PHẨM
THỨ 22
CHÚC
LỤY ([4]) (Le dépôt)
Lúc
bấy giờ, đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, từ pháp toà đứng dậy,
hiện sức thần lớn, dùng tay mặt xoa đầu vô lượng đại
Bồ-tát mà nói rằng: “Trong vô lượng trăm ngàn muôn ức
a-tăng-kỳ, ta đã tu tập pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác
khó đặng này, nay đem giao phó cho các ngươi; các ngươi nên
một lòng truyền bá để rộng thêm sự ích lợi.
Đức
Phật ba phen xoa đầu các Bồ-tát và ba phen lập lại câu nói
trên.
Vì
sao? Vì Như-Lai có từ bi lớn không tham tiếc cùng không có
điều sợ sệt, năng cho chúng-sanh trí-huệ của Phật, trí-huệ
của Như-Lai, trí-huệ tự-nhiên. Như-Lai là đại thí-chủ([5])
của tất cả chúng-sanh, các ngươi nên theo học pháp của
Như-Lai, chớ nên tham tiếc. Đời sau, nếu có trai lành gái
thiện nào tin trí-huệ của Như-Lai thời các ngươi nên vì
những người ấy mà diễn nói Kinh Pháp-Hoa, để họ nghe biết
mà được sự sáng suốt của Phật. Nếu gặp hạng chúng-sanh
không tin lãnh lời Kinh, thời nên dùng pháp khác trong các giáo-pháp
thâm diệu của Như-Lai, mà chỉ dạy cho họ được lợi ích
vui mừng. Làm được như thế là các ngươi đã báo ân Phật
rồi vậy.
Khi
nghe Phật nói xong, các đại Bồ-tát đều cảm thấy sự vui
mừng lan khắp thân thể. Lòng thêm cung kính, các Bồ-tát nghiêng
mình cúi đầu, chấp tay hướng Phật đồng bạch: “Chúng
con sẽ làm đầy đủ theo lời Thế-Tôn dạy, kính xin Thế-Tôn
chớ nên lo nghĩ”.
Lúc
bấy giờ, đức Phật Thích-Ca dạy các phân-thân Phật từ
mười phương đến, đều trở về nước mình và nói rằng:
“Chư Phật mỗi vị tuỳ chỗ an trú của mình mà trở về
vào tháp của Phật Đa-Bảo như cũ”.
Trong
lúc Phật nói, mười phương vô lượng phân-thân Phật đang
ngồi trên toà sư-tử dưới cây báu, cùng Phật Đa-Bảo với
vô biên vô số Bồ-tát như Xá-lợ-Phất ..v.v… hàng
Thanh-văn, bốn chúng và tất cả ba hạng chúng-sanh lành là
thiên, nhân, A-tu-la, nghe lời Phật nói đều rất vui mừng.
Huyền
nghĩa
CHÚC
là gởi, phó thác. – LỤY (lẽ ra phãi đọc là LŨY) có nghĩa
là chồng chất. Bây giờ chúng ta nói: Ký thác, như ký thác
vào một Ngân-hàng, với nghĩa gởi bạc một khi một ít vào
một Ngân-hàng. Do đây, Ô. Burnouf dịch là “depôt”.
Ánh-sáng
ấy tạm gọi là Trí-huệ của Phật. Thật sự Trí-huệ ấy
là của Như-Lai tức là của Chân-tâm, Phật-tánh. Nói đúng
hơn, đó là Trí-huệ tự-nhiên ở con người, khác với cái
Trí-huệ “hậu-đắc” tức là cái trí-huệ cần phải học
hỏi mới có, như trí-huệ của môt nhà toán-học, bác-sĩ,
chẳng hạn.
Như-Lai
là đại thí-chủ có nghĩa là Tâm không bao giờ từ chối
với ta một tia sáng trí-huệ nào. Tại chúng ta nghe theo tình
dục không hỏi Tâm nên Tâm không ban cho những lời chỉ bảo
sáng suốt, chớ nào phải Tâm keo kiết, bỏn sẻn, tham tiếc.
Vây ai đã tìm thấy nguồn ánh-sáng ấy nơi mình, thì nên
theo lòng hào-hiệp của Tâm mà ban bố ánh-sáng ấy, không
nên giữ riêng cho mình.
Nhưng
tin rằng Tâm mình là Phật, trong Tâm mình có Kinh Pháp-Hoa,
nguồn Vô-thượng giác, là một việc khó, phải là bậc Bồ-tát
mới làm được. Vì vậy, gặp những người “chưa tin trí-huệ
của Như-Lai” thời nên dùng pháp khác trong vô lượng pháp
thâm diệu của Như-Lai (Tâm) mà khai mở cho họ được lợi
ích.
“Chư
phân-thân Phật, mỗi vị tùy chỗ an trú của mình mà trở
vào Tháp của Phật Đa-Bảo như cũ” có nghĩa tất cả chúng-sanh
đều là Một, và Một ấy là Pháp (Đa-Bảo) và Pháp là Tâm.
Nói
tóm, Tâm chứa lấy đầy đủ Trí-huệ, Giác-ngộ, đó là
nơi ký thác Vô thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.
[4]
Chúc luỵ: Giao phó, gởi gấm.
[5]
Đại thí chủ: người cho nhiều, cho không tiếc.