mươi tuổi, (lầm) tưởng là đã tròn đủ, vị
ni tiếp độ thì vô tội.
Khi
đã tròn đủ hai mươi tuổi, (lầm) tưởng là chưa đủ hai
mươi tuổi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
đã tròn đủ hai mươi tuổi, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Khi
đã tròn đủ hai mươi tuổi, nhận biết là đã tròn đủ
thì vô tội.
[404]
Vị ni (lầm) tưởng là đã tròn đủ rồi tiếp độ (thiếu
nữ) chưa đủ hai mươi tuổi, vị ni nhận biết là đã tròn
đủ rồi tiếp độ (thiếu nữ) đã tròn đủ hai mươi tuổi,
vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
THIẾU NỮ - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[405]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ thiếu nữ tròn đủ hai mươi tuổi
chưa thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm. Các
vị ni ấy ngu dốt, không có kinh nghiệm, không biết việc
được phép hay không được phép. Các tỳ khưu ni ít ham muốn,
...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ thiếu nữ tròn đủ hai
mươi tuổi chưa thực hành việc học tập về sáu pháp trong
hai năm?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni tiếp độ thiếu nữ
tròn đủ hai mươi tuổi chưa thực hành việc học tập về
sáu pháp trong hai năm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại tiếp độ thiếu
nữ tròn đủ hai mươi tuổi chưa thực hành việc học tập
về sáu pháp trong hai năm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
…(như trên)…
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự chấp thuận việc học
tập về sáu pháp trong hai năm đến thiếu nữ mười tám tuổi.
Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Thiếu nữ mười
tám tuổi ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y
một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni, ngồi chồm
hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
“Bạch
chư đại đức ni, tôi tên (như vầy) thuộc về đại đức
ni tên (như vầy) là thiếu nữ mười tám tuổi thỉnh cầu
hội chúng sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong
hai năm.”
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) thuộc về đại đức ni tên (như vầy) là thiếu
nữ mười tám tuổi thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận
việc học tập về sáu pháp trong hai năm. Nếu là thời điểm
thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự chấp thuận
việc học tập về sáu pháp trong hai năm đến cô ni tên (như
vầy) là thiếu nữ mười tám tuổi. Đây là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) thuộc về đại đức ni tên (như vầy) là thiếu
nữ mười tám tuổi thỉnh cầu hội chúng sự chấp thuận
việc học tập về sáu pháp trong hai năm. Hội chúng ban cho
sự chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai năm đến
cô ni tên (như vầy) là thiếu nữ mười tám tuổi. Đại đức
ni nào đồng ý việc ban cho sự chấp thuận việc học tập
về sáu pháp trong hai năm đến cô ni tên (như vầy) là thiếu
nữ mười tám tuổi xin im lặng; vị ni nào không đồng ý
có thể nói lên.
Sự
chấp thuận việc học tập về sáu pháp trong hai năm đã được
hội chúng ban cho đến cô ni tên (như vầy) là thiếu nữ mười
tám tuổi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im
lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Thiếu
nữ mười tám tuổi ấy nên được nói rằng: “Cô hãy nói
như vầy:
1.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự giết hại mạng sống không
vi phạm trong hai năm.
2.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự lấy vật không được cho
(trộm cắp) không vi phạm trong hai năm.
3.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa điều phi Phạm hạnh (sự hành
dâm) không vi phạm trong hai năm.
4.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự nói dối không vi phạm trong
hai năm.
5.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự dễ duôi uống chất say
là rượu và chất lên men không vi phạm trong hai năm.
6.
Tôi xin thọ trì việc tránh xa sự ăn sái thời không vi phạm
trong hai năm.”
Sau
đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ni ấy bằng
nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng
...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tiếp
độ thiếu nữ tròn đủ hai mươi tuổi chưa thực hành việc
học tập về sáu pháp trong hai năm thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[406]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Tròn
đủ hai mươi tuổi nghĩa là đã đạt đến hai mươi tuổi.
Thiếu
nữ nghĩa là đề cập đến vị sa di ni.
Hai
năm: (thời hạn) hai năm.
Chưa
thực hành việc học tập nghĩa là việc học tập chưa được
ban cho hoặc là việc học tập đã ban cho bị hư hoại.
Tiếp
độ: cho tu lên bậc trên. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ tiếp
độ” rồi tìm kiếm nhóm (tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên
ngôn, hoặc là bình bát, hoặc là y, hoặc là chỉ định ranh
giới (sīmā) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề
nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo
của hành sự thì phạm các tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt tuyên ngôn hành sự, ni sư tế độ phạm tội pācittiya
(ưng đối trị), nhóm (chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[407]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni tiếp độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni tiếp độ thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni tiếp
độ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[408]
Vị ni tiếp độ thiếu nữ tròn đủ hai mươi tuổi đã thực
hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
THIẾU NỮ - ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[409]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni tiếp độ thiếu nữ tròn đủ hai mươi tuổi
đã thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm (nhưng)
chưa được hội chúng chấp thuận. Các tỳ khưu ni đã nói
như vầy:
- Này
các cô ni tu tập sự, hãy đi đến. Hãy nhận biết việc này,
hãy bố thí vật này, hãy mang lại vật này, có sự cần dùng
với vật này, hãy làm vật này thành được phép.
Các
cô ni ấy đã nói như vầy:
- Này
các ni sư, chúng tôi không phải là các cô ni tu tập sự. Chúng
tôi là các tỳ khưu ni.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng: