PHẨM
THỨ 12
ĐỀ
- BÀ - ĐẠT - ĐA
(Phẩm
này nằm chung tromg phẩm 11 của bản dịch Pháp văn)
Lúc
bấy giờ, Phật bảo các vị Bồ-tát và bốn chúng: “Trong
quá khứ vô lượng kiếp, ta đã cầu Kinh Pháp-Hoa không lười
mỏi. Trong nhiều kiếp, ta thường làm vua, phát nguyện cầu
đạo Bồ-đề, lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ
6 pháp ba-la-mật, ta siêng làm việc bố-thí, lòng không mến
tiếc một vật gì, dầu đó là tiền bạc, của báu, đất
đai, vợ con, tôi tớ hay thân thể của ta.
“Vì
lòng mến Pháp đó, ta nhường ngôi cho thái-tử và truyền
rao trong dân chúng, ai nói được pháp Đại-thừa cho ta nghe,
ta sẽ trọn đời hiến thân làm tôi đòi hầu hạ”.
“Một
vị tiên nhận tuyên nói Kinh Diệu-Pháp nếu nhà vua không trái
ý ông. Vua chịu và theo hầu hạ vị tiên, làm đủ mọi việc,
trải qua một ngàn năm, hết lòng siêng năng vì trọng pháp”.
Phật
nói thêm: “Nhà vua thuở ấy là ta, còn vị tiên là Đề-Bà-Đạt-Đa
đây. Ta nay thành bậc Đẳng Chánh-giác là nhờ vị thiện-tri-thức
đó. Trong vô lượng kiếp về sau, Đề-Bà-Đạt-Đa sẽ thành
Phật, hiệu là Thiên-Vương nước của Phật là Thiên-Đạo.
Phật
Thiên-Vương trú ở đời 20 trung-kiếp, hằng-sa chúng-sanh nhờ
pháp mầu của Phật mà đặng quả A-la-hán, hoặc phát tâm
Duyên-giác, Vô-thượng đạo, đặng vô-sanh-nhẫn đến bậc
bất thối chuyển.
Sau
khi Phật Thiên-Vương nhập Niết-bàn, Chánh-pháp trụ 20 trung-kiếp.
Nhờ cúng dường tháp bảy báu đựng toàn thân xá-lợi của
Phật Thiên-Vương mà chúng-sanh đặng quả A-la-hán, ngộ Bích-chi-Phật,
phát tâm Bồ-đề.
Phật
Thích-Ca bảo các Tỳ-kheo: “Trong đời vị-lai, thiện-nam,
thiện-nữ nào nghe phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa mà sanh lòng trong
sạch kính tin, không nghi ngờ, thời những thiện-nam, thiện-nữ
ấy không đọa vào ba đường ác, được sanh sang các
nước Phật và nơi người đó sanh, thường được nghe Kinh
Diệu-Pháp. Nếu sanh vào cõi Nhân Thiên, thời hưởng sự vui
sướng tột cùng; nếu sanh trước mặt Phật, thời từ hoa
sen hoá sanh.
Lúc
bấy giờ, Bồ-tát Trí-Tích([5]) thị-giả của Phật Đa-Bảo
bạch xin phép Phật Đa-Bảo trở về nước. Đức Phật Thích-Ca
mới bảo Bồ-tát Trí-Tích: “Thiện nam-tử, hãy chờ giây
lát. Ở đây có Bồ-tát Văn-Thù, ông và Văn-Thù có thể cùng
nhau ra mắt mà luận nói pháp mầu, xong rồi sẽ về”.
Ngay
khi ấy, Bồ-tát Văn-Thù và các Bồ-tát tùy tùng ngồi trên
hoa sen lớn, từ nơi cung Rồng Ta-Kiết-La trong biển lớn, tự
nhiên vọt lên không trụ trong hư-không, đến núi Linh-Thứu,
từ hoa sen bước xuống, làm lễ đức Phật Đa-Bảo và Thích-Ca,
kế hỏi thăm Bồ-tát Trí-Tích, rồi ngồi qua một bên.
Bồ-tát
Trí-Tích hỏi Bồ-tát Văn-Thù: “ Ngài qua cung Rồng hoá độ
được bao nhiêu chúng-sanh?” Văn-Thù đáp: “Vô-lượng. Nếu
Ngài không tin, sẽ tự chứng biết”.
Văn-Thù
nói chưa dứt lời, vô số Bồ-tát ngồi hoa sen, từ biển
vọt lên đến núi Linh-Thứu, trụ trong hư-không. Tất cả
đều do Bồ-tát Văn-Thù hoá độ.
Bồ-tát
Trí-Tích thấy vậy, nói một bài kệ khen:
Đức
của Đại-Trí thật là mạnh-mẽ
Hoá-độ
được vô lượng chúng-sanh,
Nay
trong đại-hội này,
Tôi
đã nhận thấy rõ:
Đại-Trí
nói nghĩa “Thực-Tướng”
Mở
bày pháp “Nhất-Thừa”
Rộng
độ các chúng-sanh
Khiến
mau thành “Bồ-đề”.
Văn-Thù
nói: “Ở biển, ta chỉ thường tuyên thuyết Kinh Diệu-Pháp”.
Trí-Tích hỏi: “Kinh này rất thâm diệu. Vậy có chúng-sanh
nào siêng tu theo kinh này mà mau thành Phật không? Văn-Thù đáp:
“Có con gái của Long-Vương. mới lên 8 tuổi mà đầy đủ
trí đức, trong khoảnh-khắc phát Bồ-đề-tâm là được bậc
bất thối-chuyển, biện tài vô ngại, từ-bi rộng lớn, công-đức
đầy đủ, có khả năng đến Bồ-đề”.
Trí-Tích
không tin: “Chính đức Phật Thích-Ca còn phải trải qua vô
lượng kiếp chứa nhiều công đức, làm những hạnh khó mới
thành đạo Bồ-đề, làm sao tin được câu chuyện Long-nữ
trong chốc lát mà chứng thành Chánh-giác?”.
Nói
luận chưa xong, Long-nữ bỗng hiện ra, làm lễ Phật, rồi
đứng qua một bên, nói một bài kệ mà đại ý là xưng tán
Pháp-thân và cho biết nàng đã nghe được tiếng của Pháp
nên đã thành Bồ-đề. Nhưng việc này chỉ Phật chứng biết
mà thôi.
Bấy
giờ Xá-Lợi-Phất nói với Long-nữ: “Thân gái nhơ uế, có
5 điều chướng-ngại([6]), lại đường Phật xa vời, phải
trải qua vô lượng kiếp cần khổ mới đi cùng, mà ngươi
nói tu không bao lâu là chứng được vô-thượng Chánh-giác.
Làm sao tin được?”.
Long-nữ
bèn lấy một hạt châu hiến dâng đức Thích-Ca. Phật nhận.
Long-nữ
hỏi Trí-Tích: “Tôi hiến châu, Thế-Tôn nhận lấy, việc
ấy có mau chăng?”.
Mau,
Trí-Tích đáp.
Ông
hãy lấy sức-thần của ông xem đây, tôi thành Phật còn mau
hơn việc đó.
Chúng
hội liền thấy Long-nữ thoạt nhiên biến thành nam-tử, đủ
hạnh Bồ-tát, qua cõi Vô-cấu phương nam ngồi hoa sen báu,
thành bậc Đẳng-Chánh-giác..
Bồ-tát
Trí-Tích và Văn-Thù làm thinh.
Huyền
nghĩa
Đứng
về mặt mạch kinh mà bàn, đáng lẽ phẩm “Đề-Bà-Đạt-Đa”
này nằm chung trong phẩm “Hiện Bảo-Tháp” mới phải, vì
câu chuyện Phật Đa-Bảo chưa dứt.
Ai
có đọc lịch-sử đức Phật Thích-Ca, đều biết Đề-Bà-Đạt-Đa
là một người ganh tị và ác độc, mấy phen mong làm hại
Phật mà không được. Thế mà xưa kia là thiện-tri-thức (bạn
lành) của Phật và trong vị lai lại sẽ thành Phật hiệu
là Thiên-Vương, nước hiệu là Thiện-Đạo.
Ai
ở đời mà không có kẻ thù? Nhưng đừng xem đó là kẻ thù
mà là bạn lành, vì có kẻ chọc cho chúng ta nóng giận, chúng
ta mới có dịp học đức nhẫn-nhục. Do đây Phật đưa ra
câu chuyện vị tiên, nói Kinh Diệu-Pháp trong thời quá-khứ
và vị tiên ấy là Đề-Bà-Đạt-Đa.
Lại
nữa, không ai ác hoài, ác riết rồi cũng có lúc thành thiện.
Bởi cớ Kinh nói Đề-Bà-Đạt-Đa sẽ thành Phật lấy hiệu
là Thiện-Vương, mà Vua cõi Trời lẽ cố nhiên phải là người
thiện tột bậc. Nước của Phật có tên là Thiện-Đạo.
Ý Kinh muốn nói tâm của ngưới ác (nước) đã hướng theo
con đường thiện.
Người
ác trở thành thiện là một gương thức tỉnh cho biết
bao chúng-sanh khác. Vì ý này nên Kinh nói Phật Thiên-Vương,
trong lúc hiện tiền cũng như sau khi nhập Niết-bàn, độ rất
nhiều người.
Thí-dụ
trên hơi khó hiểu, khó tin, cho nên Phật dạy: “Trong vị
lai, ai nghe phẩm này mà tin chắc, không nghi ngờ, thời không
đoạ vào ba đường ác và được sanh sang các nước Phật”.
Ví sao? Nghe phẩm này mà tin, là tin con người có thể cải
ác tùng thiện, là tin tự mình có khả-năng hoán cải đời
mình. Có tin là có làm, có làm cho nên hết ác (ra khỏi
ba đường ác). Hết ác thời phải thành thiện, thành trong
sạch (sanh về các nước Phật). Lại còn nghe được Kinh Diệu-Pháp,
là còn có cơ nghe nói đến Chân-lý.
*
*
*
Bây
giờ, chúng ta thử tìm hiểu câu chuyện giữa hai Bồ-tát Trí-Tích
và Văn-Thù.
Đã
nói Bồ-tát là tượng-trưng cho một đức-tánh, cho một cái
gì vô hình vô tướng.
Trí-Tích
là “cái trí được súc-tích”, tức là cái trí phàm-phu
do những bài học kinh-nghiệm tích-trữ mà thành. Như trí của
nhà toán-học là do sự tích-trữ nào những bài học, nào
những kinh-nghiệm của mình mà thành. Có thể xem cái trí này
là cái mà người Pháp gọi là “Intellect”.
Văn-Thù
cũng là trí, nhưng là Đại-Trí (Intelligence, Sagesse).
Nghe
chuyện người dữ hoá hiền, hiền đến thành Phật, trí phàm
phu làm sao hiểu và tin được? Không hiểu, không tin, tức
không để ý, và không để ý nên phải bỏ. Do đây Kinh nói
Bồ-tát Trí-Tích bạch với Phật Đa-Bảo nên đi về.
Phật
Thích-Ca mời ở lại luận nói pháp mầu với Văn-Thù, là
ý nói: Phàm trí không hiểu được đâu, phải Đại-Trí, Thánh-Trí
như Văn-Thù mới giải được. Cũng như chúng ta, khi nghe câu
chuyện Đề-Bà, thì trí phàm nông cạn của chúng ta làm sao
tin được, nhưng khi chúng ta vận-dụng cái trí thanh-tịnh
(Huệ), như khi ngồi thiền quán sát chẳng hạn, thời chúng
ta sẽ thấy Hiền Thánh từ đâu mà ra, há chẳng phải trong
biển khổ của chúng-sanh. Đây là chỗ Kinh nói Bồ-tát ngồi
hoa sen, từ dưới biển vọt lên vô số.
Ở
trong biển sanh-tử khổ não là vì vô-minh, mà vô-minh là chưa
dùng được cái sức mạnh hoá độ, hoán cải của Đại-Trí
hay Trí-Huệ. Có được sự sáng suốt rồi là hiểu được
cái Chân, cái Thật (Đại-Trí nói nghĩa “Thực-tướng”).
Trí-phàm
hay Trí-Tích lại hỏi nữa, vì còn nghi ngờ: Nghe hiểu được
Chân-lý (tức là Kinh Diệu-Pháp) có thể làm cho con người
mau thành Phật (tức là được sự giác-ngộ vô thượng) không?
Đại-Trí
đáp: “Được, và cái được ấy chẳng dành riêng cho một
ai cả. Bất luận già, trẻ, bé, lớn, nam, nữ, miễn có đầy
đủ trí đức, tu hành “đừng thối chuyển”, từ-bi rộng
lớn, biện tài thông suốt, công đức đủ đầy là năng đạt
đến Bồ-đề, thí như câu chuyện Long-nữ.
Việc
làm trong cõi hữu hình, như dưng ngọc cho Phật, Phật đưa
tay nhận lấy, dầu mau thế mấy, vẫn phải mất một ít thời
giờ. Đến như việc tỉnh ngộ (thành Phật) là việc của
cảnh vô-hình nội tâm thì mau hơn cái nháy mắt.
Nhưng
ai biết mình tỉnh ngộ. Chỉ có tâm mình biết mà thôi. Đây
là nghĩa của câu: Chỉ có Phật chứng biết mà thôi.
Chúng
ta thường nghe nói: Tu nhất kiếp, ngộ nhất thời, câu này
có thể là nghĩa của câu chuyện trên.
Phải
trải qua muôn ngàn ức kiếp cần khổ như đức Phật Thích-Ca
mới thành Chánh-giác. Điều ấy chắc chắn như vậy, vì Long-nữ
ắt cũng phải trải qua con đường ấy mới đầy đủ những
điều-kiện đã kể. Nhưng khi nhân duyên đã đầy đủ, thì
một đêm cũng đủ cho trái tượng hình.
Tu
thì lâu như đi từ đây xuống Mỹ-tho phải mất đôi giờ,
nhưng đến châu-thành Mỹ-tho là việc trong nháy mắt.
Lại
nữa ai cũng có Phật-tánh, tức là có cái vốn Phật như nhau,
thì đâu phải vì nữ mà không tỉnh ngộ được? Tuy nhiên,
nữ mà muốn tỉnh ngộ thành Phật, ngoài công phu tu hành,
phải rèn cho chí mềm yếu của mình trở thành chí cương-quyết
của nam-nhi (biến thành nam-tử), phải thực hành đầy đủ
6 pháp ba-la-mật và phải giữ lòng trong sạch (qua cõi Vô-cấu
mà ngồi).
Còn
khích-lệ nào hơn cho người tu hành?!
Số
phận hẩm hiu của con người không phải chẳng có lối thoát.
Tuỳ ta mà tương-lai sẽ được huy-hoàng..!
[5]
Trí Tích chữ Phạn là: Pradjnâkûta _- Pradjnâ là trí, kûta
là tích trữ. Vậy đây ý kinh muốn chỉ cái trí súc-tích
của người chớ không phải cái dại-trí sẳn có. sẽ giải
rõ trong phần Huyền nghĩa.
[6]
Chẳng đặng Phạm-Thiên, Đế-Thích, Ma-Vương, Chuyển-Luân-Thánh-Vương
và Phật