PHẨM
THỨ BẢY
HOÁ
THÀNH DỤ (L'ancienne application)
Phật
bảo các Tỳ-khưu: “Trong quá-khứ vô-lượng vô-biên có một
đức Phật là Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai. Nước của Phật
tên Hảo-Thành, kiếp tên Đại-Tướng.
Từ
khi đức Phật Đại-Thông diệt độ đến nay, cũng rất lâu
xa không thể tính được.
Đức
Phật Thích-Ca sở dĩ biết sự-tích của đức Phật Đại-Thông
là nhờ sức tri-kiến của Như-Lai, cho nên việc dù cách xa
như thế, Ngài vẫn thấy như việc hiện nay.
Đức
Đại-Thông Trí-Thắng thọ năm trăm bốn mươi vạn ức
na-do-tha kiếp ([1]). Lúc còn ngồi đạo-tràng, Ngài đã phá
xong ma-quân. Ma quân phá xong, Ngài tưởng sẽ đặng Vô thượng
chánh-đẳng chánh-giác, nhưng pháp Phật chẳng hiện ra. Ngài
bèn nhập định, ngồi xếp bằng, thân tâm bất động, trong
một tiểu-kiếp. Pháp Phật vẫn chẳng hiện. Ngài tiếp ngồi
cho đến tiểu-kiếp thứ mười, mà cũng không thành Phật.
Lúc
bấy giờ, chư Thiên cõi trời Đao-lợi trải cho Phật một
toà Sư-tử cao một do tuần, Phật vừa ngồi lên là đắc
Vô thượng chánh-đẳng chánh-giác. Chư Thiên bèn rải hoa cúng
dường không ngớt suốt mười tiểu-kiếp.
Đức
Phật Thích-Ca nói tiếp: “ Chư Tỳ-khưu! Đức Phật Đại-Thông
Trí-Thắng phải trải qua mười tiểu-kiếp các pháp Phật
mới hiện bày và được Vô thượng chánh-đẳng chánh-giác”.
Lúc
Phật Đại-Thông chưa xuất gia, Ngài có 16 người con trai.
Người thứ nhất tên là Trí-Tích. Các con của Ngài, mỗi
người đều có những đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nhưng
khi nghe cha thành Phật, tất cả đều bỏ của báu đi
đến chỗ Phật ở. Mấy bà mẹ khóc lóc theo đưa.
Ông
nội là một vị chuyển-Luân Thánh-vương. Ông cùng một trăm
đại-thần cùng theo đến cúng dường và chiêm bái đức Phật
Đại-Thông.
Mười
sáu vị vương-tử thỉnh đức Phật Đại-Thông chuyển pháp-luân.
Đức
Phật Thích-Ca bảo các Tỳ-khưu: Lúc Đức Phật Đại-Thông
thành Phật, các nước Phật trong mười phương đều chấn
động sáu cách. Trong các nước ấy, những chỗ tối tăm mà
ánh sáng mặt trăng, mặt trời không soi được, lúc ấy đều
sáng rỡ. Chúng-sanh trong đó đều đặng thấy nhau mà nói
rằng: “Tại sao trong đây mà lại bỗng sanh chúng-sanh?”
Các
cõi trời trong mười phương cũng chấn động. Chư Thiên biết
có Phật ra đời, bèn kéo nhau đến chiêm bái và thỉnh Phật
chuyển pháp-luân.
Đức
Phật Đại-Thông Trí-Thắng nhận lời thỉnh của các Phạm-Thiên-vương
và 16 vị vương-tử, trước nói Tứ-đế, kế nói Thập-nhị
nhân-duyên, trước sau tất cả bốn lần, độ muôn ức Hằng-ha
sa chúng-sanh.
Bấy
giờ 16 vị vương-tử đều là đồng-tử xuất-gia làm Sa-di,
các căn thông lợi, trí-huệ sáng-suốt, từng cúng dường
trăm ngàn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm-hạnh. Các vị
bạch Phật Đại-Thông: “Các vị Đại-đức Thanh-văn vô
lượng muôn ngàn ức đây đã thành-tựu, kính xin Thế-Tôn
vì chúng con nói pháp Vô thượng chánh-đẳng chánh-giác. Chúng
con chí mong được tri-kiến của Như-Lai”.
Lúc
đó, 8 muôn ức người trong bọn theo hầu Vua Chuyển-Luân,
thấy 16 vị vương-tử xuất-gia, cũng xin xuất-gia theo. Vua
cho.
Bấy
giờ đức Đại-Thông nhận lời thỉnh của Sa-di, rồi qua
2 muôn kiếp sau mới ở trong hàng 4 chúng, nói kinh Đại-thừa
“Diệu-pháp Liên-hoa Giáo Bồ-tát pháp Phật sở hộ niệm”
Phật
nói kinh đó suốt 8 ngàn kiếp, không gián đoạn. Nói xong,
Phật vào tịnh thất trụ trong thiền-định 8 muôn bốn ngàn
kiếp.
Mười
sáu vị Sa-di bèn thay Phật lên pháp-tòa, cũng trong 8 muôn bốn
ngàn kiếp, rộng nói kinh Diệu-pháp. Mỗi vị đều độ Hằng-sa
chúng-sanh, khiến phát tâm Vô thượng chánh-đẳng chánh-giác.
Qua
8 muôn bốn ngàn kiếp, đức Phật Đại-Thông xuất định,
bảo rằng: “ 16 vị Sa-di thật là ít có vì trí-huệ sáng-láng,
các căn thông lẹ. Các hàng Thanh-văn, Duyên-giác và Bồ-tát
nếu biết gần gũi và tin kính, thọ trì pháp của mấy vị
ấy sẽ đặng đạo vô-thượng.
Đức
Phật Thích-Ca bảo các vị Tỳ-khưu.: “Hằng-sa chúng-sanh
được 16 vị Sa-di hoá độ, đời đời đều sanh ra cùng chung
nghe pháp với các vị ấy. Và 16 vị ấy nay đã thành Phật.
Vị
thứ nhất hiệu là……A-Súc
}
} ở phương Đông
- nhì
- ….Tu-Di-Đảnh
}
- ba
- ….Sư-Tử-Âm
}
} - Đông-Nam
- tư
- …. Sư-Tử Tướng }
- năm
- ….Hư-Không-Trụ }
} - Nam
- sáu
- ….Thường-Diệt
}
- bảy
- ….Đế-Tướng
}
} - Tây-Nam
- tám
- ….Phạm-Tướng
}
-chín
- ….A-D-Đà
}
} - Tây
- mười
- …Độ-Nhất-Thế
}
- 11
- ….Đa-Ma-La-Bạt
}
Chiên-Đàn-Hương }
Thần-Thông }
} - Tây-Bắc
- 12
- ….Tu-Di-Tướng
}
- 13
- …Vân-Tự-Tại
}
} - Bắc
- 14
- …Vân-Tự-Tại Vương
}
- 15-
…. Hoại-Nhất-Thế }
thế-gian bố-uý } -Đông-Bắc
vị
thứ 16 hiệu là……Thích-Ca Mâu-Ni } ở Ta-bà
Đức
Phật Thích-Ca nói tiếp: “ CácTỳ-khưu, lúc chúng ta làm Sa-di,
mỗi người giáo-hoá vô lượng trăm ngàn muôn hằng-hà sa
chúng-sanh đã vì đạo Vô-thượng mà theo chúng ta nghe pháp.
Những chúng-sanh đó đến nay có người đã trụ bậc Thanh-văn,
ta thường lấy pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác mà
giáo-hoá.
Hằng-sa
chúng-sanh đã được hoá-độ trong thuở đó, nay là Tỳ-khưu
các ngươi vậy, còn sau khi ta diệt độ rồi, những Thanh-văn
trong đời vị-lai cũng là những chúng-sanh ấy. Tuy nhiên cũng
có hàng đệ-tử không nghe kinh này, không hay không biết những
hạnh của Bồ-tát, tưởng với mớ công-đức tu tập được
là đã diệt độ và đắc sanh Niết-bàn.
Nên
biết chỉ do Phật-thừa mới được diệt độ, không có thừa
nào khác. Có khác là những phương-tiện nói pháp của các
đức Như-Lai mà thôi.
Đến
đây, đức Phật Thích-Ca đưa ra một tỷ-dụ.
Có
một chỗ chứa nhiều châu báu. Muốn đến nơi ấy, phải
trải qua một con đường nguy hiểm, dài năm trăm do-tuần,
lại thêm hoang vắng, không người, đáng ghê, đáng sợ.
Một
đám người muốn đến nơi ấy để lấy của báu. Họ được
một người thông-minh sáng-suốt dẫn đường. Dù vậy, vì
đường dài, bọn ấy mệt nhọc, sợ sệt, tỏ ý chán-nản.
Thương
xót bọn ấy sao lại có ý bỏ của báu mà lùi bước, vị
dẫn đường mới ở nơi ba phần đường, dùng phép lạ, hoá
ra một cái thành và bảo bọn kia vào ở, sẽ được an ổn,
sung sướng, còn muốn tiến thêm nữa để đến chỗ trân
bảo thì cũng tiện.
Bọn
kia nghe theo, vào thành ở, được an ổn.
Khi
biết chúng đã hết mệt mỏi, vị dẫn đường mới nói:
Thành ấy là ta biến hoá ra để cho chúng ngươi tạm nghỉ
mệt, chớ chẳng phải nơi mà bọn ngươi phải đi đến. Hãy
cố-gắng thêm, chỗ chứa châu báu gần đây!
Biết
tâm chúng-sanh, sợ con đường dài thành Phật, phải cần khổ
lắm mới đi đến chỗ cuối cùng, Phật như vị dẫn
đường mới tạm nói có hai thứ Niết-bàn, một cho Thanh-văn,
một cho Duyên-giác. Rồi, vì chúng-sanh tưởng hai nơi đó là
cứu-cánh, Phật phải đưa sự thật ra là sự tu hành như
thế chưa xong, cần phải tiến nữa, vì cũng gần tới đích
rồi.
*
*
*
Huyền
nghĩa
1.Đức
Phật Đại-Thông Trí-Thắng ra đời rồi diệt độ không biết
lúc xa xưa nào mà nói, mà tính cho được. Vậy nhất định
Ngài không phải một nhân-vật lịch-sử mà là một nhân-vật
được tạo ra để tượng-trưng cho một ý gì đó.
2.Đại-Thông
là thông biết rộng lớn, vậy là Toàn-tri (Omniscience). Trí
Thắng là cái trí-huệ, cái sáng-suốt hơn tất cả những
trí-huệ, sáng suốt khác (Lumière, Sapience, Intelligence supranormale).
Phân tách danh-hiệu Đại-Thông Trí-Yhắng, ta thấy chỗ dụng
tâm của Phật là nhân-cách-hoá (personnifier) Tâm.
3.Ai
cũng có tâm, và tâm ai cũng như tâm ai, đồng đại thông trí
thắng như nhau. Nhưng nếu tâm ấy mà bị dục-vọng, vô-minh
che đậy, thì gọi là chúng-sanh. Trái lại, nếu vô-minh, dục-vọng
dứt, tâm trở lại cái căn-bản “đại thông trí thắng”
của nó, thì gọi là Phật.
4.Muốn
trở lại căn-bản ấy, phải trải qua thời-kỳ tu sửa, lau
quét. Đó là chỗ trong kinh nói: ngồi đạo-tràng (tham thiền),
đã phá ma-quân (diệt trừ những tâm-niệm độc ác, sai quấy).
5.Nhưng
không phải thắng được thất tình lục dục rồi gọi là
đủ, rồi gọi là đã trở về với cái căn-bản “đại
thông trí thắng”. Phải sống mãi trong cái vô-dục đó mới
được. Đây là chỗ kinh bảo Phật Đại-Thông Trí-Thắng
nhập định đến 10 tiểu-kiếp.
6.Định
mãi trong cái vô-dục mới đạt đến cái phút “lên ngồi
Toà Sư-Tử”, lên ngôi Phật, mới thấy tất cả các “Pháp”
của Phật hiện bày trước mắt, mới được vô-thượng chánh-đẳng
chánh-giác.
7.Lúc
Phật chưa xuất-gia, có nghĩa là lúc Tâm chưa hướng thiện,
hướng thượng.
8.Lúc
ấy Phật có 16 người con. Đây kinh ám chỉ cái gọi là”
Thập lục tri-kiến” của chúng-sanh, của những tâm, chưa
thấy Đạo, còn kẹt trong vòng cố chấp có ta, có người,
có những cái của ta và những cái của người, 16 vị vương-tử
ấy cũng có thể ám chỉ “thập lục tâm” gồm 8 nhẫn và
8 trí, sau khi tu hành. Nói một cách khác, tâm sống theo phàm-phu
(chưa xuất-gia) có 16 cái đặc-tánh (propriétés) hay 16 cái
“thấy biết” (connaissances) sái quấy. Nhưng khi tâm đã trở
về với cái bản-nguyên trong sạch, sáng suốt của nó (xuất-gia)
thì 16 cái ấy trở thành 8 nhẫn và 8 trí. Về sau sẽ nói
thêm về đoạn này.
9.Chuyển-Luân
Thánh-vương tượng trưng cho “tâm vương”, 16 vị vương-tử
cũng như 8 muôn ức người tôi hầu đều tương trưng cho “tâm
sở”, tạm gọi “tánh nết” của tâm cho dễ hiểu. Nhưng
trong tánh-nết ấy, có loại chánh, có loại phụ. Chánh là
vương-tử; phụ là tôi hầu. Một khi loại chánh đã cải
tà, đã xuất-gia, thì loại phụ cũng đi theo.
10.
Bắt đầu thuyết pháp, Phật Đại-Thông nói về Tứ-đế
(Khổ, Tập, Diệt, Đạo), sau nói về Thập nhị nhân-duyên,
rốt hết mới nói tới Pháp-Hoa. Đó là lịch trình tu học
thứ lớp. Muốn chuyển tâm, bỏ phàm-phu theo thánh, trước
tiên con người, trong chỗ thâm tâm, phải nhìn nhận đời
là khổ, sống là khổ. Rồi phải hiểu luôn do đâu khổ sanh
(Tập), biết nguồn gốc của khổ rồi thì trừ khổ được
(diệt), nhưng trừ bằng phương pháp nào, đó là phần “Đạo”
của pháp Tứ-đế. Cao hơn một từng là pháp Thập-nhị nhân-duyên.
Nguyên nhân khổ là Dục, mà có Dục là vì Vô-minh, có Vô-minh
mới sanh quả khổ, và quả khổ hiện tiền làm nhân cho những
quả khổ tương lai, quây quần như vậy mãi, như bánh xe lăn,
không biết đâu đầu đâu đuôi. Nhưng nếu hiểu và tu được
pháp Thập-nhị nhân-duyên thì được sáng-suốt và giải-thoát.
Có hai điều kiện này rồi, mới tiến thêm một bước mà
học cái Chân lý cuối cùng (Kinh Diệu-Pháp) để đạt đến
chỗ Giải-thoát, Giác-ngộ hoàn toàn.
11.
Lúc đầu, sự giác-ngộ, thức-tỉnh, phải bắt từ tâm mà
phát sanh ra. Do đây nói Phật Đại-Thông thuyết pháp.
12.
Nhưng về sau, phải thay cái giác ngộ tại tâm bằng cái hành
trong giác-ngộ. Do đây kinh nói: 16 vị vương-tử thay Phật
thuyết pháp với nghĩa: những tánh-nết của tâm đã được
hoán cải theo chiều hướng của giải-thoát và giác-ngộ,
và mỗi sự phát hiện của những tánh-nết ấy trong tư tưởng,
lời nói, việc làm đều hợp với sự giác-ngộ, giải-thoát,
đều là những bài thuyết-pháp (discours, sermons) sống.
13.
Thuyết-pháp là “khẩu giáo” (dạy bằng miệng). Cư xử,
ăn ở như thế nào cho hợp Đạo, như hiện thân của Giải-thoát
và Giác-ngộ, là “thân giáo”. Vì vậy kinh nói: “ các hàng
Thanh-văn, Duyên-giác và Bồ-tát, nếu biết gần-gũi và tin
kinh, thọ trì pháp của mấy vị ấy (16 vương-tử), sẽ đặng
đạo Vô-thượng.
14.
16 vương-tử đã thành Phật, có nghĩa 16 tâm-sở đã chuyển
thành những đức-tánh. Những đức-tánh ấy là gì? Cứ xem
những danh-hiệu Phật của các vị là thấy:
Phật
A-Súc…là Vô-động, Bất-động, Vô sân-nhuế.
-
Tu-Di-Đảnh là Hướng-thượng
-
Sư-Tử-Âm là Chánh-Ngữ
-
Sư-Tử-Tướng là Chánh-Nghiệp
-
Hư-Khộng-Trụ là Chánh Định
-
Thường-Diệt là Tịch-tĩnh
-
Đế-Tướng là Đế-Thích Tướng Thiện
-
Phạm-Tướng là Phạm-Thiên-vương
-
A-Di-Đà là Vô-lượng-quang, Vô-lượng-thọ
-
Độ-nhất-thế thế-gian khổ là Đại-từ Đại-bi
-
Đa-Ma-la…là Vô-Cấu, tức Thanh-tịnh
-
Tu-Di-Tướng là Đại, là Thái, là Tuyệt-đối
-
Văn Tự-tại là Thông đạt vô-ngại trong tâm
-
Văn Tự-tại vương là làm chủ sự tự-tại
-
Hoại Nhất-thế thế-gian bố uý là Vô-uý
-
Thích-ca Mâu-ni là Năng nhân, hay thương mọi loài.
15.
Nhưng con đường thành Phật quá dài và quá kham-khổ. Vì sợ
người sanh
chán,
nên Phật phương-tiện nói có hai thứ Niết-bàn, tức là nói
có hai đích, để dẫn dụ người tu hành, thí như cái thành
được biến hoá ra để cho khách bộ hành tạm nghỉ (hoá
thành).
16.
Nhưng sao Ô. Burnouf lại dịch là “L'ancienne application”? Sự
tu học theo
lối
trước, lối xưa, xưa hơn thời thuyết kinh Pháp-hoa, thì lấy
quả Thanh-văn,
Duyên-giác
làm mãn nguyện. Với lối mới, theo kinh Pháp-Hoa, phải lấy
việc
thành
Phật làm cứu-cánh. Tu theo lối trước là “ancienne application”
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Ô.Burnouf dịch:cinquante quatre fois cent mille myriades de kôtis de
kalpas.