PHẨM
NHƯ LAI THẦN LỰC và PHẨM CHÚC LỤY
Phẩm
Như Lai hiện thần lực. Đây là lúc đem trao Diệu pháp một
đại sự nhân duyên. Bởi trong kinh, trước phóng quang để
bày tỏ nhãn căn thấy tánh. Thấy tánh này, ứng dụng từ
trong tâm thể xưa nay trong sạch, vô lượng nghĩa, chẳng thể
nghĩ bàn. Khiến các chúng sanh trở lại cái thấy tánh đó,
xoay về quán bản tâm xưa nay của mình, mà ngộ nhập tri kiến
Phật.Tiếp đó dần dần khai diễn, tâm căn vốn cùng một
nguồn với tri kiến, đồng một thể dụng chẳng phải hai.
Cho đến cả sáu căn, cũng đồng là ứng dụng của tâm trong
sạch xưa nay. Tâm này tức là nhất đại sự tri kiến Phật
vậy.
Đại chúng
đã nhận ra nhưng nơi cửa sáu căn chưa biết nên từ căn
nào mà vào, mới là Diệu pháp tối thượng. Nên Phật lại
phóng quang, trưng biểu cùng việc phóng quang trước chẳng
khác. Phật hiện tướng lưỡi rộng dài, tức là biểu hiện
sẽ nói pháp lớn rất ít có. Cũng lại tiêu biểu cho thiệt
căn hay diễn thuyết pháp âm đại thừa, khiến cho người
nghe tâm họ có thể ngộ nhập. Lưỡi là mầm mống của tâm,
lưỡi nói chính là tâm nói vậy.Kế lại tằng hắng, khảy
móng tay phát thành tiếng. Đây chính là phút giây đối mặt
thân trao pháp lớn. Bởi chỉ cho nhân tiếng để bày ra tánh
nghe của nhĩ căn. Mà nhĩ căn viên thông thường tỏ rõ, năm
căn chẳng sánh kịp. Thế nên đức Phật tằng hắng, rồi
khảy móng tay, mật lệnh hãy tự hiểu lấy. Thầm dạy từ
nhĩ căn mà vào.
Kinh Lăng
Nghiêm nói:
Chân giáo
thể phương này,
Thanh tịnh
tại nghe tiếng,
Muốn được
Tam-ma-đề,
Thật từ
nghe mà vào.
Lại bảo:
“Chỉ dùng căn này tu viên thông, vượt hơn các căn khác”.
Nhưng đức Phật chẳng dùng tiếng pháp bày tỏ nhĩ căn là
biểu hiện lìa tướng nói năng. Dùng âm thinh tằng hắng,
khảy móng tay, để nêu rõ nhĩ căn là biểu hiện lìa tướng
tâm duyên. Tỏ ý chỉ tánh nghe của nhĩ căn dẫy đầy tròn
sáng mà thôi. Chư Phật đồng phóng ánh sáng cho đến đồng
tằng hắng và khảy móng tay là trưng biểu mười phương các
đức Phật đồng một đạo này. Lại, trưng biểu cho tánh
thấy nghe hiểu biết linh minh của đương cơ, nhất thời đồng
khắp mười phương cõi nước của chư Phật, rỗng suốt không
ngại không tạp.Nên biết tiết này cùng kinh Lăng Nghiêm chỗ
nêu bày số lượng công đức của sáu căn, để lựa chọn
trong căn viên thông cái thông lợi bậc nhất thì từ căn này
mà vào. Đánh chuông là để hiển lộ tánh nghe chân của nhĩ
căn, minh lợi viên thông thường tỏ rõ rất là thù thắng.
Kinh này thì tằng hắng, khảy móng tay, cũng cùng một ý nói
trên.
Kinh nói:
“Tiếng tằng hắng và tiếng khảy móng tay của chư Phật
nghe khắp mười phương cõi đất đều có sáu điệu vang động”.Quan
trọng ở hai chữ “nghe khắp” vậy. Lại tằng hắng tức
là bảo cho biết việc đó để xoay trông lại. Còn tiếng
khảy móng tay là để chỉ cho đã quét sạch tất cả, xưa
nay không pháp có thể thuyết. Chỉ thẳng cái linh minh đó
nghe khắp rỗng suốt mười phương là tự tánh trong sạch
xưa nay của các ông đấy. Người nghe nên như thế mà ngộ
nhập.Sau là phẩm Chúc Lụy. Bởi trước là tự lợi, đến
đây bảo phải lợi tha, tuyên dương rộng rãi pháp này, lưu
bố khắp nơi chớ sanh keo kiệt. Như trong kinh Lăng Nghiêm có
đoạn ngài A-nan tự phát thệ: “Mình chưa được độ, trước
độ người là phát Bồ-tát tâm. Tự giác đã xong, hay giác
ngộ kẻ khác là Như Lai ứng thế. Con dù chưa được độ,
nhưng nguyện độ tất cả chúng sanh đời sau...”
Trong phẩm
Chúc Lụy này nhằm nêu bày ý dẫn trên.
Kệ rằng:
Như Lai thần
lực rất lạ kỳ,
Chính đã
hợp căn, trao pháp thì,
Lưỡi ấy,
đành rành truyền đại giáo,
Tiếng ho
thầm bảo nhận văn tri,
Một phen
cùng chứng Chân nhân địa [(1)],
Tay khảy
viên dung Đại Mâu-ni¡ (1),
Cúi nhận
Như Lai thân trao phó,
Gió hoa tuyết
nguyệt mặc thi vi.*
Giao phó
cho rồi Trí vô sư [(2)],
Liền khuyên
phát khởi Đại vân từ [(3)],
Đây thuyền
giải thoát đưa người khổ,
Kìa đất
yên vui sống như như,
Như như
chớ tưởng như núi đá,
Bốn tướng
oai nghi cũng như như,
Lợi mình
lợi người đâu lẫn tiếc,
Khiến khắp
quần sanh vào Vô dư [(]4).
Như Lai thần
lực diệu nan tư,
Chánh thị
đầu căn phó pháp thì,
Thiệt tướng
đắc minh truyền đại giáo
,Khái thinh
linh giác ngộ văn tri,
Nhất thời
cộng chứng chân nhân địa
,Đàn chỉ
viên dung đại Phật thừa,
Diện phụng
Như Lai thân chúc thọ,
Phong hoa
tuyết nguyệt nhất như như,
Như như
bất thị như sơn thạch,
Tứ oai nghi
nội diệc như như,
Tự lợi
lợi tha chung bất lận,
Phổ linh
quần hữu nhập vô dư.
[(1)]Chân
nhân địa hay Đại Mâu-ni: Tức chỉ cho nhân địa và quả
vị vô lậu, giải thoát cùng tột, pháp thân hiển lộ, bi
trí viên mãn, lợi mình, lợi người cùng khắp. Bài kệ cuối
của Tam Thập Tụng Duy Thức nói:
Thử tức
vô lậu giới,
Bất tư
nghì, thiện, thường, An lạc giải thoát thân, Đại Mâu-ni
danh pháp.
[(2)]
Trí vô sư: Trí tuệ bản hữu, không phải thứ kiến giải
tập thành hằng ngày. Mọi người đều saün có thứ trí tuệ
này, nó hiện bày một cách độc đáo và tự nhiên khi cơ
duyên hội đủ.
[(3)]
Đại vân từ: Từ tâm bình đẳng cùng khắp như đám mây
lớn, nó không còn đối tượng năng sở và chủ thể khách
thể hay bất cứ một lý do nào.
(4)
Vô dư: Niết-bàn tối hậu không còn thừa sót, tức là đại
Niết-bàn của Phật quả vậy. Tám câu thơ sau, bốn câu đầu
là do dịch giả dựa ý bài thơ trước diễn ra để hợp vận
với bốn câu kết của tác giả.