[02]
HÓA
TÂM THÔNG (Manomayiddhi)
Theo
nguồn tham khảo Kinh Phật giống như các chương trên, có ghi
lại giai thoại Đức Phật hướng dẫn nhà vua Ājātasattu (đã
phạm tội giết cha mình) về những kết quả to lớn một
người sống đời độc thân ly tục hy vọng đạt được
như sau:
“Một
vị tỳ khưu nhập thiền định (samadhi), do vậy tuệ giác
ngài được thanh tịnh và sinh động, ngài đã gạt bỏ hết
những ảnh hưởng phiền não, tuệ giác tỳ khưu trở nên
ổn định, linh hoạt, không gì lay chuyển nổi, chỉ một mực
hướng tới tạo ra Ý Sinh Thân từ thân xác thô thiển này.
Sắc (rūpa) đã tạo thành thân xác đó cùng với tuệ giác,
cũng gồm đầy đủ các chi và căn khác, hoàn hảo với những
môn (mắt, tai, mũi. lưỡi, thân và tâm); ôi Hoàng Thượng
Vĩ Đại. Người đó giống hệt như kẻ được kéo ra từ
đám bùn lầy lau sậy “
Đoạn
trích trên chính là Đức Phật, một nguyên lý cơ bản nhờ
đó ta hiểu được chân lý liên quan đến các chúng sanh Hóa
Sinh (Opapātika) và Ý Sinh Thân của các chúng sanh đó hay cái
được gọi là “các Thiên Thể”. Từ ‘Dibbakāya’ nghĩa
đen được hiểu là Thiên Thể (thân xác mang tính thiên đường)
là một từ chung chỉ những thành tố thuộc các chúng sanh
Hóa Sinh. Gồm cả những chúng sanh trong cõi khổ như Ngạ quỷ,
Atula và những chúng sanh thuộc cõi ma quái. Cũng như các sinh
vật khác trong cõi sướng được gọi chung là các vị thần
hay là các chư thiên . Chính vì thế từ có một ý nghĩa rất
rộng dùng để ám chỉ các chúng sanh không giống con người
kể cả các chúng sanh siêu nhân nữa.
Hiểu
được một cách tường tận chân lý về các thành tố Ý
Sinh Thân – tức lý do tại sao lại tồn tại các chúng sanh
này và bằng cách nào chúng xuất hiện, chắc chắn sẽ giúp
làm gia tăng niềm tin vào những kết quả nghiệp chướng và
cuối cùng ta có được một niềm tin không lay chuyển về
chiều kích cuộc sống được gọi cách chung là nhàn cảnh
(diệu hỷ quốc) và khổ cảnh. Một phó phẩm phát sinh từ
hiểu biết đúng đắn này là một niềm tin vô tư về những
thành tựu Đức Phật có được trong lãnh vực các phép thần
thông ngài có được như : việc Nhớ Lại Tiền Kiếp của
chính ngài cũng như tiền kiếp của nhiều người khác nữa.
Hơn thế nữa am hiểu tường tận được những chân lý về
hóa tâm thông (Mind-made-body) sẽ đem lại kết quả thể hiện
được nơi hiểu biết tương xứng về chân lý cho rằng thân
xác con người ta do thức hoặc tâm. Điều này được thấy
rõ khi Đức Phật đàm đạo với Trưởng lão Ānanda về Kinh
Mahānidāna, đề cập đến trong Đại Phẩm (Mahāvagga), một
đoạn trích trong Trường Bộ Kinh (10/74) như sau:
“Ôi
Ānnada, nếu như thức không thể lọt vào trong lòng mẹ, liệu
Danh và Sắc có thể được sinh ra trong đó hay không?”
“Thưa
Đức Thế Tôn, điều này không thể được,” Trưởng lão
Ānanda trả lời.
Chính
vì thế Đức Phật nói tiếp. “Đây chính là trường hợp.
Ôi ngài Ānanda, bất kỳ nơi nào xuất hiện thức đều xuất
hiện Danh và Sắc.”
Sự
Mù Quáng Siêu Nhiên
Theo
quan điểm Phật giáo, chẳng phải quá đáng cho rằng những
ai không tự thể hiện (khẳng định) được chính mình đầy
đủ chân lý vừa đề cập ở trên nói về Đức Phật đều
thực sự trở nên mù quáng siêu nhiên và như vậy họ không
thể hiểu được ý nghĩa sâu rộng các ân đức nơi Tam Bảo.
Đối với tuyệt đại đa số con người ta, “mù quáng siêu
nhiên” đã hạn chế tầm nhìn của họ, một hiện tượng
trên bình diện vật chất thô thiển này lại là một điều
tốt nhất nhưng chỉ là một phần và vì thế không hoàn hảo.
đây chỉ là một thực chất sinh lý thuộc về di truyền hay,
chính xác hơn, xuất hiện chung với cha mẹ, và là một kết
quả, một sản phẩm của tạo hóa. Hiểu theo bất kỳ kiểu
nào rất ít người dám tháo bỏ sự “mù quáng” đó để
có thể nhìn thấy được những sự thật về những lãnh
vực khác trong cuộc sống. Cũng chính vì không thông suốt
chân lý vĩ đại này đa số đã có khuynh hướng không quan
tâm gì đến qui luật nghiệp chướng, hay nói theo kiểu hiện
nay là hành động hay phản ứng lại cõi siêu nhiên này. Coi
nhẹ qui luật đầy ý nghĩa đang chi phối cuộc sống. Họ
đã bị thu hút vào việc nuông chiều giác quan, và đã bị
tính đam mê lạc thú lấn át và quên mất là trong cuộc sống
của họ đâu chỉ có những gì ta quan sát được bằng mắt
trần (hay thực tế là còn có nhiều điều khác hơn là các
giác quan thô thiển của thân xác ta).
Sự
so sánh của Đức Phật thật đáng quan tâm. Người nói rằng
nếu (thân xác siêu nhiên) một khi lìa khỏi bản sao vật lý
của nó cũng coi như là một con người được kéo ra khỏi
vũng bùn lầy lau sậy và trở thành một cây sậy linh thiêng.
Theo Trưởng lão Buddhaghosacariya, tác giả cuốn Thanh Tịnh Đạo
(Visuddhimagga) điều này được giải thích là mục tiêu của
Đức Phật. Ở đây chính là ngài muốn truyền đạt ý nghĩa
cho rằng một thân xác do tâm tác tạo như thế dưới mọi
khía cạnh giống y hết như thân xác của một người đã
đạt đến được những khả năng siêu phàm. Một hình ảnh
tương đương ta có thể nhìn thấy trong trường hợp một
người đang lìa khỏi cõi đời này các căn môn của họ không
thể phản ứng lại với bất kỳ một kích thích nào thuộc
cõi đời này được nữa. Nếu như một người đã đạt
được một mức độ thiền thích đáng, một thân xác khác
nữa sẽ hiện ra ngay trước mắt họ (họ có thể nhìn thấy
một thân khác nữa y hệt như thân xác đang nằm bất động
đó) có nghĩa là một thân xác tinh tế hơn, một Ý Sinh Thân
dưới mọi góc độ đồng nhất với thân xác đang nằm bất
động trên giường. Ngay cả trang phục của Ý Sinh Thân đó
cũng giống hệt như thân xác chết nằm đó.
Điều
này có nghĩa là đối với một người đang trong cơn sinh thì,
thân xác cõi trời của họ (nghĩa là thân xác do tâm tác thành
hay là Ý Sinh Thân) trước tiên phải lìa khỏi thân xác trần
tục này Nếu bằng bất cứ cách nào ta có thể thấy được
Ý Sinh Thân đó, thoát ra khỏi thân xác trần tục của nó,
thì lúc đó ta chắc chắn người đó đã lìa khỏi cõi đời
vào giây phút đó, ta có thể nói chính xác đến từng giờ
từng phút. Tuy nhiên, những phương thế khiến ta thực hiện
được điều đó chỉ có thể có được thông qua sức mạnh
thiền. Một người tự trang bị cho chính mình khả năng có
thể nhìn thấy bằng con mắt siêu nhiên của mình một cách
chính xác lúc nào Ý Sinh Thân của người đang chết đó rời
khỏi thân xác thế tục của họ. Người đó có thể làm
được điều này mà không cần dùng tới con mắt thật của
mình gì cả. Có nghĩa là không cần nhìn vào con người đang
chết đó. Biểu tượng sự chết thật quá rõ ràng không còn
nghi ngờ gì nữa. Như vậy sau khi nhìn thấy Ý Sinh Thân đó
lìa khỏi con người. Người đó nổi lên từ hành thiền và
cho biết chính xác đến tận phút khi nào thì cái thân xác
đó đã chết.
Nếu
vào này có ai đó đã đạt được những khả năng Thần Túc
Thông dứới mọi góc độ và người đó có thể đứng ra
đương đầu với những thách thức trước mọi nghi ngờ và
mọi chứng cứ hoài nghi xác thực, thái độ của những người
đó xét dưới góc độ của tôn giáo nói trên và do đó là
hoài nghi chính các tôn giáo khác nữa, sẽ có thể thay đổi
một cách cơ bản và còn thay đổi đến tận gốc rễ để
trở nên tốt hơn. Một điều hết sức ý nghĩa đó là bất
kỳ điều gì, cho dù có thể nào đi chăng nữa, cho dù người
đó có là một tỳ khưu, hay một tín đồ đạo hữu, nam hay
nữ, già trẻ lớn bé. Vấn đề là chính thành tích đó phải
được kiểm nghiệm và chấp nhận một cách khoa học. Hay
ít nhất được tuyệt đại đa số những người trên thế
giới đồng tình ủng hộ. Liệu đây có phải là một giấc
mơ trở thành hiện thực, là thái độ của mọi người và
phản ứng của họ về các hoàn cảnh đó sẽ mang tính xây
dựng và đem lại nhiều ích lợi hơn vào lúc này hay không.
Những vấn đề và khó khăn cho dù là kinh tế chính trị hay
xuất phát từ nhận thức, chắc chắn sẽ được giải quyết
một cách hiệu quả hơn và sẽ được giảm thiểu tới mức
tối đa. Chính vì thế mà sự băng hoại, bóc lột và nhiều
hình thức đạo đức xuống cấp từ bấy lâu nay đã làm
xói mòn xã hội và các quốc gia hiện nay. Tuy nhiên việc chấp
nhận chân lý vĩ đại, phổ quát và hiển nhiên này đã trở
thành như là một hiện tượng giống như con người đặt
chân lên mặt trăng vậy.
Một
Giấc Mơ Trở Thành Hiện Thực Chăng
Liệu
“giấc mơ” này có trở thành hiện thực nơi các giáo lý
của các tôn giáo chăng, đặc biệt là nơi giáo lý Phật giáo,
một tôn giáo đã đề cập đến các hiện tượng này một
cách trực tiếp và dồi dào trong kinh Phật. Liệu giấc mơ
này có trở thành một thôi thúc đầy ý nghĩa để thể hiện
được một ý chí mạnh mẽ hơn nơi một bộ phận dân chúng,
khiến họ cảm thấy hổ thẹn và sợ hãi khi làm điều không
tốt, ngay cả khi không có người nào chứng kiến hay biết
được các hành vi đó. Nhưng xin nhắc lại một lần nữa
ước mơ này cần phải được giải thích một cách cặn kẽ
trên cơ sở giáo lý của Đức Phật, để có thể được
áp dụng hiệu quả vào cuộc sống đời thường và nơi các
công việc của người đời. Bằng không, và đây là điều
kiện vô cùng quan trọng, hiện tượng này chỉ là nhân duyên
khích động lên một phản ứng mơ hồ thay vì một sự chấp
nhận thông minh chân lý nghiệp chướng còn sót lại và có
thể dẫn đến lạm dụng thay vì sử dụng được một cách
thông minh, khả năng siêu vượt này. Đây là một ảnh hưởng
vô cùng to lớn và có thể gây ra kết quả tai hại siêu nhiên,
giống như thân thể nếu không được kiểm soát chặt chẽ
và đặt dưới kỷ luật nghiêm ngặt, ảnh hưởng lôi cuốn
của điều này sẽ vô cùng mãnh liệt một cách khác thường.
Trừ khi được đặt dưới chế độ kỷ luật nghiêm minh
và kiềm chế nghiêm khắc, rất có thể chúng sẽ tạo ra những
hậu quả khủng khiếp, cho chính mình và cho nhiều người
khác ở mức độ toàn cầu.
Đối
với những người hoài nghi chân chính, các trích đoạn của
Đức Phật về hậu quả cho rằng khi một tuệ giác được
thanh tịnh và trở nên linh hoạt sẽ xuất hiện khả năng
tạo ra được ý Sinh Thân tự nhiên đáng cần tới một suy
tư cẩn thận, và kết quả là phải cần đến một số giải
thích như sau:
Giấc
Mộng Là Hiện Thực Khi Còn Đang Tiếp Diễn
Một
người bình thường luôn mơ mộng khi ngủ. Một điều hết
sức rõ ràng là những gì diễn ra trong giấc mơ - Bất kể
điều gì thấy, nghe được v.v… đều do tâm tạo ra hay nói
chính xác hơn tất cả xuất phát từ Tâm Hộ Kiếp (Bhavañga-citta)
có nghĩa là xuất phát từ đáy tâm hữu phần hay là tận
cõi lòng sâu thẳm. Như tất cả chúng ta đều biết, vẫn
tồn tại một thân xác khác nữa, thực tế và bền vững
cho đến khi nào giấc mơ vẫn còn tồn tại, không kể đến
thân xác bất động và đang ngủ của ta. Thân xác thứ hai
hay là “song hành” đó hoàn toàn đầy đủ các chi, và cơ
quan, cộng với các giác quan có khả năng vận hành y hệt
như thân xác của ta. Thân xác này có thể cảm thọ, suy nghĩ
và cảm nhận được những cảm xúc. Nói tóm lại, thân xác
đó hoàn toàn sống động như là thân xác tương đương của
ta, cho dù cuộc sống của thân xác này so với thân xác đồng
hành của nó, rõ ràng là có ngắn ngủi hơn. Nhưng sức mạnh
những cảm nghiệm gặp phải trong những giây phút ngắn ngủi
đó chẳng có ngắn ngủi hay hão huyền một chút nào. Ngược
lại còn rất mạnh và đôi khi, đặc biệt trong trường hợp
một đau khổ có cường độ mạnh, hình như còn tồn tại
vĩnh viễn nữa là đàng khác.
Tuy
nhiên, vì hầu hết các giấc mơ của chúng ta đều không mạch
lạc và khó hiểu, phần lớn thời gian là sản phẩm do chính
những triền cái thường tự đánh lừa chính mình, nên chúng
ta thường có khuynh hướng đưa ra những kết luận khái quát
và ngây thơ cho rằng các giấc mơ chỉ toàn là ảo giác và
chẳng đưa ra được những ý định trước đây. Cho dù có
một thực tế rõ ràng là một số giấc mơ đã thực sự
được biết đến như là lời tiên đoán cho những sự kiện
trong tương lai một cách chính xác. Nếu chúng ta xét đến
những hiện tượng này với một thái độ không thiên vị
và thực sự với một tâm hữu phần tìm hiểu nghiêm túc,
ta sẽ thấy cả hai thái độ kết án một cách chung chung và
một thái độ tin tưởng vô điều kiện những giấc mơ đều
là những thái độ quá khích. Chắc chắn sẽ phải có một
thái độ trung dung cần tìm hiểu và nghiên cứu với một
cách tiếp cận phân tích và một tâm khoa học.
Có
một điểm chung cho cả hai hạng người mơ mộng và ngưòi
nhập thiền sâu xa. đó chính là sự thức tỉnh tâm như là
điều gì đó đối kháng lại với tính vô ý thức của thân
xác của chúng ta. Chính vì thế ta có thể khẳng định được
thành một công thức như sau. Nếu khi tâm trở thành vô thức
và được tách khỏi thân xác thô thiển của chúng ta, sẽ
có một Ý Sinh Thân khác xuất hiện để bù vào chỗ thân
xác của ta ngay tức khắc. Đây chính là thân xác do tâm tạo
ra. (Ý Sinh Thân). Thân xác này xuất hiện trong giấc mơ hoặc
vào lúc chúng ta nhập thiền bậc cao. Cảm giác bay bổng lâng
lâng cùng xuất hiện trong lúc nhập thiền cũng chính là cảm
giác của Ý Sinh Thân đó. Chỉ có điều khác là, trong giấc
mơ người ta bị tước đoạt mất chánh niệm đã được
kiểm soát. Trong những giây phút như vậy thì ước muốn bị
khống chế, những tư tưởng mong muốn và những tưởng tượng
tình cảm được phép tuôn trào một cách hoang dại. Kết quả
là trong đa số những trường hợp như chúng ta đã thấy,
chính vì thế mà “chất cặn bã”tâm cho đến giờ vẫn
thường được lắng đọng trong hữu phần từ bấy lâu nay
lại nổi lên và chơi khăm những người mơ mộng đó. Trong
trường hợp một chủ thể là người nhập thiền nghiêm túc
từ đó một Ý Sinh Thân được tái tạo ra, cũng xuất hiện
một mức độ chánh niệm đủ để có mức độ tự kiềm
chế cho dù điều đó vẫn chưa đủ để sử dụng quyền
lực tuyệt đối trên Ý Sinh Thân vừa được tạo nên. Điều
này không thể diễn ra được cho đến khi người đó đạt
đến thiền bậc bốn. Thì sức mạnh kiềm chế này mới kiềm
tỏa được Ý Sinh Thân một cách hoàn hảo vì theo Đức Phật
chỉ ở mức độ chánh niệm này, thì thân xác mới được
thanh tịnh đồng loạt với phẩm chất hành xả được (upekkhāsatipārisuddhiṃ)
“Vùng
Sáng Đan Xen Nhau”
Khi
chúng ta đạt đến bậc thiền tột đỉnh, thường thấy xuất
hiện nhiều loại cảnh tượng tâm đa dạng. Ở đây, Ý Sinh
Thân có thể được coi như là một “phôi thai”. Tâm đang
đứng trước ngưỡng cửa tách biệt khỏi cái lồng xác thịt.
Nó xuất hiện trong vùng “sáng đan xen nhau” giữa thức tỉnh
và ngủ mê. Trong trường hợp chưa rơi vào giấc ngủ say,
những hình ảnh tâm sẽ xuất hiện một cách rõ ràng hơn
khi nhập thiền ngày càng thêm mãnh liệt và hậu quả tất
yếu là một hiện trạng ngày càng mất ý thức về thân xác.
Kể cả bất động và mệt mỏi, và cũng như nhĩ căn … nếu
như hành thiền tiếp tục được phát triển cho đến khi đạt
đến bậc một và kéo dài từ năm đến mười phút, thì chẳng
còn cảm nhận được bất kỳ cảm giác nào thuộc thân xác
nữa. Cùng lúc đó sẽ xuất hiện cảm giác của một thân
xác khác tự động xuất hiện. Tuy nhiên, ngay cả ở bậc
thiền này (thiền bậc một) thì Ý Sinh Thân được tạo ra
và vẫn chưa được kiềm chế một cách tuyệt đối. Chỉ
trong thiền bậc bốn thì sức mạnh này mới hy vọng được
kiềm tỏa một cách hoàn toàn. Khi đó hình ảnh tâm xuất
hiện một cách rõ ràng và sống động và cũng theo ý muốn
của ta nữa có nghĩa là ngay tức khắc.
Một
hiện tượng cũng đáng cho ta nghiên cứu thêm đó là có hiện
tượng xảy ra trong rất nhiều trường hợp các ông đồng
bà bóng (mediums) thường có khả năng nói những tiếng lạ
mà họ chưa bao giờ có thể nói được trước đó, có nghĩa
là trong lúc tỉnh táo và ý thức, điều quan trọng là những
tiếng lạ đó đôi khi lại tiên đoán chính xác những sự
kiện sắp xảy ra và không có trong mộng và có thể được
chứng minh là lời nói hay lời tuyên bố chính thức của các
nhân vật nổi tiếng đã chết. Điều này ít nhất cũng chứng
minh được một điều là những người chết chẳng bao giờ
biến mất luôn. Nhưng họ vẫn còn sống và khỏe khoắn ở
đâu đó, trong một chiều kích nào đó mà chúng ta chưa khám
phá ra. Theo giáo lý của Đức Phật, chúng ta biết họ đang
ở dạng các chúng sanh vô hình mà đa số đều cho là các
chúng sanh Hóa Sinh (Opapātika) một trong bốn cách tái sanh đã
được Đức Phật mô tả trong Kinh Mahāsīhanāda, trong bộ
Mūlapaññāsaka thuộc Trung Bộ Kinh. (Middle Lenghth Sayings)
“Tái
sinh nơi cõi Hóa Sinh là gì?” Đó là những chúng sanh thần
tiên. Những chúng sanh tái sanh trong địa ngục, một số con
người (trong những giai đoạn tiên khởi của cõi đời này
và một số loại ma quái (Vinipāta)”
Đức
Phật gọi những chúng sanh này là Hóa Sinh (Opapātika) là vì
thân xác và cuộc sống của họ hoàn toàn do tâm mà ra. Điều
này lại được khẳng định chắc chắn một lần nữa trong
Kinh poṭṭhapāda, trong tác phẩm Sīlakhandhavagga, thuộc Trường
Bộ Kinh (Long Length Sayings đoạn 9/ 241)
Qua
tâm thì Ngã (atta) thu được điều gì? Vì Sắc của Ngã (atta)
do tâm tạo ra, trọn vẹn với các chi và đầy đủ các cơ
quan hoàn hảo, và các giác quan hoạt động. Chính điều Ngã
(atta) thu được đó lại do tâm tác thành nên.”
Chính
những đoạn trích trên đây có thể so sánh với đoạn trích
ngay ở trang đầu chương này. Để cho độc giả có thể tự
đi kết luận lấy cho mình thuận lợi cho mình, tôi trích lại
ngắn gọn đoạn trên dưới đây.
“Một
vị tỳ khưu chủ tâm nhập thiền định . . .hướng tâm trí
tới việc tạo ra một “Ý Sinh Thân” . . . với đầy đủ
các chi và các cơ quan nội tạng, hoàn hảo với các môn. .
.”
Chúng
sanh Thuộc Hai Cõi
Từ
những trích đoạn trên ta có thể đi đến kết luận là,
ngoài việc chấp nhận rằng thực sự có việc các chúng
sanh vô hình là có thật được gọi chung là chúng sanh Hóa
Sinh (Opapātika) một vị tỳ khưu chủ tâm nhập thiền
định tới bậc bốn có thể “tạo ra” một Ý Sinh Thân
khác hoàn toàn do tâm tạo ra. giống hệt như một Chúng sanh
Hóa Sinh (Opapātika). Mặt khác, một con người như vậy với
khả năng tạo được cái gọi là chúng sanh Ý Sinh Thân, nhờ
thành tích đó người này có thể trở thành một chúng sanh
Hóa Sinh (Opapātika) theo ý muốn bất kỳ lúc nào, không nhất
thiết chỉ sau khi chết. Ta có thể nói, đây là một chúng
sanh thuộc hai cõi, có khả năng di chuyển thức qua lại từ
cõi thô thiển hữu hình này đến chiều kích tinh tế, vô
hình thuộc cuộc sống Hóa Sinh (Opapātika). Điều này có thể
thực hiện được tuỳ ý muốn và ngay tức khắc.
Để
có thể nắm được khả năng này, hay đúng hơn là nắm được
chân lý này một cách tốt hơn. Điều cần thiết là ta phải
nghiên cứu và hiểu rõ một trong những mô thức của Đức
Phật nói về y tương sinh (dependent origination) “Có thức
là xuất hiện Danh và Sắc” chấp nhận chân lý của mô
thức này sẽ cho phép ta nhận ra, khi con người ta sinh ra trên
cõi đời này, chính thức là nhân duyên tác thành tạo ra thân
xác thô thiển từ máu người mẹ của ta. Tuy nhiên xét về
góc độ thể chất, chúng ta đều biết các phần của thân
xác chúng ta như tóc, răng, móng tay móng chân, xương cốt v.v…
xuất hiện thông qua nguyên lý nuôi dưỡng do máu huyết của
người mẹ ngày từ khi toàn bộ những bộ phận này mới
chỉ là một phôi thai nằm trong bào thai người mẹ. Đến
đây tiến thêm một bước nữa, chúng ta cần phải biết thêm
điều gì lại có khả năng biến đổi máu của người mẹ
trở thành những thành tố cấu thành đó trở thành nhứng
bộ phận rắn chắc mà ta gọi là máu, tóc, răng xương v.v…
Từ
những trích đoạn nơi giáo lý của Đức Phật ở trên, nếu
như khái niệm “tạo hóa” vẫn còn được coi trọng, chúng
ta có thể nói “tạo hóa” chẳng là gì khác hơn là thức
hay là “tâm” là điều Đức Phật muốn ám chỉ. Tâm này
đứng đàng sau qui trình hơi thở của cuộc sống đối với
bào thai trong lòng mẹ, biến đổi thức ăn được tiêu hóa
thành máu và máu tức là các thành tố khác nhau của máu lại
biến đổi thành tóc, móng, răng v.v… làm thành một cơ thể
vật lý. Chính vì thế đây là luật tự nhiên “tạo hóa”
ở một mức độ tinh tế hơn, hay là cùng một cách thức,
tỷ dụ như luật trọng lực, trong bình diện vật lý. Làm
cho một vật rơi xuống trái đất vậy.
Đến
đây, điều gì Đức Phật đã nhìn thấy hay thể hiện được
khiến ngài nói lên điều đó? Trong Kinh Phật chúng ta thấy,
trong số những khả năng tạo ra “Ý Sinh Thân” có thể được
phân biệt, hay là được tác tạo thành thông qua thành tích
những khả năng siêu nhiên của ngài. Nhờ đó ngài đã biết
được những cõi khác của cuộc sống là có thật và những
chúng sanh cư ngụ trong các cõi đó được gọi chung là chúng
sanh Hóa Sinh (Opapātika), kể cả tuệ giác trổi vượt hơn
hẳn những chúng sanh Hóa Sinh (Opapātika) này, tuy nhiên những
chúng sanh này đã biến hóa một cách cao hơn. Điểm này đã
được đề cập đến trong chương hai trang 61, bàn về tuệ
giác của Đức Phật được gọi là Adhidevañāṇadassana. Vì
đối với nhiều người một cách chung chung, có rất ít người,
nếu không phải chỉ có một số rất ít nhìn ra được một
chúng sanh Hóa Sinh (Opapātika) là có thật. Trong số rất ít
đó, lại chỉ có một số ít hơn không tin vào những gì họ
nhìn thấy; họ cũng chẳng hiểu họ nhìn thấy như thế nào
và tại sao họ lại có được cảnh tượng đó. Trong nhiều
trường hợp họ lại gạt điều đó sang một bên, kết luận
là đó chỉ là ảo giác và dừng lại ở đó.
Với
sự chấp nhận nguyên lý “thiên nhiên” hiểu theo nghĩa rộng
này, ta có lý khi nói rằng điều kích hoạt những cơ quan
giác quan, khiến mắt có thể nhìn thấy được, tai nghe thấy,
mũi ngủi được, luỡi nếm, tay sờ mó, và suy nghĩ được,
chẳng là gì khác hơn là chính thức hay là “Tâm”đóng vai
trò một “động lực đầu tiên” (First mover) hay là một
lực chuyền đứng đằng sau hành động thấy, nghe, ngửi.
v.v…Chính vì thế khi động tác nhìn diễn ra, chính là “tâm”
hay nhãn thức nhìn thấy vậy (thông qua thần kinh nhãn). Cũng
như vậy khi có động tác nghe, hay ngửi nếm, tiếp xúc và
suy nghĩ. Cũng y hệt như vậy chính thức hay là “tâm” thực
hiện điều này. Tâm thực hiện hành động này thông qua các
“kênh” hay là các công cụ là mũi, lưỡi, thân xác (da)
và cái được gọi là ý hay là “tâm” chính vì thế mà
Đức Phật dùng một từ là Nhãn Thức (Cakkhurññāṇa) có
nghĩa là thức thông qua mắt sotaviññaṇa- Nhĩ thức tức là
thức thông qua tai v.v… chấp nhận những định nghĩa nêu
trên sẽ dẫn đến tuệ và trí cho rằng không phải mắt nhìn
thấy cũng chẳng phải tai nghe, hay mũi ngửi được v.v… nhãn
xứ,nhĩ xứ, tỷ xứ, và các xứ khác chỉ là những sắc
thần kinh hay là những kênh thông qua đó “Tâm” có thể
thực hiện nhiệm vụ của mình. Chính vì thế các xứ vừa
kể không phải là nhân duyên của những nhiệm vụ đó. Điều
này giống như một cây mọc lên từ những hạt giống của
cây đó, mới là nhân duyên của các cây đó. Điều này đúng
như vậy. Đất trồng có thể đóng vai trò bổ sung hay là
phương tiện cho cây mọc lên mà thôi. Bản thân của đất
trồng không thể đem sự sinh ra cho cây, cho dù không có đất
thì cây không thể phát triển được. Cũng như vậy đối
với những điều kiện khí hậu, độ ẩm, chỉ được dùng
như là những nhân duyên hỗ trợ cho cây lớn lên. Nếu ta
cho là chính mắt có thể nhìn thấy chẳng lẽ là chúng ta
cao bằng cho là đất trồng đã làm nảy sanh ra cây hay sao.
Đây chính là một đánh giá quá cao và tạo ra những hiểu
lầm nghiêm trọng ở mức độ một sự thật tuyệt đối
hay là phân tích đến cùng mà ra. Chính vì thế chúng ta không
nên phóng đại quá khi nhấn mạnh đến nguyên lý tuyệt đối
này như là điều gì đi ngược lại những nguyên lý qui ước.
Mục
tiêu và ý nghĩa
Còn
có một chân lý khác nữa không được coi nhẹ, một nguyên
tắc cho là bất kỳ điều gì được sản sinh ra trong thiên
nhiên hiểu theo ý nghĩa qui ước của từ ngữ đều không
nhằm đến một mục đích nào hay đem lại một ý nghĩa nào
cả. Có nghĩa là thiên nhiên không hàm chứa một ý định
nào hay một ước muốn nào ở phía sau cả. Điều này ta có
thể thấy trong cơn gió thổi, cây đổ, lửa cháy trụi nhà,
mưa đổ xuống, hay sấm sét nổi lên. Một điều rất thực
là chúng ta có thể giải thích những hiện tượng đó xảy
ra. Nhưng chúng ta không thể nói được tại sao hay vì mục
đích gì những điều đó lại xảy ra giống như vậy. Điều
này thì hoàn toàn khác so với những gì đã xảy ra đối với
những gì được thức hay “tâm” tạo ra. Vì chúng ta có
thể nói cho mọi người biết về mục tiêu hàm chứa trong
đó hay là một ý định, có nghĩa là một ý nghĩa hàm chứa
đàng sau sự việc đó. Toàn bộ các căn các chi nội tạng
trong con người được tạo nên không do ngẫu nhiên, nhưng
để nhằm phục vụ cho một mục đích gì đó.. tóc, răng,
xuơng, tim gan phèo phổi và các thứ khác tất cả đều có
mục đích riêng của nó. Tất cả có bằng cách này hay cách
khác đều có liên hệ với nhau, hay đan xen vào với nhau trong
một hệ thống, ở đây là thân xác của con người. Ngay cả
bộ não cũng chỉ là một kênh thông qua đó thức hay là “tâm”
thực hiện nhiệm vụ dưới dạng suy nghĩ hay cảm nhận (tình
cảm).
Nếu
chúng ta dừng lại và nhìn vào các phần khác nhau của một
cỗ máy do con người tạo ra, chúng ta sẽ thấy mỗi một bộ
phận hay toàn thể cấu trúc của cỗ máy đều nhằm thực
hiện một mục tiêu này hay mục tiêu khác nào đó. Chẳng
có bộ phận nào được chế tạo mà không nhằm một mục
tiêu nào cả. Đương nhiên điều này là do kết quả của
bộ não con người tạo ra. Cùng một cách thức như vậy và
theo một nghĩa rộng. Mỗi một bộ phận và toàn bộ các bộ
phận của thân xác con người ta được biết là đã tồn
tại nhằm một mục tiêu duy nhất là tương quan với các bộ
phận khác, toàn bộ các bộ phận gom lại chỉ nhằm một
mục tiêu duy nhất là nuôi dưỡng toàn bộ thân thể con người.
Chúng không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay không có mục
tiêu nào cả. Vì chúng đều là công trình của tâm. Giống
hệt như mỗi chi tiết trong một cỗ máy đều là công trình
của trí óc con người. Chấp nhận sự thật này, chúng ta
sẽ hiểu được tuệ hay là “tâm” và khối óc của con
người không phải là một; cả hai cũng không thuộc một lãnh
vực giống nhau. Trí óc chỉ là dụng cụ, hay là kênh truyền
tải những thể hiện hay những biểu lộ của “tâm” mà
thôi. Tác giả muốn cung cấp cho bạn đọc những sự thật
này như là một món ăn tâm dành cho những người có tư duy
và dành cho ai hoài nghi chính cống, có nghĩa là những ai còn
tha thiết với tâm rộng mở và chấp nhận những sự thật
mới thông qua những sự kiện xem ra đã có vẻ “xa lạ”
nếu không muốn nói là kỳ quặc trong tâm của họ.
Hơn
thế nữa, với từng bộ phận của cơ thể đều có những
chức năng đặc biệt cho thân xác, một điều tiếp theo đó
là các hành động và từng hành động một hay từng cách
thức cư xử của những bộ phận đó sẽ chắc chắn được
điều hành cho phù hợp với những mục tiêu đã được định
trước cho chúng. Đây lại là một bằng chứng nhờ đó liên
quan đến “tác nhân” đàng sau những sự việc đó, những
thái độ đó hay những qui trình đó, có nghĩa là tiềm thức
hay “tâm” được gọi là “động lực đầu tiên” (prime
force) hay là một lực truyền (driving force) nếu bạn muốn
gọi là như thế. Thế nên, nếu thứchay “tâm” có thể
tạo ra được một thân xác thô thiển. Thì với những tác
nhân hỗ trợ của cha mẹ, khí hậu và những thành tố khác
của trái đất này, tại sao không thể tạo ra được từ
những động lực sáng tạo của riêng mình một thân xác tinh
tế, độc lập khỏi cõi vật chất này những nhân duyên tác
thành dụng cụ – theo đúng chiều kích của mỗi thành phần?
Thức
Hay “tâm” thuyên chuyển
Đương
nhiên đây chỉ là một lý luận theo kiểu lô-gic, một lối
suy ra từ những thành tố đã biết rõ suy ra những sự kiện
chưa được biết. Từ những sự kiện đã quá rõ ràng đến
chân lý xem ra bí hiểm. Nhưng chính như vậy chân lý to lớn
và sâu xa đã được khám phá. Nếu chúng ta chú tâm tiếp
tục một cách cẩn thận và có hệ thống với những lý luận
của chúng ta, đối với những ai có được những sức mạnh
siêu phàm như thể Đức Phật và một số các đồ đệ của
ngài, chắc chắn đây chính là sự thể hiện của họ, là
thắng trí của họ vậy. Họ đã có khả năng tạo ra được
hay phân biệt được. Chỉ để xem được, một “Hóa
tâm thông” ngay cả khi họ vẫn còn sống trên trần
gian này. Một điều mở ra như vậy, những bậc thánh nhân
như đã đề cập đến ở trên là những con người thuộc
hai cõi. Có khả năng di chuyển thức của họ qua lại giữa
trần gian thô thiển này sang cõi vô hình thuộc cõi Hóa Sinh
(Opapātika) theo ý muốn và ngay lập tức. Hơn thế nữa họ
còn có khả năng biết được, vì họ có khả năng nhận ra,
người chết hiện đang được tái sanh ở nơi nào sau khi họ
đã từ biệt cõi đời này. Bằng cách nào họ đã đến được
đó và cõi nào hay môi trường nào hiện họ đang trú ngụ.
Điều này thông qua sức Thiên Nhãn Thông (clairvoyance) của
họ mà có. Đặc biệt là Đức Phật, ngài còn có một tuệ
giác thêm vào đó như đã được mô tả trong chương bàn về
Nhớ Lại Tiền Kiếp, khả năng này còn cho phép ngài nhìn
thấy cuộc sống quá khứ của bất kỳ người nào theo ý
ngài muốn. Như vậy ngài có thể nhận ra cuộc sống người
đó đã sống, người đó đã sống ở đâu, tên là gì và
hoàn cảnh gia đình ra sao và những dữ liệu có liên quan.
Động
lực đầu tiên (prime mover) có nghĩa là thức (tâm) có khả
năng tạo ra và nuôi dưỡng bất kỳ hình thức cuộc sống
nào, ở đây còn gồm có cả cuộc sống của súc vật và
cây cối nữa. Bất kỳ nơi nào có cuộc sống, dưới bất
kỳ hình thức nào cũng đều có thức (tâm) hiện diện. Chính
vì thế đây chính là ‘bản chất’ theo nghĩa rộng, tạo
thành và duy trì sự sống, biến đổi thực phẩm trở thành
máu và các thành phần khác của một hệ thống thân xác,
cho dù đó là của con người, súc vật hay cây cối. Cuộc
sống đó xuất hiện rất đa dạng là do rất nhiều những
chi tiết phong phú khác nhau thuộc các mức độ hay chất lượng
của chính thức đó. Một bài kệ mở đầu cho tác phẩm Pháp
Cú Kinh (Dhammapada) được trích ở đây để xác thực chân
lý này. Hiểu theo nghĩa đen cho rằng tâm (ở đây được hiểu
là thức hay là tâm) chính là tiền thân của các pháp. Trổi
vượt lên trên hết mọi tâm, toàn bộ các pháp đều do tâm
mà tạo thành. Lại còn một câu trích trong Kinh Cūlakammavibhanga
[1] cũng đáng được lưu ý như sau. Chính là do “Kammaṃ satte
vibhajati yadidaṃ hīnappṇītatāya: Nghiệp chướng khiến
cho mọi chúng sanh khác biệt lẫn nhau. khiến cho chúng sanh
từ chỗ thô thiển và trở nên tinh tế.”
Còn
về di truyền thì sao?
Một
vấn đề đang được nghiên cứu tìm hiểu nổi lên ở đây
cho là tại sao thức hay là “tâm” đã thực sự trở thành
một lực tạo thành thân xác, một thân xác giống như một
kết quả của lực tác tạo xuất phát từ cha mẹ, ít nhất
hay trong một vài trường hợp ở một mức độ đáng kể,
điều này hoàn toàn ăn khớp với cuộc sống hiện thấy được
trên thế giới hiện nay. Điều này có phải là khái niệm
về di truyền không có một chút sự thật nào hay sao?
Câu
trả lời là di truyền cũng góp phần đáng kể trong toàn bộ
qui trình này. Nhưng không phải là thành tố hay nhân tố duy
nhất trong qui trình này. Vẫn còn một thành tố khác nữa
cần được nghiên cứu nếu chúng ta muốn nhìn vào hình ảnh
nguyên trạng của toàn bộ vấn đề. Đây chính là thức giới
đứng đàng sau qui trình sắc. Cũng phải nói thêm, đây là
một qui trình sáng tạo nói về danh và sắc trong lòng mẹ.
Chính vì thế, cả hai gộp lại nhiệm vụ với nhau trên cõi
đời này lại có thể phân biệt được một cách đều nhau.
Nhưng ở góc độ cuộc sống siêu hình thuộc cõi Hóa Sinh
(Opapātika) thì không cần thiết phải có cha mẹ và như thế
vấn đề di truyền theo như chúng ta hiểu không có phần can
dự nào cả. Như chúng tôi đã đề cập đến ở trên. Một
người chết tức là thân xác thô thiển này sắp phải chết
hay là tan rã thì thân xác Hóa Sinh (Opapātika) liền xuất hiện
ngay vào sát na giống như bản sao thân xác thô thiển này vậy.
Thân xác này cho đến khi nào còn tồn tại trên bầu khí quyển
này tức là ngôi nhà cũ của nó. Tức là cõi đời này, cho
đến khi nào người đó chưa được đưa đến một cõi nào
đó tương xứng với nghiệp chướng vào sát na thân xác của
người sẽ nhận lấy hình thù, nét đặc trưng và sự tinh
tế của cõi đó, là thân xác Hóa Sinh (Opapātika) này hay bạn
có thể gọi đó là thân thể được tái sanh nơi tâm hữu
phần có nghĩa là Tâm Hộ Kiếp (Bhavaṇga-citta) không có cha
mẹ theo ý nghĩa của từ chúng ta thường hiểu trên cõi đời
này có ảnh hưởng gì hay giữ vai trò gì trong đó. Cho dù
cho mẹ có tạo ra được hiệu quả nghiệp chướng gì người
đó đã tích lũy được từ xưa đến giờ. Cho đến nay đã
có đủ bằng chứng để khẳng định điều đó đối với
những người nghi ngờ chân chính., nơi những ai tự cho mình
là đã nghe theo lý lẽ ở một mức độ nào đó.
Như
trên đã đề cập đến thân xác hóa sinh (Opapātika) cũng có
các bộ phận và các chi giống y như thân xác . Thân xác đó
cũng có năm căn có thể hoạt động tốt – Nói chung, không
nói đến căn thứ sáu có nghĩa là tâm trong nhiều trường
hợp còn có thể hoạt động tốt hơn. Đặc biệt những người
đang trong nhàn cảnh chấp nhận điều này là có thực. Vì
vẫn còn có một điều nghi ngờ- và còn là một nghi ngờ
hợp lý nữa là đàng khác. Đó là làm thế nào và tại sao
thức có thể biết được điều gì đã được tác tạo ra
và dùng vào mục đích gì nơi một cỗ máy phức tạp cao độ
như vậy được gọi là một thể xác. Về câu hỏi này tôi
muốn đưa ra ý kiến riêng của tôi là điều này chính là
tài khéo và sự lưu loát bao trùm lấy chính thức vậy. Một
cặp song hành có thể rút ra được từ cùng một khả năng
trong lãnh vực trần tục như trong khoa học, toán học, kiến
trúc và nhiều môn khác nữa đối với những ai đã kinh nghiệm
qua được trong lãnh vực riêng của mình khối kiến thức
ngầm hiểu các câu hỏi bằng cách nào, tại sao và lý do gì
việc làm đó lại tự động diễn ra, hay bằng trực giác,
hầu như chỉ trong một giây lát, tuy nhiên cho dù chúng đã
đạt được những tư liệu cần thiết để thực hiện như
vậy. Những điều này còn cần nhiều thời gian và cố gắng
và rất có thể còn cần nhiều nhân tố phụ trợ khác nữa
như là người tổ trưởng và các công nhân dưới quyền ông
thể hiện những tư tưởng và chương trình của họ. Trong
khi đó ở trường hợp thức hay là “tâm”, đặc biệt đối
với việc sáng tạo ra thân xác Hóa Sinh (Opapātika) thì toàn
bộ nhưng vật liệu cần thiết đã được gắn kết nơi chính
trong đó, những “tư liệu” này thực chất cũng là sắc
pháp, nhưng ở một góc độ tinh tế hơn hay với một từ
hiện đại và khoa học, những “pháp đó” thuộc tần số
rất cao hay là thuộc siêu tần số, nhưng dẫu sao chúng vẫn
là sắc pháp. Trong Đạo Phật, thân xác đựơc tinh luyện
bao gồm những giới đã được thanh tịnh và được gọi
là Sắc Tế (Sukhumarupa) trong khi đó thân xác thô thiển thuộc
cõi trần gian này được gọi với tên là Sắc Thô (Olārikarūpa).
Vì thế cả hai loại thân xác đều xuất phát từ một nguồn
gốc giống nhau. Có những trường hợp một số người thường
nhìn thấy sự xuất hiện của thân xác Hóa Sinh (Opapātika)
của một người chết trong trường hợp phải chết tức tưởi
như bị tai nạn chẳng hạn. Thân xác Hóa Sinh (Opapātika) có
thể quay trở lại thăm các người thân hay bạn bè của mình
y hệt như tình trạng diện mạo khi bị giết trong tại nạn.
Máu chảy từ vết thương, xương xẩu bị gẫy giống như
các bộ phận của thân xác lúc bị tai nạn. Kể cả nước
tiểu và phân thường thấy nhắc đến nữa, đây lại là
một bằng chứng nữa thường được dùng để xác nhận chân
lý cho là thân thể Hóa Sinh (Opapātika) có thể giống hệt
như bản sao thân xác cõi trần của nó vậy. Như đã nói ở
trên ít nhất cũng vào lúc này.
Siêu
Hình Là Nguồn Hữu Hình
Điều
này cũng có thể giúp loại bỏ được một loạt những nghi
kỵ nơi một số người không hiểu được bằng cách nào,
thức có thể tạo ra được một thân xác khác tinh tế hơn
là bản sao trần tục của thân xác đó. Tôi muốn tái khẳng
định ở đây rằng, vì thân xác được tinh tế của chúng
sanh hóa sanh (Opapātika) là một vật giống hệt như bản sao
thân xác con người ta, thân xác này phải được tác thành
bằng bốn giới đó là: đất nước gío và lửa. Phần rắn
chắc của thân xác hóa sanh, chính vì thế mà có phần kém
hơn đôi chút mặc dù hay là vì thân xác này có hơi tinh tế
hơn một chút. Thực chất chính vì điểm nó được tinh tế
và vô hình đó là lý do tồn tại (raison d’être) nguồn gốc
của sự kém tinh tế và hữu hình. Chính vì thế mà, lấy
thí dụ như tóc và xương thường tồn tại trước tiên nơi
một tần số cao hơn trước khi xuất hiện ở một tỷ lệ
tần số thấp hơn. Chứng cớ có rất nhiều nơi những vật
tồn tại trên trái đất của chúng ta, nếu chúng ta ngưng
suy nghĩ đến chúng trong giây lát. Không khí, hay gió, khí ga
và nhiều hình thức năng lượng đa dạng là những ví dụ
cụ thể cho sự thật này. Bất kỳ điều gì con người đã
thực hiện trên hình thức sắc hữu hình này đều là thí
dụ điển hình như là một định luật phát xuất từ hình
ảnh tâm của con người đó mà ra. Điều đó xuất hiện trước
tiên trong tâm người đó dưới dạng một vật vô hình.
Nếu
chúng ta ngừng suy nghĩ về điều kiện thuộc những lãnh vực
vô sắc trong Phật giáo thường gọi là Thiền Vô Sắc Giới
(Arūpajhana), tức là những cõi thuộc những ai đã đạt đến
được Thiền Vô Sắc, chúng ta sẽ thấy làm thế nào sự
vô hình có thể tồn tại được mà không có sự hữu hình,
tức là “Danh” vô “Sắc” trong khi đó ngược lại thì
không thể được. Trong ngôn từ khoa học hiện đại, trong
một số trường hợp tuyệt đối và cá biệt, điều này
giống như danh chỉ có thể tồn tại được mà không có sắc,
nhưng lại không thể ngược lại được. Chính vì thế đây
là một ngoại lệ. Tuy nhiên, đây là một ngoại lệ rất
có giá trị chứng tỏ rằng bằng cách nào đó một điều
gì đó có thể tồn tại không cần đến vật gì khác, mà
vật này không thể tồn tại được nếu không có điều này..
Trong
trường hợp như thế, có thể đặt thành một qui luật cho
rằng, chỉ trừ trong trường hợp những cõi thiền vô sắc
giới (formless Jhana), còn trong toàn bộ các cõi khác thuộc
các chúng sanh Hóa Sinh (Opapātika) đều thấy xuất hiện điều
được là bốn giới: địa, thủy, khí hay phong và hỏa, đương
nhiên sự khác biệt, hệ tại ở trình độ và mức độ trưởng
thành siêu nhiên cũng như trình độ sắc tế mà ra có nghĩa
là bốn “giới” như là kết quả xuất phát từ đó. Đây
là sáu cõi Dục Giới (kāmāvacarabhūmi) có nghĩa là các cõi
dục, có thể nói đây là các nhàn cảnh (tuy nhiên hạnh phúc
ở đây lại rất khác nhau tùy thuộc vào mức độ) bốn khổ
cảnh (apāya) và mười sáu cõi Thiền Sắc Giới (rūpajhāna).
“Lúc
này sức mạnh sáng tạo của “thức” (tâm) cũng lệ thuộc
vào sắc rất nhiều, có nghĩa là bốn “giới” của mỗi
cõi. Như vậy trong cõi thế gian thô thiển, thì sắc thô thiển
lại đóng một vai trò làm chậm lại qui trình sáng tạo. Chính
vì yếu tố này mà giai đoạn thụ thai đối với con người
cần tới chín tháng trước khi sinh khởi thực sự có thể
diễn ra. Nơi súc vật giai đoạn này có thể thay đổi, nhưng
chắc chắn phải có một thời gian nào đó lâu dài hơn kém
so với con người. Trong khi đó sinh khởi của súc vật vào
cõi Hóa Sinh (Opapātika) diễn ra giống như con người, xảy
ra ngay lập tức, sức mạnh tái tạo của thức có tiếng nói
tuyệt đối ở đây. Bất kỳ giới nào trong bốn giới đó
đều có thể được rút lại và lợi dụng Sắc thân thích
ứng ngay với sự tinh tế của các cõi đó. Khả năng rút
bất kỳ thứ gì rất cần thiết đối cho qui trình sáng tạo
lại là một khía cạnh lưu loát khác của thức (tâm). Ngoài
sự lưu loát như đã đề cập đến ở trên, điều này giúp
am hiểu được điều gì nên được tác tạo và dùng vào
mục đích gì, và điều quan trọng nhất là tác tạo bằng
cách nào, nghĩa là biến đổi chúng nhằm đáp ứng nhu cầu
ngay tại chỗ.
Yếu
Tố Song Hành Và Bổ Sung Cho Thức
Từ
những đoạn đã được thảo luận cho đến lúc này, thẳng
thắn mà nói ta thấy thân xác được sinh ra hay xuất hiện
không chỉ thông qua những thân căn hay đi kèm với nhiều giới
khác nhau theo một tỷ lệ thích hợp và do những phản ứng
hóa học xuất phát từ đó thôi đâu, nhưng còn có một nhân
tố quyết định đàng sau qui trình đó. Nhân tố này Phật
giáo gọi là Thức (Viññāṇa). Tuy nhiên ở mức độ phân
tích sâu xa hơn, có một vài yếu tố song hành cùng xuất hiện
chung với Thức. Liên quan đến tâm của những người đời
thường, Đức Phật đã mô tả những yếu tố này là Xúc
(phassa), (Cetanā) hay là sở hữu tư, Ái dục (Taṇhā) và Thủ
(Upādāna). Toàn bộ những yếu tố này đi kèm theo một cách
tự nhiên cùng với một hiện tượng chẳng hạn như Nhãn
Thức hay còn gọi là Cakkhuviññāṇa. Điều này đã được
đề cập đến trong điều gọi là y tương sinh (dependent origination)
hay còn gọi là duyên khởi (paṭiccasamuppāda) nguyên lý này
đã được trình bầy trong cuốn sách hiện đã được dịch
sang tiếng Anh có tựa đề là BUDDHILOGY hay là BUDDHAVIDYA. Tóm
lại, mục đích của tôi là nhấn mạnh đến chân lý cho là
thân xác, cho dù là của con người, loài vật hay là một chúng
sanh Hóa Sinh (Opapātika) cả trong nhàn cảnh cũng như trong khổ
cảnh, đều gồm có hai phần cơ bản, đó là sắc và danh,
mỗi thành phần này lại còn được chia thành nhiều phần
phụ nữa thuộc nhiều thành phần nhỏ khác nhau, ta có thể
nói như vậy hoặc là các yếu tố đi kèm theo với hai yếu
tố cơ bản đó. Chính vì thế theo lời dạy của Đức Phật
trong Kinh Cūlakammavibhañga [2] kết quả là chúng ta phải chịu
nghiệp chướng là do những tài sản của chúng ta, những di
sản của chúng ta, do sanh thân quyến, và nơi nương tựa của
ta nữa. Bất kỳ điều gì chúng ta thực hiện. Cho dù tốt
hay xấu, chúng ta buộc phải trải qua những hậu quả đó.
Một
tác phẩm biên soạn kỹ càng và nghiêm túc về những lời
dạy của Đức Phật sẽ chiếu rọi một ánh sáng về chức
năng của cha mẹ chúng ta, về di truyền, về cuộc sống của
mỗi con người. Ít nhất chúng ta sẽ có thể biết được,
chúng ta được thừa kế bao nhiêu từ phía cha mẹ chúng ta,
có nghĩa là do nghiệp chướng chúng ta tích lũy được từ
xưa nay nhiều hơn là từ những gì cha mẹ chúng ta để lại
như: những nét đặc trưng, màu da, và những đặc tính khác
liên quan đến thân xác của chúng ta. Trong thực tế những
đặc tính thân xác đó phải đảm nhiệm một số hay nhiều
điều từ phía cha mẹ chúng ta. Khí hậu và giống nòi chúng
ta được sinh ra. Trong Y tưởng sinh, Đức Phật đã đề cập
đến hậu quả cho là Ái dục (Taṇhā) hay là ước muốn và
Chấp thủ (Upādāna) hoặc giả tham lam đã truyền lại cho
con người những gì đã được thừa hưởng, để trở thành
một người hiện hữu. Nếu xét đến khía cạnh siêu nhiên
chắc hẳn phải có gì đó truyền lại “đôi điều gì đó
cho tất cả chúng ta, chắc hẳn chỉ có cặp sở hữu tư là
ái dục (Taṇhā) và thủ chấp (Upādāna), do đó chúng ta thừa
hưởng tất cả nhào nặn thành con người chúng ta có hiện
nay, Dù ta có biết hay thích điều đó hay không. Vì đây là
một qui trình tự nhiên (không chủ tâm) y hệt như hệ thống
tiêu hóa của chúng ta vậy.
Di
Truyền Sinh Học Sau Khi Chết
Chức
năng của di truyền sinh học, cần được nghiên cứu, vẫn
còn phần vụ tích cực sau khi con người ta đã chết, thực
vậy, như đã nói đến ở trên, tạm thời lúc này người
chết sẽ hiện nguyên hình thân xác và những nét đặc trưng
của con người cũ, kể cả quần áo họ đang mặc trong người.
Điều này diễn ra như khi họ vẫn còn sống trên đời này,
là ngôi nhà xưa của họ. Một thời gian sau họ mới được
nhập vào cõi thích hợp với sự trưởng thành siêu nhiên,
lúc này mới diễn ra thay đổi cho hợp với đặc tính môi
trường nơi họ được chỉ định cho cư ngụ. Từ đây trở
đi di truyền siêu nhiên sẽ diễn ra và họ sẽ trở thành
điều họ đáng được một cách siêu nhiên.
Chân
lý này cho ta biết thêm một điều đó là: Trong Tiềm Thức
(tâm) mọi người chỉ trừ trí của bậc thánh A-la-hán, luôn
hàm chứa một lượng, hay một mức độ ái dục (Taṇhā)
và thủ chấp (Upādāna) nào đó và dĩ nhiên đó là lượng
thiếu hiểu biết, tức là Vô minh (avijjā). Như vậy, nếu
trong mọi sinh vật đều có Thức, ngay cả ở mức độ vi
mô, tức mọi tế bào sống, thì hậu quả cũng là thức hiện
hữu trong tinh trùng người nam chẳng khác gì nơi một đơn
vị nào khác – nếu như “đơn vị” được coi là thích
hợp, như vậy Thức cũng hiện hữu nơi trứng của người
phụ nữ, và cũng có cả hai ái dục (Taṇhā) và thủ chấp
(Upādāna) trong đó. Đến đây, khi trứng được thụ tinh do
tinh trùng nam, thì hai “đơn vị” có thức đó đã phải
trải qua đủ mọi giây phút “sinh” và “diệt” và cả
hai thức đó được thế bằng một Thức khác qua qui trình
thụ tinh đó (2 trở thành một “đơn vị” thức duy nhất
khác). Đây chính là vai trò, hay là qui luật tự nhiên, chi
phối sự sống của các chúng sanh đơn bào như các tế bào
bắp thịt, tế bào xương v.v…. Kể từ giờ phút này trở
đi thì Thức lại chi phối qui trình sự sống và phát triển
bằng thức “Sinh.” Chính nhờ tiềm thức “sinh” này, một
đứa trẻ được thụ thai, thoạt tiên cũng chỉ là một bào
thai sau đó trở thành một phôi thai và cứ tiến triển như
vậy trong tử cung của người mẹ. Sau đó thức này còn là
cơ quan biến đổi máu của người mẹ trở thành nhiều phần
và cơ quan của một thân xác mới mang theo một số đặc tính
giống hệt với thân xác của cha và mẹ của đứa bé điều
này diễn ra là do ảnh hưởng thô thiển vật lý của “môi
trường mới” hay chúng ta có thể gọi là ‘căn nhà mới”
của đứa bé. Như đã đề cập đến ở trên, ta cũng thấy
có một bản sao “thân thể cõi trời” của một người
vừa mới qua đời xuất hiện ngay lập tức khi thân thể cõi
trời đi vào cõi mới có cuộc sống thích hợp với sự trưởng
thành siêu nhiên khi còn ở tại thế, thân thể cõi trời (người
chết này) sẽ mang lấy những đặc tính và thành tố “chung”
thuộc cõi đó, làm nơi ở mới. Tuy nhiên ở đây, từ “chung”
nói ở trên lại được nhấn mạnh đến một lần nữa, vì
bất kỳ một sự thay đổi hay biến đổi nào xảy ra chẳng
phải là một sự pha trộn hay tan biến nào cả. Xét cho cùng
lúc nào cũng luôn tồn tại một số tính chất cá nhân nào
đó, có nghĩa là những điểm đặc trưng và đặc thù cụ
thể rõ ràng còn sót lại khiến cho người đó khác biệt
với những người khác.
Không
Phải Là Một Bản “Sao Chụp”
Điều
này hoàn toàn đúng cả trong những trường hợp ở các cõi
“mai hậu” và còn cả ở trên cõi đời này nữa. Hãy nhìn
vào những đứa con do cùng một cha mẹ sanh ra. Tất cả đều
có những yếu tố giống nhau hay một số đặc điểm chung
và những nét đặc trưng được thừa hưởng từ nơi cha mẹ
để lại. Điều này dễ nhận ra cũng như quan sát được.
Tuy nhiên mỗi cá thể lại có một số đặc tính cá nhân
hay cá tính riêng biệt của mỗi người. Chẳng ai là một
bản sao chụp của cha mẹ hay của một ai khác cả. Tuy nhiên
có một số ngoại lệ đối với luật này trong những trường
hợp các cặp song sanh, những nét đặc trưng của họ và các
đặc điểm thân xác khó có thể nhìn ra sự khác biệt. Đây
là những trường hợp đặc biệt khi cả hai thường khoanh
tay lại, họ thường làm những điều hầu như hoàn toàn giống
nhau hay như nhau và lại thề là sẽ gắn bó cuộc sống của
họ trong cuộc sống mai hậu. Tuy nhiên vẫn còn đó một số
khác biệt rất tinh tế trong diện mạo thân xác, mà chỉ có
cha mẹ họ mới nhận ra và ngay cả trong những phản ứng
của họ trước những hoàn cảnh cụ thể thì chỉ có chính
họ mới có thể biết được.
Trừ
những trường hợp khác thường đặc biệt trên, có một
luật chung được chấp nhận như sau: “Chẳng có hai cá nhân
nào trong chúng ta bằng nhau như in hay hoàn toàn giống nhau dưới
mọi góc độ hay trong mọi tình huống cả”. Chúng ta chỉ
được thừa hưởng có một phần về mặt thân xác từ phía
cha mẹ chúng ta; tuy nhiên chúng ta cũng thừa hưởng cùng lúc
đó một phần khác - cũng là một phần cốt yếu từ chính
nơi chúng ta. Điều này ám chỉ đặc tính tâm và siêu nhiên.
Phản ứng trước những hoàn cảnh cụ thể, ý thức về giá
trị, hay về một mức độ trưởng thành hay thiếu trưởng
thành nào đó. Rất nhiều trường hợp một đứa bé thần
đồng lại được cha mẹ bình thường hay rất xoàng sinh ra.
Từ khi sinh ra Đức Phật đã biểu lộ một số đặc tính
vượt trội hẳn không thấy có nơi cha mẹ người hay nơi
chính người con trai của ngài là Rāhula. Toàn bộ những điều
này phản lại chân lý cho là di truyền (và cả môi truờng
nữa) chẳng phải là tất cả.
Di
truyền là một sự thật phức tạp, đòi hỏi nghiên cứu
và tìm hiểu cả ở góc độ vật chất, sinh học và siêu
nhiên cũng như nghiệp chướng nữa. Một điều hết sức bất
hạnh là có quá ít những nhà nghiên cứu và các nhà khoa học
quan tâm thực hiện những thí nghiệm hay nghiên cứu về khía
cạnh này. Có nghĩa là chân lý sinh học đã đủ hết mọi
sự cần được học hỏi. Đây là một sai lầm nghiêm trọng
và cơ bản kết quả thấy được nơi cái gọi là chân lý
nửa vời hay thực tế còn ít hơn cả phân nửa sự thật.
Nơi Đạo Phật chúng ta tìm thấy câu nói sau đây của Đức
Phật trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada)
“Chỉ
có các vị thánh đệ tử hữu học mới có thể nhận ra được
thân xác này (ám chỉ một chân lý là họ biết được bằng
cách nào và tại sao con người ta được sanh ra, sống như
thế nào, và sẽ đi về đâu sau khi thân xác này tan rã). Sau
khi thể hiện được điều này họ cũng có thể nhận ra được
các cõi Diêm vương (Yama) (có nghĩa là bốn cảnh khổ) và
các cõi thiên đường (có nghĩa là các cảnh hạnh phúc)”
Từ
“Sekha” ở đây có nghĩa là những đồ đệ bậc thánh,
từ các Đấng Dự Lưu (Sotapnna) trở lên cho tới các vị Quả
Bất Lai (Anagami). Hiểu theo nghĩa đen đó là những người
vẫn còn đôi điều gì đó còn phải học hỏi (và tu luyện)
thêm, sau khi đã đạt đến giác ngộ hoàn toàn. Đoạn văn
trên làm rõ rằng một trong những đòi hỏi đối với các
vị Tôn Giả đó là thể hiện được Y tương sinh có nghĩa
là Paṭiccasamuppāda
Tiến
Bộ Về Mặt Kiến Thức
Lợi
ích do việc nắm được Manomayiddhi (phép Ý hóa tâm thông)
hay là tạo một “thân xác tâm ” sẽ đem lại một lối
thoát cho cuộc nghiên cứu hay tìm hiểu về di truyền sinh học,
mở rộng tầm kiến thức và đào sâu hiểu biết về chân
lý phát xuất từ đó. Theo ý kiến của tôi nhu cầu xuất
phát từ đó chính là một con người đã được khả năng
này và có thể chứng tỏ cho công chúng biết trước khi họ
hoàn toàn được cả những người đời thường và các trí
thức chấp nhận một cách không dè dặt e ngại. Chỉ khi nào
chân lý vĩ đại này được chứng minh một cách đầy đủ
nhất cho hầu hết mọi người ở khắp nơi, thì lợi ích
phát sinh từ việc chấp nhận này chắc chắn sẽ đủ để
đảo ngược được xu hướng chỉ tin vào những khía cạnh
sắc di truyền, và dẫn đến những kết luận buồn thảm
cho là “ Sanh ra là lúc bắt đầu và chết là kết thúc tất
ca” Những người đặt niềm tin dựa trên lý trí về chân
lý này sẽ sẵn sàng chấp thuận chân lý Phật giáo cho rằng
Thức tạo ra thân xác và chúng ta thừa hưởng tất cả (cả
tâm lẫn siêu nhiên) từ việc chính chúng ta tích lũy được
những điều tốt cũng như xấu. Chẳng có gì biến mất cả,
ngay cả những gì chúng làm mà chẳng được ai thấy, không
ai biết cũng như chẳng được ai ca ngợi.
Điều
quan trọng hơn cả là, cảm thấy mắc cỡ về điều xấu
xa, sợ hãi về những kết quả sẽ nẩy sinh từ bên trong
nội tâm, không sợ hình phạt của người khác hay luật pháp
trừng phạt. Cùng với nhiều người ngày gia tăng tin tưởng
vào chân lý lớn lao này, xã hội sẽ không rơi vào rối loạn
và lộn xộn hủy diệt như hiện nay. Đa số mọi người sẽ
tin theo một tôn giáo mà họ sẽ lựa chọn. Không phải chỉ
thực hiện những việc thờ phụng từ môi miệng mà thôi,
cũng như không giả hình trong một số trường hợp. Thật
đáng tiếc cho dù sự thật là có hàng ngàn bộ phận cải
tiến được chế tạo do kỹ thuật hiện đại đã khiến
cho cuộc sống của chúng ta thêm hạnh phúc hơn bao giờ hết,
thế mà con người vẫn phải chịu đau khổ một cách trớ
trêu, đặc biệt trong lãnh vực tâm nhiều hơn so với trước
đây. Xã hội hình như đang rơi vào tình trạng rối loạn
tuyệt vọng và thất bại thảm thương. Thực chất là kết
quả của chính việc sáng tạo của con người, nghĩa là một
thái độ tm sai trái, quá kiêu hãnh ấp ủ ý tưởng “sanh
khởi đầu mọi sự sanh và tử lại kết thúc tất cả”.
Một
lẽ tất yếu là, không phải toàn bộ các Phật tử đều
có thể đạt được tuệ giác về việc Nhớ Lại Tiền Kiếp,
ngay cả quá khứ của chính họ nữa. Nhưng với một trí tuệ
hợp lý và một niềm tin nơi Giáo Lý của Đức Phật và sự
giác ngộ họ vẫn có thể tự giữ mình đi theo Chánh Đạo
và vì thế có thể duy trì thái độ tâm của mình dựa trên
những chân lý Kết quả nghiệp chướng, về sự sống, đặc
biệt là cuộc sống, “trước cái nôi và vượt qua cả ngôi
mộ” (trước khi sanh ra và sau khi chết) và một điều quan
trọng nhất, đó là đại chân lý về tâm Thức đó chính
là “người sáng tạo ra thân xác, cả cái thân xác thô thiển
đến thân xác được thanh tịnh, vô hình, do tâm tác thành
mà mọi người thường đồng thanh gọi là thân xác Hóa Sinh
(Opapātika). Điều này hòa hợp với một trong những công thức
Đức Phật đã công bố trong Y tương sinh của ngài nói rằng,
“viññāṇapaccaỳa Nāmarūpaṃ: (có thức thì cũng có danh
và sắc).
Phát
xuất từ Thức, hay từ nơi góc độ cá nhân hơn, tất cả
chúng ta đã phải trải qua vô số những quá trình “Sinh Tử”
trước khi xuất hiện trên cõi đời này là nơi cư ngụ tạm
thời. Điều này kéo theo như là một kết quả tất yếu đó
là chúng ta sẽ phải trải qua vô số qui trình sinh tử khác
nữa để có thể kết thúc được quãng thời gian tạm trú
này, quãng thời gian này còn kéo dài lâu mau tùy thuộc vào
chúng ta, chỉ một chút ái dục (Taṇhā) và thủ chấp (Upādāna)
nơi thâm sâu tâm thức của chúng ta thôi.
Chân
lý cho rằng “Chẳng có bất kỳ điều gì triệt tiêu cả”
Tức là các chúng sanh sống sót do nghiệp chướng, một chân
lý vĩ đại vô tiền khoáng hậu– chắc chắn sẽ trở thành
nguồn mạch cho các giá trị đạo đức nội tại trong tâm
mỗi người chúng ta. Chẳng cần đến bất kỳ thế lực ngoại
vi nào kiềm chế như luật lệ do con người đặt ra và mối
lo sợ những hình phạt tạm bợ. Đây là cách thức chắc
chắn nhất để chống lại khuynh hướng suy sụp luân lý và
bạo loạn từ đó phát sanh và những thất bại ảnh hướng
mạnh mẽ đến xã hội và quần chúng ở khắp nơi trên thế
giới ngày nay. Kết quả của hành vi này chẳng là gì khác
hơn là một nền hòa bình, phát triển và tiến bộ theo chiều
hướng tất cả mọi người trên thế gian này đang mong đợi.
NHỮNG
CON NGƯỜI THUỘC VỀ HAI CÕI
Di
truyền đã quá rõ ràng
Phải
đâu tất cả những điều ta tin
Niềm
hy vọng đã gắn liền
Khổ
đau hạnh phúc chẳng qua kiếp người.
Môi
trường cũng là điều thiết yếu
Còn
nhiều điều khác nữa phụ thêm
Xét
toàn khối chẳng là điều to tát
Au
chỉ là “chuyện nhỏ” có chi đâu.
Hóa
tâm thông điều quá rõ ràng.
Phận
con người Nam Phụ Lão Ấu
Đều
mang nặng kiếp di truyền muôn thuở
Trong
qui trình sống của mỗi chúng ta.
xác
thanh tịnh đã một thời được giải thóat.
mọi
ràng buộc nào cha nào mẹ hoặc của chính riêng ta.
Khi
tâm bình an vạn kiếp.
Chính
nơi đây hiện rõ mọi hành vi siêu phàm.
Những
kỳ công Phật Tổ đã chắt chiu.
qua
phép thần thông nơi Người vốn chứng đắc.
Sa-va-ka*
cũng chia phần tham dự.
(*
Đồ đệ bậc thánh).
Người
chiến thắng phiền não nơi trần tục.
Lấy
thân xác hữu hình làm minh chứng.
Đâu
phải là tất cả mỗi chúng ta
Vượt
trên các cõi gian tà
Đang
chờ hạnh phúc bao la nghìn trùng.
Nhận
thấy được thân xác điều cao quí
Gánh
gian nan niềm đau khổ đan xen.
Chỉ
nhờ lòng quyết tâm mỗi chúng sanh.
Ái
dục cùng Chấp thủ chắc biến tan.
Làm
thành viên cõi đời gồm hai kiếp.
Nhìn
xa thấy rộng giải thoát ắt trong tay.
Sinh,
Bệnh, Già Tử chẳng lay chuyển.
Chỉ
chuyên tâm chiêm ngưỡng điều tốt đẹp.
Mong
rằng tầm nhìn ta rộng mở.
Để
Vô minh đừng hạn chế mọi căn môn.
Đập
bỏ tan tành tường thành ngục tối
Hãy
can trường thể hiện cuộc phiêu lưu.
Có
nhiều điều tuyệt vời ở phía trước.
Điều
phi thường chưa thể hình dung ra
Trời
cao, rực sáng chói chang.
Đón
chào những kẻ can trường thoát nguy.
*
THẦN
TÚC THÔNG (Iddhividhi)
So
với chủ đề ba chương trước, một số ví dụ điển hình
về sức mạnh kỳ diệu trong chương bốn sau đây xem ra có
vẻ hơi kỳ quặc và khó tin khiến một số người đương
thời hiện đại khó có thể chấp nhận được, họ đặt
nền tảng suy luận và hiểu biết của mình trên khoa học
thực nghiệm. Thừa nhận quan điểm này, mục tiêu của tác
giả chỉ là thực hiện một khảo sát, ở một chừng mực
những gì có thể đọc thấy trong các bản văn Kinh Phật,
gồm những gì được ghi lại trong đó.Thực hiện điều này,
Tác giả chỉ muốn hiểu được thái độ và quan điểm của
những người dưới thời Đức Phật. Tuy nhiên, đang khi điều
này còn tùy ở sự tự do lựa chọn của mỗi người, dựa
trên khả năng phân tích để loại bỏ một số điều họ
cho là hoang tưởng hơn là hiện thực. Chắc hẳn nếu ta gạt
bỏ toàn bộ những sự việc đó sang một bên sẽ là điều
không thích hợp và phi Phật giáo, mà không ngại đến óc
phán đoán sáng suốt, để kết luận là toàn bộ những sự
kiện đó chỉ nhằm quyến rũ để lừa bịp quảng đại quần
chúng.
Nhìn
chung, niềm tin của con người, kể cả mối hoài nghi của
họ nữa lẽ đương nhiên chỉ là Các Hành (Sañkhāra) có nghĩa
là những điều đó luôn tùy thuộc vào hoàn cảnh và môi
trường chi phối và luôn lệ thuộc vào thay đổi và những
điều chỉnh theo thời gian. Những điều này còn tùy thuộc
rất nhiều vào nền giáo dục, việc nghiên cứu và những
kinh nghiệm trong cuộc sống của người đó. Những gì ngày
hôm nay được chấp nhận, có thể sẽ bị loại bỏ một
phần hay toàn bộ trong tương lai và ngược laị. Chính vì
thế danh sách và những ví dụ điển hình sau đây ít nhất
sẽ được dùng để nghiên cứu sâu rộng và kỹ lưỡng,
một ghi nhận trung thực về những bản văn ghi lại trong Kinh
Phật qua nhiều thời đại. Như đã đề cập đến ở trên
một số người rất quan tâm muốn biết về thái độ và
quan điểm của những người thời Đức Phật có liên quan
đến góc độ Phật giáo xuất hiện giống như một “tài
năng chưa được khám phá” đối với những người tôn thờ
khoa học hiện nay. Cho dù có gặp được “Hoàng Tử Đẹp
Trai” làm tỉnh dậy nàng” Công Chúa Ngủ Mê” (nghĩa là.
Ella) từ những đống tro tàn còn lại đó, điều còn phải
được cứu xét, có thể trong suốt cuộc sống chúng ta trên
cõi đời này, hay còn kéo dài tới một thời điểm nào đó
trong kiếp mai hậu.
Những
ai đã đọc bản dịch tác phẩm SAI BABA sang tiếng Thái, mô
tả rất nhiều Phép lạ (thần thông) cũng như những khả
năng kỳ diệu của Ngài, chắc hẳn đều muốn biết nơi Phật
giáo có rất nhiều phép lạ (thần thông) do chính Đức Phật
và các đồ đệ của người thực hiện và những bài tường
thuật đó chính xác và trung thực đến mức độ nào. Một
câu hỏi khác cũng được đưa ra đó là: đã có lời giải
thích chính thức nào khả dĩ có thể chấp nhận được hay
chưa và những lý do và khả năng những sức mạnh siêu nhiên
đó đến mức độ nào.
Tôi
đã cân nhắc và suy tư rất nhiều đến những câu hỏi trên
trong suốt một thời gian dài. Ngay cả trước khi biên soạn
các bài tiểu luận về Nhớ Lại Tiền Kiếp (Recollection of
former lives), Phép Nhãn Thông (Clairvoyance) và Hóa tâm thông (Manomayakaya).
Khó khăn nằm ở chỗ những điều thần kỳ siêu nhiên này
rất hiếm thấy xuất hiện trong đời thường và những điển
hình thuộc loại này khó thấy bất kỳ người đương thời
nào thực hiện nổi. Những điều tôi đang cử ra đây chỉ
thấy đề cập đến trong Kinh Phật, mà đa số những người
thuộc thời đại chúng ta thấy khó có thể chấp nhận được.
Cho đến khi tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng và chính mắt được
chứng kiến hiện tượng “Ngài Sri Satya Sai Baba” đã thực
hiện, với thâm tín rằng đây chẳng phải là những trò bịp
bợm của nhà ảo thuật, lúc đó tôi mới đi đến kết luận
là toàn bộ những sự việc Ngài đã làm chỉ nhằm khẳng
định khả năng “phi thường” của Đức Phật. Đã có quá
nhiều sách vở mô tả và bình luận những kỳ công Ngài Sai
Baba đã thực hiện, toàn bộ những pho sách đó đều do các
học giả có cá tính liêm khiết cao độ, thoạt đầu họ
xuất hiện chỉ nhằm chê trách Đức Phật và lật tẩy tính
cách phỉnh gạt của Ngài. Cuối cùng họ sẵn lòng chấp nhận
ít nhất vào lúc này họ không thể khẳng định được việc
phô bầy những khả năng đó đều là những trò lừa bịp
của ảo thuật gia. Rất nhiều người đã đoan chắc hoàn
toàn và chấp nhận ngài là hiện thân của một vị chư thiên
nào đó.
Trước
tiên tôi cần lưu ý một chút ở đây như là lời chú cuối
trang. Điều này liên quan đến việc dùng từ IDDHIVIDHI. Từ
chính xác phải là IDDHIVIDHA, ngụ ý muốn nói đến nhiều
hay một lượng những Thần Túc Thông đa dạng (manomayiđhi).
Trong khi đó từ IDDHIVIDHI thực sự chỉ có nghĩa là “cách
thức và phương tiện để thực hiện những thần túc thông
đó. . .” Tuy nhiên từ IDDHIVIDHI đã được sử dụng hàng
nửa thế kỷ qua tại Thái Lan. với những độc giả người
Thái đã quen với ý nghĩa của từ này và không còn là một
từ khiến họ hiểu lầm. Tác giả lựa chọn dùng từ này
(có nghĩa là từ thứ hai) mượn ý nghĩa của từ thứ nhất.
Các
Phép lạ (thần thông) Nơi Phật giáo
Các
phép lạ (thần thông) do phép thần thông được nói đến
ở rất nhiều nơi trong Kinh Phật, hầu như toàn bộ 45 tập
Kinh Phật viết bằng tiếng Thái (dịch từ tiếng Pali). Những
phép lạ (thần thông) này gồm cả những việc do chính Đức
Phật thực hiện và những phép lạ (thần thông) do các đồ
đệ bậc thánh A-la-hán của Ngài nữa. Rất có thể nguồn
rõ ràng nhất được trích từ nguồn Sa môn quả Kinh (Sāmaññaphalasutta),
tôi thường trích nhiều đoạn ghi trong ba chương trước trong
tác phẩm này. Tiếp theo đây là một đoạn liên quan đến
việc thực hiện những phép lạ (thần thông) do phép thần
thông đó:
“.
. . . . Có một vị tỳ khưu đã nhập thiền định vững vàng
(có nghĩa là thiền Jhana bậc bốn) do đó ngài đã được
thanh tịnh và trở nên sinh động, lột bỏ khỏi những ảnh
hưởng phiền não đang rình rập, trở thành kiên định, linh
hoạt (nghĩa là nhuần nhuyễn và hoàn toàn tuân thủ theo ý
muốn.) và không bị lung lạc, hướng tới thực hiện được
nhiều sức mạnh thần thông. Chư vị đó có thể đạt đến
được những công việc lạ lùng như sau:
1.
Từ một người biến thành nhiều người hay từ một đồ
ít đồ vật tạo ra nhiều đồ vật khác nhau.
2.
Ngược lại, biến nhiều người thành một người duy nhất
hay biến nhiều đồ vật thành một vật duy nhất.
3.
Thực hiện (điều được gọi là) Āvibhāva nghĩa là tạo
ra ánh sáng nơi bóng tối, mở ra được điều gì đang bị
che khuất, đang bị giấu diếm, và chôn vùi ở nơi xa xôi
không thể nhìn thấy bằng mắt thường được. Chư vị tỳ
kheo có thể đem ra ánh sáng được những điều đó.
4.
Ngược lại, thực hiện cái gọi là Tirobhāva có nghĩa là
tạo bóng tối tại những nơi đang có ánh sáng, tạo ra vật
ngụy trang giữa những nơi trống trơn, có thể đi xuyên qua
những nơi không thể vượt qua nổi. Dấu không cho nhìn thấy
những vật cận kề ngay trước mắt và đã được nhìn thấy.
5.
Đi xuyên qua bức tường, hàng rào và cả những ngọn núi
như thể những chướng ngại vật đó chỉ là không khí mà
thôi hay di chuyển được trên không.
6.
Chui xuống được lòng đất và lại từ lòng đất trồi lên
một cách dễ dàng, giống như nhẩy xuống nước và rồi lại
trồi lên khỏi mặt nước.
7.
Đi trên mặt nước mà không bị chìm xuống giống như bước
đi trên mặt đất vững chắc vậy.
8.
Bay trong không khí giống như loài chim vậy hay ngồi lơ lửng
trên không trong nhiều tư thế khác nhau, tất cả đều được
thực hiện trên không.
9.
Bằng chính bàn tay của mình có thể đụng tới hay sờ mó
được mặt trời và mặt trăng.
10.
Bằng thân xác phàm trần của mình lại đột nhập được
vào cõi Phạm Thiên giống như với thể xác đã được thần
thông hóa.
Tuy
nhiên, những điều nêu trên không được dịch theo nghĩa đen
và từng chữ một từ đoạn văn tiếng Pali nguyên thủy. Điều
này chỉ nhằm tạo thuận tiện cho việc tìm hiểu đối với
những độc giả chưa quen với văn phong và các thành ngữ
Pali. Để tiện việc so sánh cho những ai muốn tìm hiểu trực
tiếp những đoạn văn Pali. Tôi xin trích đoạn văn bằng tiếng
Pali như sau:
So
evam samahite citte parisudddhe pariyodate anañgane vigatūpakkilese mudubute
kammaniye ṭhite anañjappatte iddhividhāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti.
So anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti.
1.
Ekopi hutvā bahudhā hoti;
2.
Bahudhāpi hutvā eko hoti;
3.
Āvibhāvaṃ (karoti)
4.
Tirobhavaṃ (Karoti)
5.
Tirokuddhaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ āsajjamāno gacchati seyyathāpi
ākāse;
6.
Paṭhaviyāpi ummujjanimujaṃ karoti seyyāthapi udake;
7.
Udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi paṭhaviyaṃ;
8.
Ākāsepi pallañkena kamati seyyathāpi pakkhīsakuṇo.
9.
Imepi candimasuriye evaṃ mahiddhike evaṃ mahānubhāve pāṇinā parimasati
parimajjati;
10.
Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.
(Trích
trong Sīlakkhadhavagga thuộc Trường Bộ Kinh 9/130)
Những
trích đoạn trên nhằm giúp xác định với quí vị độc giả
một sự thật, hay đúng hơn là một chân lý, về những điều
được cảm nhận cho là không thể thực hiện nổi và như
vậy không thể tin được. Thực tế, những trích đoạn trên
đây là chính những gì Đức Phật đã giảng dạy hứa hẹn
đem lại những kết quả có thể đạt đến được nhờ có
tâm được thanh tịnh đạt đến được mức cao siêu siêu
phàm. Yêu cầu tối thiểu phải đạt đến là Thiền Bậc
Bốn (fourth jhana) và một điều không thể thiếu được và
kèm theo với năm loại thuần thục (vasī) (hay là Fluency) trong
việc quyết định, tự rút lui vào nội tâm, tự xuất hiện,
quyết đoán và hành thiền. Năm điều này đã được giải
thích trong cuốn sách tôi đã biên soạn có tên là ĀNĀPĀNASSATI
SAMĀDHI (Nhập thiền dựa trên Nhập Tức Xuất Tức Niệm,
hay là Niệm Hơi Thở) trang . . . (bản dịch tiếng Anh)
Một
điều đáng lưu ý đã được đề cập đến trong Kinh Phật
đó là sự kiện tu luyện hành thiền chỉ nhằm đạt đến
được Abhinna (nghĩa là sức mạnh thần thông) bậc cao hơn.
Sức mạnh này không thể hoàn tất được nội trong cuộc
sống hiện tại, đặc biệt là đối với những người chỉ
mới khởi sự tu luyện trong cuộc sống hiện tại. Lý do là
vì tuổi thọ tối đa của một con người không đủ để
đạt được một sự phát triển chính xác lâu dài như vậy.
Nói cách khác, một con người có những tiềm năng như vậy
phải thuộc dạng bẩm sinh chứ không phải là chứng đắc
được. Vì thế cho nên những ai đã đạt được những khả
năng lạ thường đó vẫn phải tích lũy những điều căn
bản để có thể đạt đến thiền chứng đó trong nhiều
cuộc sống trong quá khứ. Một số người đã đạt đến
thành công đó trong một số thời điểm nội trong một cuộc
sống trước kia của họ. Chính vì thế họ tự động lao
vào tập luyện giống như vịt lao vào vùng nước vậy.
Trước
khi bàn đến lý do tại sao thực hiện được những sức mạnh
thần thông đó lại chỉ là một khả năng thay vì là một
chân lý, ta cần phải liệt kê ra đây những thí dụ trích
từ Kinh Phật chứng tỏ ai là người đã có thể làm được
như vậy ngay trên cõi đời này và những gì đã được ghi
lại về những việc họ đã thực hiện được trên cõi đời.
Ví
dụ đầu tiên: Ven. Cūlapanthaka
Trường
hợp Trưởng lão Cūlapanthaka, ngài đã biến thành rất nhiều
bản sao chính bản thân ngài và rồi lại hủy toàn bộ những
bản sao đó, còn lại một mình ngài mà thôi.
Trưởng
lão Cūlapanthaka có một người anh trai tên là Mahāpanthaka,
Cả hai anh em đều là cháu ruột của một nhà triệu phú sinh
sống tại thành phố Rajagaha. Người anh, là Mahapanthaka, đã
nhận Thọ Đại Giới làm tỳ khưu lần đầu tiên và chẳng
bao lâu sau đã đạt đến bậc A-la-hán, đồng thời cũng đạt
được bốn bậc Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhida). Một thời
gian sau Ngài đã giới thiệu người em của mình, là Cūlapanthaka,
để cũng được nhậnThọ Đại Giới. Nhưng người em trai
xem ra quá chậm chạp và thiếu thông minh vì sau khi người
em được bảo cho biết phải học thuộc lòng một đoạn kệ
ca ngợi những công đức của Đức Phật chỉ có bốn câu,
nhưng người em đã không tài nào nhớ được ngay cả sau một
thời gian kéo dài đến bốn tháng sau. Đoạn kệ đó như sau:
“Padumaṃ
yathā kokanudaṃ sugandhaṃ
Pāto
siyā phullamavītagandhaṃ
Añgīrasaṃ
passa virocamānaṃ
Tapantamādiccamivantlikkhe.”
Tạm
dịch là: Hãy nhìn lên đức Añgirasa (tức là Đức Phật)
ngài trông giống như một đóa hoa sen Kokanuda (tức là hoa sen
màu đỏ) với hương thơm ngọt ngào tỏa lan đang nở rộ
vào buổi sáng. Luôn luôn tỏa ra mùi hương thơm say mê lòng
người. Giống như mặt trời chiếu những tia nắng chói chang
khắp cả một vùng trời bao la.
Nhận
thấy người em của mình quá đần độn, vị trưởng lão
nói với em. “Này Cūlapanthaka, chú chẳng còn hy vọng gì được
ở lại trong hàng ngũ Đức Phật nữa. Ngay cả sau bốn tháng
mà chú vẫn không thể thuộc nổi bốn câu kệ, thì làm sao
chú có thể chu toàn được những bổn phận tỳ khưu của
chú được? Mong rằng chú hãy rời khỏi nơi đây và hoàn
tục đi theo con đường của chú cho xong.” Rồi ông ra lệnh
trục xuất người em chậm tiến đó ra khỏi thiền viện
Nhưng
chàng trai chậm tiến đó lại rất tha thiết yêu mến cuộc
sống phạm hạnh. Cậu ta chẳng bao giờ muốn có ý định
từ bỏ bậc tỳ khưu cả. Vào thời điểm đó Trưởng lão
Mahāpanthaka đang chủ trì việc phát chẩn cứu tế cho dân
chúng, ngài đang trông coi việc phân phát thực phẩm và nhân
danh các tỳ khưu trong chùa mời những người dùng bữa trong
thiền viện. Vào đúng ngày đó có một vị lương y tên là
Jīvaka Komārabhacca, đến gặp trưởng lão và đem đến cho
ngài rất nhiều thuốc thơm và hoa để dâng kính Tam Bảo và
ông đã nghe Đức Phật thuyết pháp tại Cánh Rừng Xoài. Vị
lương y đã hỏi về số lượng tỳ khưu hiện trụ trì tại
khu rừng này. Vị trưởng lão liền trả lời là có khoảng
năm trăm vị. Vị lương y liền lên tiếng muốn mời tất
cả các tỳ khưu, cùng với Đức Phật dẫn đầu, đến nhà
ông tham dự bữa tiệc vào ngày hôm sau.
Nhưng
vị trưởng lão lại cho biết, trong thiền viện còn có một
tỳ khưu nữa, ngài muốn ám chỉ người em ruột của ngài,
là người rất chậm hiểu, không hy vọng gì được Đức
Phật chiếu cố! Vị Lương y liền lên tiếng, “Tôi sẽ cho
mời toàn bộ các vị tỳ khưu, chỉ trừ vị đó thôi.”
Tỳ
khưu Cūlapanthaka vẫn đang ngồi gần đó đang lúc người anh
đề cập đến tên mình và ông đã biết anh mình đã loại
mình ra khỏi danh sách những người được mời đi dự tiệc.
Nghe thấy vậy, ông rất buồn, vì biết rằng là anh mình lại
“loại trừ” mình, rồi đi đến kết luận là mối tình
huynh đệ ruột thịt đã đi đến chỗ kết thúc. Cūlapanthaka
nghĩ thật chỉ uổng công theo đuổi làm tỳ khưu mà thôi,
và tốt hơn là trở thành một cận sự nam và phân phát của
bố thí rồi lập công đức cách này cách khác theo yêu cầu
một người cận sự nam thì còn hơn. Buổi sáng ngày hôm sau
người em đã rời khỏi thiền viện rất sớm, với ý định
không theo đuổi cuộc sống độc thân nữa và trở thành một
đạo hữu bình thường.
Đức
Phật đã nhìn thấy ông ra đi, Bằng Phép Nhãn Thông ngài đã
quan sát thấy ai xuất hiện trước mắt ngài và cần đến
ngài trợ giúp vào ngày hôm đó và ngài còn biết được cả
nơi chốn và người đó đang gặp điều gì trục trặc. Chính
vì thế ngài liền thực hiện một cuộc hành thiền đi bộ
tiến gần đến chiếc cổng Cūlapanthaka sẽ đi ngang qua. Nhìn
thấy Đức Phật, Cūlapanthaka tiến lại gần Ngài và tỏ lòng
tôn kính. Rồi sau đó Đức Phật liền hỏi ông. Nói rằng
“Con đang đi đâu vào giờ này thế. Cūlapanthaka?”
“
Ôi! Tâu Đức Thế Tôn, con đã bị vị tỳ khưu là chính anh
trai của mình “loại trừ” ra khỏi thiền viện, chính vì
vậy mà con phải lìa khỏi tăng đoàn và trở thành một cận
sự Nam”
Đức
Phật nói. “Ôi Cūlapanthaka, con đã thọ Cụ Túc Giới với
thầy rồi mà. Tại sao khi đã bị anh ruột “từ khước”
con không đến gặp thầy? Ôi Cūlapanthaka trở thành cận sự
Nam nào có ích lợi gì đâu nào? Con sẽ được chấp nhận
vào cùng đoàn với thầy.”
Nói
xong, Đức Thiện Thệ lấy tay đánh nhẹ lên đầu Cūlapanthaka,
rồi dẫn ông đến cửa trước hương phòng ở của ngài (Gandhakuti),
và nhờ phép thần thông ngài tạo một miếng vải trắng cực
kỳ và đưa cho Culapanthaka, bảo rằng, “Hãy ngồi thiền quay
mặt về hướng đông và lấy miếng vải này đập nhiều
lần lặp đi lặp lại lên người đồng thời tụng đoạn
Kinh sau, “Rajoharaṇaṃ, Rajoharaṇaṃ”(quét sạch bụi trần)”
Ngay
sau đó Đức Phật liền rời khỏi ông và cùng với các tỳ
khưu đi theo ngài đến nhà vị lương y Jīvaka theo lời mời
của ông, Cūlapanthaka ngồi thiền tại đó và khi nhìn thấy
mặt trời mọc, Ông liền lấy miếng vải phủi lên người
mình nhiều lần liên tiếp và tụng rằng “Rajoharraṇaṃ,
Rajoharraṇaṃ.” Chẳng bao lâu sau miếng vải lấm bẩn hết,
bụi bám đem ngòm và mồ hôi ở tay ông toát ra. Điều này
đã khiến ông hiểu ra một pháp là, cho dù tấm vải rất
trắng tinh; mà hiện đã trở nên bẩn thỉu vì bụi bậm và
do ghét trong người ông toát ra. Culapanthaka suy nghĩ, “Chao
ôi, các hành luôn biến đổi biết bao nhiêu” Với ý tưởng
và thực chứng(Abhisamaya) này, Cūlapanthaka tiếp tục nhập
tuệ giác sâu hơn nữa, đào bới sâu hơn vào toàn thể bản
chất mọi hành trong vũ trụ – bản chất hay thay đổi của
chúng, dòng tuôn chảy hay độ lỏng của các hành đó và đồng
thời là bản chất phi thực thể của các hành này.
Lúc
đó Đức Phật đang lưu lại tại nhà vị lương y Jīvaka.
Nhờ Phép Nhãn Thông Ngài nhận ra thực chứng pháp bước một
của Cūlapanthaka, Ngài phát chiếu ra một luồng sáng, một
luồng sáng rực rỡ trước mặt Cūlapanthaka, khiến Cūlapanthaka
thấy Đức Phật đang xuất hiện ngay trước mặt ông, ra vẻ
như Ngài đang ngồi thiền ngay truớc mặt Cūlapanthaka. Ngay
lúc ấy Đức Phật lên tiếng “Ôi Cūlapanthaka, xin đừng
nghĩ là trong thân xác con có bụi bậm bẩn thỉu đã làm cho
tấm vải nhơ bẩn và bụi bậm. Ngay trong tâm của con vẫn
còn một lượng bụi bẩn tham dục, sân hận, và si mê tồn
tại. Hãy quét sạch ra khỏi tâm của con đi.” Nói đoạn
Đức Phật Ngài thốt lên những kệ sau đây:
“Rāgo
rajo. na ca pana reṇu vuccati;
Rāgassetaṇ
adhivacanaṃ rajoti;
Etam
rajaṃ vippajahitva bhikkhavo
Viharanti
te vigatarajassa sāsane”
Doso
rajo, na ca pana reṇu vuccati;
Dosassetaṃ
odhivacanaṃ rajoti;
Etam
rajaṃ vippajahitva bhikkhavo
Viharanti
te vigatarajassa sāsane
Mohso
rajna ca pana reṇu vuccati;
Mohassetaṃ
adhivacanaṃ rajoti;
Etaṃ
rajaṃ vippajahitva bhikkhavo
Viharanti
te vigatarajassa sāsane
Chính
tham dục là bụi bẩn; [3] chẳng phải những hạt bụi nhỏ
rác rến đâu (thường được gọi như vậy). Từ “Bụi Bậm”
có nghĩa là “Tham Dục” Một tỳ khưu đã loại bỏ luôn
được tham dục, thì xứng được lưu lại trong tôn giáo của
Đức Phật vì chính Ngài cũng đã loại bỏ luôn được thứ
tham dục đó.”
(đoạn
kệ thứ hai và đoạn thứ ba. các từ “sân hận” và “si
mê” được thay vào chữ “tham dục” ý nghĩa còn lại giống
câu đầu tiên ở trên)
Sau
khi Đức Phật thốt lên những kệ trên thì tỳ khưu Cūulapanthaka
đạt đến bậc A-la-hán, đồng thời với Tứ Đạt Thông
, Kinh Phật và toàn bộ Tam Tạng Kinh có nghĩa là ba bộ Kinh
Phật. Điều này còn cho thấy ngay ở trên đời này, ngài
tỳ khưu Cūlapanthaka không cần phải học Kinh Phật nữa. Tuệ
giác đến với ngài một cách hết sức tự nhiên ngay vào
lúc ngài đạt đến được Tuệ phân tích
Những
Chi Tiết Thiếu Nhất Quán
Tuy
nhiên, có sự thiếu nhất quán nơi một số chi tiết trong
cả hai nguồn Kinh Phật sau đây. Bài tường thuật vừa nêu
trên được trích dịch từ tác phẩm Dhammapadạtthakathā đề
cập đến chuyện kể về tỳ khưu Cūlapanthaka. Trong một nguồn
khác, theo tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đoạn hai,
trang 220. Kể lại rằng sau khi Cūlapanthaka đã bị chính người
anh ruột của mình “khai trừ” khỏi thiền viện, Cūlapanthaka
cho rằng mình chẳng còn hy vọng gì tham gia tổ chức tôn giáo
của Đức Phật. Ông rất buồn rầu và đứng khóc ròng ngay
ngoài cổng thiền viện. Bằng Phép Nhãn Thông Đức Phật đã
đến gặp ông, hỏi xem tại sao ông lại khóc ròng như vậy.
Sau khi được kể lại lý do tại sao ông lại than vãn thảm
thiết đến như vậy, Đức Phật đã an ủi ông, nói rằng,
“Chưa bao giờ có người nào được gọi là đồ vô vọng
chỉ vì không thể nhớ được một bài kệ. Chính vì thế
không nên than vãn buồn phiền làm chi.” Nói đoạn, ngài dẫn
Cūlapanthaka đến Khu Rừng Xoài và qua phép thần thông, Đức
Phật đã tạo ra cho ông ta một miếng vải trắng tinh. Đoạn
văn viết bằng tiếng Pali như sau: Iddhiyāva pilotikakhandaṃ
abhinimmitvā adāsi.”
Cũng
ngay khi Cūlapanthaka nhận ra miếng vải trắng trở nên bẩn
vì những cú đánh liên tiếp do chính tay ông, tác phẩm Thanh
Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đã bàn đến phần này chi tiết hơn
như sau:
Đang
khi ông ngồi tụng đoạn Kinh “Rajoharaṇaṃ, Rajoharaṇaṃ.
Ông đã dùng tay mình đập miếng vải trắng tinh Đức Phật
giao cho ông lên thân mình, tấm vải đã trở nên đen ngòm.
Điều này đã khiến ông nhận ra chân lý cho rằng miếng vải
trắng tinh đó, chẳng có vết đen dơ bẩn nào trên đó cả;
nhưng đến giờ lại biến màu và trở nên bẩn thỉu vì đã
đụng đến thân xác ông. Chính thân xác đó có nguồn mọi
sự bẩn thỉu. Điều này, theo ngôn từ Phật giáo, gọi là
Paṭikulasaññā (nghĩa là tưởng, hay thực chứng được pháp
ghê tởm) và Anicasaññā (Thực chứng pháp vô thường) với
hai tuệ giác này làm căn cứ, ông đã tăng cường được
sức mạnh bằng cách đem áp dụng vào Ngũ Uẩn có nghĩa là
chính tâm và thân xác ông. Cho đến khi tuệ giác được đào
sâu đúng mức, điều này được gọi là Anulomañāṇa rất
gần gũi với điều được gọi là Gotarabhūñāṇa, nằm trên
ranh giới phân chia tâm của người phàm tục khỏi những vị
Thánh thinh văn Giác. Điều này hàm chứa một sự thật là
ông đã gần đạt đến được Thánh Đạo (Magga) và thánh
Quả (Phala). Chính vào thời điểm này Đức Phật đã thốt
lên ba bài kệ được đề cập đến ở trên. Tác phẩm Thanh
Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đã mô tả giây phút cao điểm nhất
trong biến cố đầy xúc động này như sau:
“Vào
lúc kết thúc mấy kệ trên, tỳ khưu Cūlapanthaka đã có trong
tay Chín pháp siêu thế, cộng với tứ tuệ phân tích và sáu
Phép Thần Thông (Abhiññā)”
Điều
này có nghĩa là Culapanthaka đã cùng một lúc đạt đến được
Bậc A-la-hán, tứ tuệ phân tích và Sáu Phép Thần Thông (Abhiññā)
Lúc
này ta quay trở lại Vùng Rừng Xoài, tại đó lương y Jīvaka
đang sửa soạn thiết đãi Đức Phật và Chư Vị tỳ khưu
đi theo. Jīvaka đang sửa soạn thực hiện nghi thức dâng nước
cho Đức Phật rửa tay thì Ngài ngăn ông lại, và đóng nắp
Bát Khất Thực lại Ngài lên tiếng nói.
“Không
còn một vị tỳ khưu nào đang lưu lại Thiền viện hay sao?”
“Dạ
thưa Đấng Thế Tôn, vào lúc này chẳng còn vị tỳ khưu nào
lưu lại tại thiền viện nữa đâu.”
“Ôi
Ngài Jīvaka thân mến, chắc chắc vẫn còn một vị nữa”
Đức Phật khẳng định.
Nghe
Đức Phật nói như vậy, Lương Y Jīvaka liền cử một trong
số mấy người hầu chạy đến thiền viện ngay tức khắc
để xem còn có vị tỳ khưu nào còn sót lại thiền viện
nữa hay không.
Ngay
lúc đó Cūlapanthaka tự nhủ. “Anh tôi đã nói chẳng còn
một vị tỳ khưu nào sót lại thiền viện cả. Tôi sẽ chứng
tỏ cho anh thấy vẫn còn khối tỳ khưu tại đó” Sau đó
thông qua Phép Thần Thông Cūlapanthaka đã tạo ra một ngàn
tỳ khưu tại Thiền Viện, một số đang may y cà sa, một số
khác đang nhuộm, trong khi đó một số khác đang tụng Kinh
.
Nhìn
thấy vậy, tên nô tỳ liền chạy vội về trình lại những
gì hắn được chứng kiến tại khu Rừng Xoài, nói rằng:
“ Dạ thưa ngài, có rất nhiều tỳ khưu còn đang ở trong
khu Rừng Xoài.”
Nghe
thấy điều này, Đức Phật liền bảo người đó quay trở
lại và báo cho các vị tỳ khưu đó là Đức Phật muốn gặp
một vị tỳ khưu có tên là Cūlapanthaka.
Nhưng
khi tên nô tỳ lại báo đó chỉ là bản sao các tỳ khưu giống
hệt như nhau vì khi hắn báo cho họ biết ý định của Đức
Phật, thì đồng loạt tất cả các vị tỳ khưu đều trả
lời : “Tôi chính là tỳ khưu Cūlapanthaka; tỳ khưu Cūlapanthaka
chính là tôi đây.”
Khi
tên nô tỳ của Jivaka quay trở về nhà một lần nữa báo
cho Đức Phật hắn không thể phân biệt được người nào
là tỳ khưu Cūlapanthaka, Đức Phật liền bảo hắn “Hãy
quay trở lại ngay và lần này hãy chú ý nhìn xem ai là người
trả lời đầu tiên “Tôi tên là Cūlapanthaka” hãy lập tức
thỉnh ngay vị tỳ khưu đó và rồi tất cả các vị khác
sẽ biến mất ngay tức khắc.”
Tên
nô tỳ của Lương Y Jīvaka đã thực hiện y lời Đức Phật
dạy và đã thành công dẫn về trình cho Đức Phật vị tỳ
khưu tên là Cūlapanthaka.
Chuyện
kể trên được trích trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada).
Tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) mô tả phần vừa rồi
với những chi tiết hơi khác một chút như sau:
“Khi
người hầu của Jīvaka quay trở lại và báo cho Đức Phật:
tại thiền viện còn có rất nhiều vị tỳ khưu, khiến ông
ta không thể nào biết được vị nào là tỳ khưu Cūlapanthaka,
Đức Phật truyền cho người hầu đó hãy quay lại thiền
viện ngay nói rằng, “Nếu ông gặp bất kỳ vị tỳ khưu
đầu tiên nào, hãy thỉnh ngay vị đó và nói, Đức Phật
muốn tôi đưa ngài đến trình diện ngài ngay tức khắc”
Người hầu đã thực hiện y như lời Đức Phật ra lệnh.
Ngay lúc đó, toàn bộ những tỳ khưu cùng ứng thân, và các
bản sao tỳ khưu Cūlapanthaka liền tan biến hết. Tỳ khưu
nói với người đó là hãy về trước đi. Trong khi tỳ khưu
theo sau tên người hầu, đang khi người hầu quay trở về
nhà tại khu Rừng xoài, và còn thực hiện một số việc như
rửa mặt mũi chân tay, thì tỳ khưu Cūlapanthaka đã có mặt
tại khu Rừng Xoài trước người đó và đã đến ngồi vào
đúng chỗ dành riêng cho ngài.
Ví
Dụ Thứ Hai:
2a.
Từ Một Tạo Ra Nhiều Vật, Và Ngược Lại
Trong
tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đoạn thứ hai trang
243, Trưởng lão Buddhaghosa đã kể lại biến cố sau đây làm
ví dụ cho phép lạ (thần thông) nêu trên:
Vào
một dịp lễ Đặt Bát Hội tổ chức tại thành phố Rājagaha,
có khoảng năm trăm cô gái mỗi người đều mang Bánh Trung
Thu (Candapuva) đứng dọc theo đường phố để đặt bát cho
các vị tỳ kheo. Họ đã gặp Đức Phật nhưng không nghĩ
ra phải dâng cho ngài điều gì. Khi họ thấy Trưởng lão Ca
Diếp (Kassapa) đang đi theo Đức Phật từ xa xa, một ý nghĩ
nổi lên trong đầu và họ nói với nhau, “Kìa có cả ngài
Trưởng lão của chúng ta cũng đi theo Đức Phật. Chúng ta
sẽ dâng cho ngài toàn bộ số bánh chúng ta mang theo đi” Rồi
họ đã dâng cho ngài Trưởng lão Ca Diếp (Kassapa), ngài đã
nhận của bố thí chỉ bằng chiếc bát khất thực của ngài.
Ngài đã biến chiếc bát đó có thể đựng hết năm trăm
chiếc bánh các cô gái biếu tặng. Đoạn văn Pali kể lại
vụ việc viết như sau: Thero pattaṃ nīharitvā sabbaṃ ekapattapūra-mattaṃ
akāsi. Sau đó ngài trưởng lão đã dâng tô khất thực đựng
đầy năm trăm chiếc bánh của các cô gái biếu tặng cho Đức
Phật, đang ngồi chờ ngài ở một nơi nào đó.