PHÉP
LẠ (THẦN THÔNG) BIẾN ĐỔI THÂN
(Vikubbana
iddhi)
Những
gì đã được mô tả cho đến lúc này chỉ là những phép
lạ (thần thông) thuộc loại quyết định Thần Thông (Adhiṭṭhāna
iddhi) tức là những phép lạ (thần thông) được thực hiện
thông qua lực (bala), trong đó có mười loại khác nhau như:
biến nhiều người trở thành một người duy nhất. v.v…
đi vào cõi Phạm Thiên hoặc với thân xác thô thiển hay bằng
Hóa tâm thông, tất cả đã được bàn cãi ở trên. Tuy nhiên,
vẫn còn hai loại phép lạ (thần thông) nữa cũng được cho
là chỉ đạt đến được thông qua lực (bala) đó là: phép
lạ (thần thông) biến đổi thân (Vikubbana Iddhi) và Phép hóa
tâm thông (Manomaya iddhi), tức tạo ra thân xác cõi trời từ
bản chép sắc thn (tức là thân xác thô thiển)
Tác
phẩm Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) đã nói về phép
biến đổi thân (Vikubbana Iddhi) như sau:
“Một
vị tỳ khưu đạt được khả năng thực hiện phép lạ (thần
thông) này, sau khi đã loại bỏ hình thể tự nhiên (sắc pháp)
của mình có thể mặc lấy dáng thể của long vương (Naga)
.. . . Thần Điểu (Garuda). (một loại chim thần). . .A-tu-la
(Asura) một loại chư thiên khác nữa . . . Thần Indra (thần
thuộc cõi thiên đường). . .một chúng sanh chư thiên. . . Phạm
Thiên. . . một đại dương. . . một ngọn núi. . . một cánh
rừng. . . một sư tử . . một chiếc xe hơi. . . một con hổ
. . . con báo. . . con voi. . . một người lính bộ binh, một
đạo quân nào đó.. Đây là những đoạn bằng tiếng Pali
xác định những gì nói đến ở trên:
“So
pakativaṇṇaṃ vijahitvā kumāravaṇṇaṃ vā dasseti nāgavaṇṇam
vā dasseti supaṇṇavaṇṇam vā dasseti asuravaṇṇaṃvā dasseti
indavaṇṇaṃ vā dasseti devaṇṇaṃ vā daseti brahmavaṇṇaṃ
vā dasseti samuddavaṇṇaṃ vā dasseti pabbatavaṇṇaṃ vā vanavaṇṇaṃ
vā dasseti sīhavaṇṇaṃ vā dasseti byagghavaṇṇaṃ vā dasseti
dīpivaṇṇaṃ vā dasseti hatthinpi dasseti assampi dasseti rathampi
dasseti pattimpi dasseti vividhampi senabyūhaṃ dasseti ---trṅch trong
Vô Ngại Giải Ḍạo (Patisambhidāmagga) thuộc Tiểu Bộ Kinh
(Khuddakanikāya)
Đây
chính là điều được mô tả trang Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidāmagga)
nhưng lại không cho biết bằng cách nào đã thực hiện được
điều đó. Tuy nhiên trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
những cách thức làm thể nào để thực hiện được điều
này đã được mô tả như sau:
“Một
vị tỳ khưu đạt được phép thần thông này mà muốn biến
đổi thân của mình thành bất kỳ điều gì. Tỳ khưu phải
rút vào nhập thiền Jhana, đó chính là cơ bản để thực
hiện phép lạ (thần thông). Điều này có nghĩa là bất kỳ
điều gì trong số mười Kasiṇa. Sau khi thoát khỏi thiền
Jhana tỳ khưu được yêu cầu phải hình dung ra được hình
dáng (sắc) lấy ví dụ một đứa trẻ vị tỳ khưu muốn
biến thành. Rồi tỳ kheo còn phải trú vào nhập thiền ngay
tức khắc, sau khi thoát khỏi thiền, tỳ khưu còn phải quyết
tâm thực thiện lực (bala) nghĩ là. “mong rằng tôi có thể
trở thành một chàng trai y hệt như hình dạng cậu bé này.”
Đang khi quyết tâm theo hướng đó, tỳ kheo sẽ mặc lấy được
hình dáng con người vị ấy muốn trở thành. Một ví dụ
cụ thể có thể tìm thấy trong trường hợp tỳ khưu Devadatta.
Ngài thường thực hiện phép lạ (thần thông) này trước
sự hiện diện của nhà vua Ajātasattu.
Lúc
này, một số câu hỏi sẽ nổi lên liên quan đến sự biến
đổi này. Sau khi có sự biến đổi như vậy xảy ra. Liệu
hình dạng nguyên thuỷ vẫn còn tồn tại như trước hay không?
thân xác đó sẽ không mất, hay chỉ có người khác không
thể nhìn thấy điều biến đổi này?; hay là hình dạng nguyên
thuỷ bị biến mất hoàn toàn với sự xuất hiện của một
hình dạng mới? Câu trả lời cho những câu hỏi này có thể
tìm thấy một phần ở trích đoạn Pali sau đây: “So pakativaṇṇaṃ
vijahitvā kumaravaṇṇaṃ vā dasseti” v.v… Điều này có nghĩa
là “Sau khi đã rời khỏi hình dáng nguyên thủy tỳ khưu
sẽ khoác lấy cho mình hình dạng một chàng thanh niên v.v…
Đoạn trên hình như có nghĩa là sự kiện biến đổi này
là trọn vẹn toàn diện và hoàn hảo với hình dạng nguyên
thuỷ đã hoàn toàn biến mất. Tuy nhiên, vẫn còn bỏ ngỏ
cho một cách giải thích khác nữa ngay cả cho những ai có
thể hiểu được tiếng Pali. Vì rất có thể nên giải thích
rằng từ “loại bỏ” (left), tiếng Pali viết là ‘vijahati’
có thể được hiểu là vật nguỵ trang của hình dáng nguyên
thuỷ, đang khi tạo ra một hình dáng mới nguyên để cho người
khác có thể nhìn thấy. Vì thế nếu hiểu theo nghĩa này thì
vẫn còn hình dáng nguyên thủy tồn tại như trước. Đối
với những ai còn nghi kỵ kéo dài như vậy. Tôi xin được
kể lại một đoạn trong trận thi thố tài thần thông giữa
hai người là Trưởng Lão Moggallana và Long vương Nandapananda
đã được kể đến ở trên. Trưởng Lão đã tự biến thành
một Long vương khác và rồi lại biến thành cả chim Thần
Điểu nữa. (Garuda).
Chính
Trưởng Lão tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) cũng khẳng
định quan điểm của ngài về hậu quả cho rằng sự biến
đổi thân xác thành con voi và ngựa chẳng hạn hàm chứa sự
kiện cho là những hình dạng đó được tạo ra bên ngoài
vị tỳ khưu thực hiện phép lạ (thần thông) đó. Điều
này hàm chứa sự thật là hình dạng nguyên thuỷ của vị
tỳ khưu đó không trải qua một biến đổi như thế. Trong
khi quyết tâm vị tỳ khưu đã không chủ tâm tự biến đổi
mình thành một con voi, nhưng chỉ hướng tâm tạo ra hình ảnh
một con voi. Nói cách khác, ngài không làm điều ước, “Mong
rằng tôi trở thành một con voi” mà điều ước của ngài
lúc đó là, “Mong rằng xuất hiện hình ảnh một con voi.”
Dưới đây là đoạn văn Pali khẳng định điều đó như sau:
Hatthimpi dassetīti-ādi panettha bahiddhāpihatthi – ādidassanavasena
vuttaṃ. Tattha’Hatthī homīti anadhiṭṭhahitva’ Hatthī hotūlī
adhiṭṭhatabbaṃ. - Trṅch trong Thanh Tṇnh Ḍạo (Visuddhimagga)
trang 2/247.)
Tuy
nhiên, cũng còn một giải thích nữa trong tác phẩm Paramatthamañjjusā
như sau: phần đầu lời tuyên bố có từ ‘va’ (là ‘hoặc’)
(nghĩa là kumāravaṇṇaṃ vā dasseti v,v…) nghĩa là sự biến
đổi toàn diện mất luôn hình dạng nguyên trạng, nhưng ngược
lại trong năm mục được nhắc đến sau này sự biến đổi
đó có thể là toàn diện như trong những trường hợp kể
đến ở trên, hoặc là (giống như một cách ngụy trang) cho
những hình dạng mới được tạo thành trong khi đó hình dạng
nguyên thủy của nó vẫn tồn tại. Lý do đưa ra là ‘ biến
hình dạng nguyên thủy trở thành vô hình khiến người khác
không thể nhìn thấy coi như là bỏ luôn hình dạng nguyên
thủy. Không nhất thiết phải làm cho hình dạng nguyên thuỷ
đó biến mất hoàn toàn hay trọn vẹn.”
PHÉP
HÓA TÂM THÔNG (Manomayā Iddhi)
Như
đã được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) tác
giả cho rằng các phép biến đổi thân (VikubbanĀ Iddhi) và
Ý Sinh Thân (ManomayĀ iddhi) được coi như thuộc cùng một loại
do bởi sự kiện cả hai chỉ đạt đến được qua quyết
định Thần Thông (Addhiṭṭhāna Iddhi) có nghĩa là nhờ vào
quyết tâm, sự khác biệt là phép biến đổi thân (Vikubbanā
Iddhi) là biến đổi thân xác nguyên thủy trở thành một thân
xác khác với hình dạng và hình dáng thái khác nhau trước
hoàn toàn; trong khi đó Phép Ý Sinh Thân (Manomayā iddhi) lại
ám chỉ sự tác tạo thành một thân xác khác trong khi đó
“bản sao chép” nguyên thuỷ vẫn tồn tại không thay đổi.
Thân xác mới được tác tạo có thể nói giống y hệt với
hành dạng nguyên thuỷ trong hầu hết các đặc tính cơ bản.
Tuy nhiên sự khác biệt chỉ là đang khi thân xác nguyên thuỷ
được cha mẹ sinh ra, còn thân xác mới được tạo thành
thuộc hình dạng thân xác cõi trời (astral body), do tâm tạo
thành và vì thế có khả năng di chuyển nhanh không khác gì
tâm – trong mọi tình huống. Thân xác đó người bình thường
không thể nhìn thấy, chỉ có những người có thiên nhãn
mới thấy mà thôi. Hơn nữa với sự sáng tạo ra thân xác
cõi trời thì phần đối tác thân xác sẽ trở thành một
thân xác của người đang rơi nhanh vào cơn mộng hay giống
như một bệnh nhân đang trong tình trạng hôn mê hay gần chết,
có đôi khi còn ngừng thở nữa là đàng khác.
Nhưng
phép lạ (thần thông) tạo ra nhiều người từ một người
như trong trường hợp Trưởng Lão Cūlapanthaka được kể ở
trên, hay Đức Phật thuyết pháp cho mẹ ngài nơi cõi Tam Thập
Tam Thiên (Tāvatiṃsa) lại không được kể vào loại này,
vì thân xác nguyên thuỷ của Đức Phật và của Trưởng Lão
Cūlapanthaka không bị hề hấn gì. Thân xác của họ vẫn tiến
hành làm những gì họ đang làm trước đó. Đức Phật với
thân xác của ngài vẫn luôn tay thực hiện những sinh hoạt
như là đi khất thực và tham gia vào bữa tiệc như thường.
Chính vì thế loại phép lạ (thần thông) này, không được
xếp vào loại các phép lạ (thần thông) Phép Ý Sinh Thân (Manomayā
iddhi hay thuộc loại phép lạ (thần thông) Manomayiddhi.
Có
điều lạ đáng cần lưu ý là. Trong mười loại Thần Túc
Thông (Iddhividhi), Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) đã
mô tả rõ ràng bằng cách nào chúng ta có thể thực hiện
được các phép lạ (thần thông) này, ngoại trừ phép biến
đổi thân (Vikubbanā Iddhi) và Phép Ý Sinh Thân (Manomayā iddhi)
lại không được giải thích gì cả. Chính vì thế cách thức
luyện tập để thực hiện phép biến đổi thân xác (Vikubbanā
Iddhi) như đã được mô tả trước đó lại do Trưởng Lão
tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích như sau:
“Một
tỳ khưu muốn tạo ra một thân xác tâm (ý sinh thân), sau khi
đã thoát thiền Jhana như là nền tảng của phép Thần thông
(Abhinnā), lại phải tập trung chú ý vào thân xác, rồi sau
đó ra quyết tâm bằng những phương cách đã nói ở trên.
Nói thầm trong tâm rằng, “Mong rằng thân xác này trở nên
trống rỗng” khi thân xác đã biến thành trống rỗng; Chư
vị tỳ khưu lại tập trung chú ý vào một thân xác khác với
“bản chép” (counterpart) nguyên thủy và lại quyết tâm:
“Mong rằng một thân xác khác có thể được hình thành trong
thân xác này.” Sau đó ngài sẽ có thể kéo thân xác mới
tạo thành đó ra khỏi thân xác nguyên thuỷ như rút cây gươm
ra khỏi vỏ, hay một con rắn bị rút khỏi vũng nước bùn.Sau
đây là các đoạn được trích trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga),
“ Chư vị tỳ khưu trong tăng già này đã tạo ra một thân
xác khác từ chính thân xác của ngài. Thân xác được tạo
ra chính là Ý Sinh Thân, nhưng hoàn toàn gồm có tứ chi và
các cơ quan khác. Với toàn bộ các giác quan đều hoạt động
tốt. Giống hệt một con người được lôi ra từ bên trong
đám bùn lầy lau sậy.”
Ta
có thể quan sát từ giải thích trên có một điều lạ lùng
và không bình thường liên quan đến bước đầu tiên đòi
hỏi phải có quyết tâm cao để biến thân xác nguyên thủy
trở thành trống rỗng trước lúc quyết tâm tạo ra một thân
thể cõi trời làm “bản sao.” Chính vì thế điều này xảy
ra khớp với những gì được trình bầy trong Vô Ngại Giải
Đạo (Paṭisambhidāmagga) về hiệu quả là ngài (tức tỳ kheo)
đã tạo ra một thân xác khác giống như rút ra từ trong đám
bùn lầy lau sậy vậy.
Hiện
Trạng Của “Thân Xác Cõi Trời” Ra Sao?
Một
điều ai trong chúng ta cũng cho là kỳ lạ: đó là sự kiện
không nhất thiết phải thực hiện quyết tâm biến đổi thân
xác thành trống rỗng, như mọi người vẫn thường hiểu,
“thân xác cõi trời” không tồn tại ở bất kỳ một nơi
cố định nào trong thân xác như hai vòng tròn đồng tâm hay
nằm trùng lên nhau. Không giống như điều bên trong “đám
bùn lầy lau sậy” tồn tại bên trong đó, thân xác chỉ xuất
hiện ra ngoài khi nào được lôi ra khỏi đó. Nhưng “thân
xác cõi trời” không tồn tại bên trong thân xác của ta như
vậy, nó được sinh ra một cách đột ngột. Ngay sau khi quyết
tâm được thực hiện. Rất có thể, sau khi phân tích ta hiểu
là “thân xác cõi trời” chỉ là một bản sao hay là một
phó bản của thân xác . Một vị “đồng hành” nếu từ
đồng hành có thể được dùng. Ta có thể thấy như trong
trường hợp chụp một tấm hình. Bức ảnh được chụp không
tồn tại trước đó, nó chỉ có xuất hiện ngay lúc người
thợ chụp làm việc. Bức ảnh đó giống y như bản nguyên
thủy, có nghĩa là người được chụp trong bức ảnh đó,
vì bức ảnh được dựa trên chính con người đó. Điều
giống hệt đó cũng được nói đến trong việc tác tạo ra
“thân xác cõi trời”, chỉ xuất hiện khi được tạo thành.
Ở khía cạnh này các đoạn văn của Đức Phật tỏ ra dễ
hiểu hơn khi ngài nói tới hiệu quả vị tỳ khưu với tâm
được bảo đảm, không lay chuyển và hướng tới tạo ra
một thân xác khác từ thân xác của mình. Giống như một
người được lôi ra từ trong đám bùn lầy lau sậy.
Làm
quyết tâm thông qua tuệ giác (Ñāṇa)
Trong
phạm vi mười phép thần thông (Iddhi Viddhi) liên quan. Có một
đoạn thường hay được nhắc đến, đó là thực hiện quyết
tâm thông qua trí hay tuệ giác. Theo nghĩa đen, điều này có
nghĩa là thông qua trí hay tuệ giác. Một ví dụ có thể làm
rõ việc giải thích phép lạ (thần thông) thứ nhất là tạo
nhiều người hay nhiều thân xác từ một người hay một thân
thể nguyên thủy. Như sau:
“Vị
tỳ khưu, sau khi đã hoàn tất tu luyện như đã dự liệu,
hỗ trợ, đặt nền móng và căn bản cho các phép lạ (thần
thông) xảy ra. Ngài liền trú vào nhập thiền làm bệ phóng
để thực hiện các phép lạ (thần thông), rồi từ đó thoát
ra, muốn nhân lên một trăm người từ chính thân xác của
mình. ngài sẽ tụng trong tâm của mình như sau: “Sataṃ homi,
sataṃ homi” Tôi muốn tự nhân lên một trăm người, tôi
muốn tự nhân lên một trăm người.’ Rồi ngài trú vào nhập
thiền Jhana như là một sức bật để thực hiện các phép
lạ (thần thông). Sau khi đã thoát ra với tâm vẫn còn đang
thực hiện quyết tâm, ngài liền biến thành một trăm người.
Qui trình này có thể được áp dụng cho việc tạo ra cả
ngàn người hay còn hơn thế nữa.
Tuy
nhiên trong trường hợp không có gì xảy ra sau một qui trình
như vậy, ngài lại “tụng” một lần nữa. “Tôi muốn
tự biến thành một trăm người khác” Rồi ngài lại trú
vào nhập thiền Jhana và sau khi đã thoát thiền Jhana và thực
hiện quyết tâm như trên. Qui trình này lại được lặp lại
nhiều lần cho đến khi phép lạ (thần thông) xảy ra đáp
ứng với quyết tâm của ngài.
Giải
thích trên trích từ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) (2/122) trong
khi đó Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) cũng có những
đoạn tương tự (được dịch nguyên bản như sau:
“Thường
thường một vị tỳ khưu đạt được phép thần thông: trong
lúc vẫn là một con người. Nếu ngài muốn nhân thành một
trăm người, hay cả ngàn người hay một trăm ngàn người
tuỳ theo ý ngài muốn. Sau khi đã làm những điều trên, ngài
liền chú tâm quyết định qua trí tuệ giác hay do tài tháo
vát (resourcefulness), “Tôi muốn được nhân lên thành nhiều
người” thế rồi ngài sẽ được nhân lên thành nhiều,
như trong trường hợp Trưởng Lão Cūlapanthaka.
Đoạn
văn nguyên thuỷ bằng tiếng Pali dành cho những người nào
muốn tham khảo như sau: “Pakatiyā eko bahukaṃ āvajjati sataṃ
va sahassaṃ vā satasahassaṃ vā āvajjati āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti
bahulo homītu bahuka hoti yathāyasamā cūlapanthako ekopi hutvā bahudhā
hoti evameva so idhhimā cetovasippatto eko hutvā hoti, -- trích từ.
. . .
Từ
Pali ‘āvajjati’ nghĩa đen là ‘nghĩ’ được Trưởng lão
tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích là “tụng”.
Như vậy, tỳ khưu phải “Tụng” (trong tâm) số người ngài
muốn nhân lên trở thành nguyên bản như là “Sataṃ homi,
Satam homi”. Khi ngài muốn trở thành một trăm người.
Sau
khi
đã “tụng” như vậy rồi, ngài liền rút vào nhập thiền
Jhana như là một sức bật thực hiện các phép lạ (thần
thông) có nghĩa là thiền Jhana bậc bốn. Vì nếu bậc thiền
thấp hơn không thể thực hiện được mục tiêu này.
Sau
khi trú vào nhập thiền Jhana, ngài có thể nổi lên, hạ quyết
tâm bằng cách sử dụng trí (Ñāṇa) hay tuệ giác, “Tôi
sẽ muốn chính mình được nhân lên một trăm lần” Ngay
sau đó ngài sẽ lập tức được nhân thành một trăm người
như ý ngài đã quyết tâm
Câu,
“Hạ quyết tâm nhờ trú(Ñāṇa) hay tuệ giác” trong đoạn
tiếp theo sau đây: Ñāṇena adhiṭṭhātīti abhiññāñāṇavasena
vutaṃ—(Vi. 2/ 219) Điều này có nghĩa là trí trong Phép Thần
Thông (Abhinnā) có nghĩa là tuệ giác hay ra tài tháo vát (resourcefulness)
có liên quan để việc áp dụng vào các phép thần thông. Một
vị tỳ khưu coi như đạt được trí yêu cầu phải trang bị
với năm điều Vasi hay là thuần thục trong thiền bậc bốn.
Điều này ngụ ý muốn nói lên sự thật là: một con người
như vậy phải có khả năng nắm rõ thiền Jhana là gì, tâm
của người đó ra sao vào thời điểm này, đâu là đặc điểm
của tâm được cơ động và linh hoạt đủ để có thể đáp
ứng được với quyết tâm được thực hiện và thực hiện
bằng cách nào để thực hiện được phép lạ (thần thông)
này hay phép lạ (thần thông) kia. Điều tiếp theo là không
phải hết mọi người trong điều kiện Thiền Jhana có thể
thực hiện được quyết tâm và có được tâm đáp ứng đủ
ý muốn của người đó. Thiếu năm khả năng thuần thục
và trí được nói đến ở trên, một quyết tâm không thể
có ý vọng tạo ra được kết quả như mong muốn ví một
cuộc hành thiền chưa đáp ứng đủ tiểu chuẩn hay mức cường
độ cần thiết cho cuộc thực hiện như vậy, đó là ý nghĩa
của câu: “Thực hiện quyết tâm thông qua “Ñāṇa” có
nghĩa là tuệ giác hay là tài tháo vát (resourcefulness) trong
‘nghệ thuật và khoa học’ có thể nói như vậy, trong việc
thực hiện các phép lạ (thần thông) cũng như vậy mà thôi.
Còn
nhiều chi tiết nữa liên quan đến đề tài này rất cần
được lưu ý như chúng tôi ghi lại dưới đây:
“Đang
khi thực hiện quyết tâm, thì tâm đang trong hiện trạng Thiền
Jhena dùng làm sức bật cho các phép lạ (thần thông) đang
trong hiện trạng Nimitta, nghĩa là tầm nhìn hay hình ảnh tâm
, trong khi đó tâm đang “tụng kinh” lại suy nghĩ đến các
con số, cho dù là một trăm hay một ngàn, tâm muốn biến thành.
. .” - - (Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/219)
Điều
này có nghĩa là một người có thể thực hiện quyết tâm,
yêu cầu trước tiên là có khả năng trú vào nhập thiền
bậc bốn. Dựa trên những Kasina (cơ bản) để đạt đến
những thiền chứng có được. Hơn nữa, người đó cũng đã
kinh qua tất cả các loại cơ bản (Kasiṇa).Hình ảnh tâm thiền
chứng trong mức thiền Paṭithāga thuộc bậc thiền cao nhất
trong các loại cơ bản (Kasiṇa) trong những sát na nhập thiền
Jhana
đó được gọi là ‘nimitta’ như đã được đề cập đến
ở trên. Chính vì thế đối với một người thực hiện phép
lạ (thần thông) từ khả năng của mình có nghĩa là mức
độ hay cuờng độ các thiền chứng của mình trước khi thực
hiện phép lạ (thần thông) là điều tiên quyết nhất. Cho
đến khi người đó chắc chắn là khả năng ý muốn của
mình có đủ sức để tin tưởng như vậy. Đến lúc này,
một điều cần lưu ý là trong lúc “tụng” thiền bậc bốn
(ngay cả chỉ trong thâm tâm thôi) đều không thể thực hiện
được nếu thiếu Vitakka hay Vicara (nghĩa là tầm và tứ) trong
giai đoạn tột đỉnh này. Chính vì thể điều cần thiết
là thoát ra khỏi thiền bậc bốn, đi ngược lại về thiền
Jhana bậc một, trong đó việc tụng (trong suy nghĩ) tức là
Parikamma) là điều có thể diễn ra. Chính vì thế người ta
kể lại rằng tâm trong suốt lúc tụng thì an vị ở nơi số
người mà người đó quyết tâm tạo ra, cho dù là một trăm
hay một ngàn đi chăng nữa.
“Thực
hiện quyết tâm nhờ trí ñāṇa.” Từ “Ñāṇa”, như đã
được giải thích, có giới hạn hay ý nghĩa nhất định,
liên quan đến điều được gọi là ‘Thần thông (Abhiññā)
Ñāṇa hay là quyết định trí (Adhiṭṭhāna Ñāṇa). Có nghĩa
là trí (Ñāṇa) đối với việc thực hiện các phép lạ (thần
thông) hay là trí (Ñāṇa) nhờ đó ta hạ quyết tâm một cách
tương xứng. Việc giải thích này được rút ra từ Thanh Tịnh
Đạo (Visuddhimagga) đoạn hai trang 219.
Tóm
lại, người ta cho là có mười loại phép lạ (thần thông)
cộng với phép biến đổi thân (Vikubbanā Iddhi) và Phép Ý
Sinh Thân (Manomaya iddhi) là những điều có thể đạt đến
được thông qua quyết định (Addhitthana) chính xác hơn là
thông qua trí (Adhiṭṭhāna Ñāṇa), có nghĩa là Quyết Tâm
Thiền Quán (tức tài tháo vát (resourcefulness), hay là lợi khẩu
nếu bạn muốn. Không chỉ có hành động thực hiện quyết
tâm đơn thuần do bất kỳ ai muốn thực hiện phép lạ (thần
thông), nếu mức độ lợi khẩu và kinh nghiệm không hỗ trợ
người đó đầy đủ thì không hy vọng có thể thực hiện
được phép lạ (thần thông).
Phẩm
Chất không thể thiếu một người làm phép lạ (thần thông)
cần phải đạt được
Những
phẩm chất này vạch ra những yêu cầu không thể bác bỏ
được sau đây được trích từ những lời dạy của Đức
Phật ở nhiều nơi khác nhau, trong đó việc áp dụng khả
năng ý muốn hướng về định hướng có liên quan. Chính vì
thế mà ngài cho biết (như trích trong kinh phật Sāmaññaphala
như sau).
“Một
vị tỳ khưu với tuệ tâm ổn định, được thanh tịnh đầy
đủ, toả sáng, trừ tuyệt khỏi mọi tham dục đang rình rập,
không can dự vào những phiền não, do đó đã trở nên dễ
dạy, và linh hoạt, cơ đông, tiện dụng, tồn tại một cách
vững vàng hướng tới thực hiện những phép lạ (thần thông),
thế rôì ngài có thể đạt được những thành công liên
quan đến việc bầy tỏ phép thần thông như tạo ra nhiều
người từ một người...”
Ta
cũng cần lưu ý ở đây là, ngay cả khi ta có thể thực hiện
được nhớ lại tiền kiếp, có khả năng thiên nhãn, khả
năng tạo Ý Sinh Thân, và biến đổi thân, thì các đoạn trên
cũng được sử dụng. Điều này có nghĩa là đầu tiên phải
đáp ứng được những đòi hỏi không thể thiếu đó là
đạt đến Thiền Bậc bốn, được bổ sung với năng khiếu
thuần thục hay và Vasi. Với một nền tảng thiền định như
vậy, thì hướng tâm về thực hiện bất kỳ phép lạ (thần
thông) nào đều hy vọng có thể đạt được với nhiều kết
quả khả quan. Các đoạn Pali trích chính những lời Đức
Phật dạy được nói đến ở trên, dành cho những ai muốn
đào sâu một cách cặn kẽ hơn như sau:
“So
evaṃ samahitacitte parisuddhe pariyodāte anañgane vigatūpakilese mudubhūte
kammaniyethite aneñjappatte iddhividhāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti.
So anekavihitaṃ paccanubhoti; ekopi hutvā hoti v.v…
Các
đoạn Pali li trên được trích từ Kinh Pali 9/13; cũng trích
trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/204, trong đó ta thấy có
lời giải thích như sau:
‘So’
có nghĩa là “Vị tỳ khưu đó” ám chỉ vị tỳ khưu đã
đạt đến thiền Jhana bậc bốn (Soti so adhigatacatutthajjhāno
yogī)
Samahite
citte: Tâm được nhập thiền Jhana bậc bốn nghiêm túc (Samāhite
citte iminā catutthajjhāna samādhinā samāhite). Từ ‘citta’ có
nghĩa là tâm trong cõi thanh tịnh thuộc thiền Jhana cùng với
Sắc (Citteti rūpāvacaracitte)
Parisuddhe
có nghĩa là niệm được thanh tịnh thông qua xả (Upekkhā)(Parisudddhetupekkhāsatiparisuddhibhavena
parisuddhe)
“Pariyodāte”
có nghĩa là toả sáng hay sáng chói thông qua tính tinh khiết
của tâm (Parisuddhatāyea pariodāte pabhassati vuttaṃ hoti)
“Anañgane”,
nghĩa đen là không bị tham dục giống như một mô đất’;
điều này ám chỉ đến điều kiện không bị vướng mắc
phải những đam mê như tham dục (raga). Điều này là vì những
ảnh hưởng dẫn đến tham dục như Sukha (có thể do hạnh
phúc là một mức độ hạnh phúc đem lại.) đã được chế
ngự (trong các bậc thiền Jhana bước một, hai và ba.) (Sukhādīnam
paccayānaṃ ghātena vihatarāgādiañgaṇattā anañgane)
Liên
quan đến điểm này cũng đã được giải thích xa hơn trong
tập chú giải Paramatthamañjusā cho là lạc về thân (sukha)
lạc dẫn đến hỷ (somanassa) mà hỷ dẫn đến tham (Rāga).
Rồi khổ thân (dukkha) dẫn đến ưu (domanassa) mà ưu dẫn đến
sân hận (dosa).
Từ
những phần giải thích thêm như trên, ta có thể đi đến
kết luận rằng: từ “những ảnh hưởng xúi bẩy hay những
đam mê không chỉ ám chỉ tới loại tham dục (raga) có nghĩa
là những đam mê tham dục mà thôi, nhưng còn dẫn đến loại
đau khổ nữa có nghĩa là những loại đau khổ do sân hận
mà ra.
Vigatūpakilese:
không có những phiền não. Đây là một thực tế mà kết
quả tất yếu là thiếu vắng những ảnh hưởng súi bảy
như đã được đề cập đến ở trên. Thường thì tâm bị
nhơ bẩn do sự xuất hiện những ảnh hưởng sui bảy (Anañganattayeva
vigatūpa-kilese…añgañena hi cittaṃ upakilissati)
Mudhbhute:
có nghĩa là dễ sai khiến hay tuân thủ theo như ý muốn. Điều
này có được là nhờ tình trạng tâm được huấn luyện
tốt. Chính vì thế tâm không tỏ ra bướng bỉnh nhưng rất
dễ dạy (subhavitattā mudubhūte vasīhāvappateti vuttaṃ hoti…
vase vattamanaṃ hi cittaṃ mudutanti vuccati)
Kammanīye:
nghĩa đen là “Thích hợp để làm việc’ hàm chứa điều
kiện trở nên cơ động, linh động, tiện dụng có nghĩa là
tuân thủ theo ý muốn và quyết tâm của đương sự. Đây
là kết quả chúng sanh đó đã trở nên ngoan ngoãn, dễ dạy.
Điều này được so sánh với “vàng được thổi tốt từ
phía dưới (có nghĩa là được chất trong lò luyện và được
thổi bằng những ống bễ để tăng thêm độ nóng và tách
được các cứt sắt ra khỏi vàng ròng). (Muduttāyeva kammaīiye
kammakkhame kammayoggeti vuttaṃ hoti. Muduṃ hi cittaṃ kammanīyaṃ,
hoti subhantamiva suvaññaṃ). Chính vì vậy Đức Phật đã phán,
“ Đây là điều ta đã nghiên cứu, nhưng không bao giờ ta
thấy bất cứ điều gì đang phát triển và được tăng cường.
Được linh động và dạy như tâm này.” Nānaṃ Bhikkhave aññaṃ
ekadhammampi samanupassāmi yaṃ evaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ muduñca
hoti kammaūiyañca yathayidaṃ bhikkhavae cittanti. – trích trong
Ekanipāta thuộc Tăng chi Bộ Kinh (Añguttaranikaya 20/21.)
Ṭhiṭhe,
nghĩa đen là tồn tại. Ám chỉ tâm tồn tại hay cư ngụ một
cách an toàn trong điều kiện như vậy như tâm hồn được
thanh tịnh và sáng chói (Etesu parisuddhabhavadisuthitatta ṭhiṭe)
nói cách khác, điều này ám chỉ một thực tế là tâm được
thiết lập trong chính khả năng của nó. Vì hiện nay đã trở
nên dễ dạy và linh động (Mudukammaññabhāvena vā attano vase
ṭhitattā ṭhite)
Āneñjappatte:
đã đạt đến được điều kiện không lay chuyển. Điều
này tiếp theo là một kết quả thuộc những đặc tính đã
kể ra ở trên (ṭhitattāyeva āneñjappatte acale niriñjaneti vuttaṃ
hoti) nói cách khác, có thể được giải thích như sau:
a.
Tâm ổn định trong niềm tin sẽ không bị xáo trộn bằng
cách làm cho lung lay vì thiếu niềm tin.
b.
Một khi tâm ổn định trong nỗ lực không bị xáo trộn do
tình trạng bơ phờ vì lười biếng mà ra (Viriyapariggahitaṃ
kasajjjena na iñjati)
c.
Một khi tâm ổn định trong niệm (mindfulness) sẽ không bị
xáo trộn do bởi quá cả tin (Satipariggahitaṃ pamādena na iñjati)
d.
Một khi tâm ổn định trong hành thiền sẽ không còn bị xáo
trộn do phải phân tâm (samādhipariggahitaṃ uddhaccena na iñjati)
e.
Một khi tâm ổn định trong tuệ không bị xáo trộn do vô
minh ngu dốt (Paññapariggahitaṃ avijjāya na iñjati)
f.
Một tâm toả sáng sẽ không bị xáo trộn do bóng tối những
vẩn đục đem lại (Obhāsagataṃ kilesandhākārena na iñjati)
Chính
vì tâm được ổn định với sáu đặc tính nêu trên mà đã
đạt được điều kiện không thể lay chuyển nổi (Imehi chahi
dhammehi pariggahitaṃ āneñjappattaṃ hoti)
Tóm
Lại. tâm đạt được tám phẩm chất được đề cập đến
ở trên là tâm được hướng tới thực hiện, thông qua trí.
Trí Phật Pháp có thể thực hiện được qua trí thần thông,
nghĩa là Phép Thần thông vậy (Abhiññā) evaṃ atthañga-samannāgataṃ
cittaṃ abhinīhārakkhamaṃ hoti abhiññāsacchikarrānīyānaṃ dhammānaṃ
abhiññāsaccha-kirriyāya. -- Trích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
2/ 205).
Tám
phẩm chất đề cập đến ở trên là:
1.
Samāhite: được thiết lập nhập thiền Jhana bậc bốn;
2.
Parisuddhe: được thanh tịnh;
3.
Pariyodate: được toả sáng;
4.
Añangaṇe: không bị vướng mắc do những ảnh hưởng xúi
bảy;
5.
Vigatūpakilese: đoạn diệt những phiền não;
6.
Mudubhūte: tuân thục và dễ dạy;
7.
Kammanīye: Linh hoạt, cơ đồng và tiện dụng
8.
Ṭhite āneñjappatte: tồn tại mà không bị rung động hay không
bối rối – thông qua cách đạt đến được bảy phẩm chất
đã bàn đến ở trên.
Trong
khi tám phẩm chất kể trên là những phẩm chất cần thiết
cho những ai có thể thực hiện được các phép thần thông,
chúng chỉ là kết quả phải được đạt đến vào giai đoạn
chót. Hệ thống để luyện tập tâm hầu đạt đến thành
tích đó được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
2/200 như sau:
“Một
hành gi? Yogi mới tập sự hay một thiền sinh muốn bắt tay
vào nhiệm vụ to lớn này trước tiên phải đạt đến tám
thiền chứng (samāpatti), thuộc tám loại căn bản (Kasiṇa).
Rồi ngài cũng còn phải yêu cầu theo đuổi một qui trình
gồm mười bốn bước cho đến khi được thuần thục hoàn
toàn trong qui trình mười bốn điểm này. mười bốn bước
đó gồm:”
1.
Kasinānulomato: trú nhập thiền Jhana với mười điều cơ bản
(Kasiṇa)thuận từng điều một.
2.
Kasināpaṭilomato: trú nhập thiền Jhana thuộc mười điều
cơ bản (Kasiṇa) trong qui trình ngược lại.
3.
Kasinānulomatopaṇilomato:Trú nhập thiền Jhana thuộc mười điều
cơ bản (Kasiṇa) đó trong cả qui trình thuận lẫn ngược
lại
4.
Jhānānulomato: Trú nhập các mức thiền Jhana thuận từng loại
một.
5.
Jhānapaṭilomato: Trú nhập nghịch các mức thiền Jhana
6.
Jhānānulomapaṭilomato: Trú nhập thiền Jhana thuộc nhiều loại
khác nhau trong cả qui trình thuận lẫn qui trình ngược lại.
7.
Jhānukkantakato: rút vào một số mức thiền Jhana đa dạng thuộc
một điều cơ bản (Kasina) bằng cách bỏ qua phương pháp,
bỏ qua mỗi thiền khác trong qui trình đó.
8.
Kasiṇukkantakato: Trú nhập một số bậc thiền Jhana bằng cách
bỏ qua phương pháp, lần này thì bỏ luôn tất cả mọi điều
cơ bản(Kasiṇa) trong qui trình này.
9.
Jhānakasiṇukkantakato: Trú nhập thiền bằng cách bỏ qua một
số phương pháp, bỏ qua cả các bậc thiền Jhana và các lọai
Kasiṇa.
10.
Añgasañkantito: bỏ qua (có nghĩa là rút lại) những chi thiền
Jhana.
11.
Ārammaṇasañkanito: Bỏ qua đề mục của một số loại thiền
Jhana.
12.
Añagārammaṇasañkantito: Bỏ qua cả những chi thiền Jhana lẫn
các đề mục của chúng.
13.
Añgavavaṭṭhāpanato: Xác định các chi thiền Jhana.
14.
Ārammaṇavavaṭṭhāpanato: Xác định các đề mục Jhana/.
Tám
Thiền Chứng (samāpatti) và Tám Đề Mục (Kasiṇa)
Tám
thiền chứng (samāpatti) gồm bốn Thiền chỉ Jhana sắc giới
(Rūpajhāna) và bốn Thiền chỉ Jhāna vô sắc giới (Arūpajhāna).
Tám điều cơ bản (Kasiṇa) hay là các thiền chỉ cần chiêm
ngưỡng chăm chú đó là: Paṭhavīkasiṇā: nhìn chăm chú vào
đất. Āpokasiṇa: Nhìn chăm chú vào nước. Tejakassiṇa, Nhìn
chăm chú vào lửa. Vāyokasiṇa Nhìn chăm vào gió. Nīlakasiṇa:
Nhìn chăm chú vào màu xanh. Pītakasiṇa: nhìn chăm chú vào màu
vàng; Lohitakasiṇa: nhìn chăm chú vào màu đỏ; Odātakasiṇa:
Nhìn chăm chú vào màu trắng.
Theo
Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) một thiền sinh có khả năng
tạo ra các phép thần thông được yêu cầu phải đạt đến
tám thiền chứng (samāpatti). Bao gồm cả Kasiṇa. Tuy nhiên
có hai loại Kasiṇa khác bị bỏ qua đó là Alokakasina: nhìn
chăm vào ánh sáng và Ākasakasiṇa: nhìn chăm vào không khí.
Việc loại bỏ này được giải thích trong Paramatthamañjusā
cho là Ākasakasiṇahay là nhìn chăm vo hư khơng dẫn đến thiền
chứng (samāpatti) Vô Sắc (Arūpasamāpatti) trong khi đó Ālokakasiṇa:
nhìn chăm vào ánh sáng lại được coi như là nhìn vào Odātakasiṇa:tức
là nhìn vào màu trắng vậy.
Giải
thích mười bốn bước
1.
Trú nhập thiền Jhana thuộc mười Kasiṇa tương ứng. Điều
này nghĩa là: Người thiền sinh (Aspirant) phải trú nhập thiền
Jhana bằng cách nhìn chăm vào đất, rồi xuất khỏi thiền
đó. Sau khi đã xuất khỏi thiền lại trú nhập thiền Jhana
một lần nữa bằng cách nhìn chăm vào nước, trước khi xuất
ra để rồi lại rút vào nhập thiền Jhana thông qua nhìn chăm
vào lửa. Qui trình này được tiến hành cho đến khi hết
cả mười Kasiṇa được bao trùm hết. Qui trình này có thể
được nhắc lại cả trăm lần thậm chí cả ngàn lần trước
khi có thể đạt được thuần thục đáng tin cậy. Và bằng
cách rút nhập thiền Jhana có nghĩa là toàn bộ các Jhana tuần
tự bậc một đến bậc bốn đều được thông qua một cách
tuần tự.
Những
giải thích thêm cũng được đưa ra để mang lại hậu quả
rằng, đang khi trú nhập thiền Jhana, thiền chỉ, thí dụ như,
trái đất sẽ xuất hiện sinh động trước con mắt tâm, được
mở ra cho Āpokasiṇa, tức nhìn chăm vào nước, nước tức
khắc lại xuất hiện một cách sinh động. Nói tóm lại, trong
bất kỳ thiền chỉ nào thì tâm cũng được dừng lại, đối
tượng của thiền chỉ đó lập tức xuất hiện trong tâm
nhãn. Trong những giây phút như vậy, tâm đã được dừng
lại trong mức thiền Jhana đó. Có thể là ở bất kỳ bậc
thiền nào trong bốn bậc thiền đó, điều này tùy thuộc
vào ý chí của thiền sinh.
Cũng
nên hiểu một điều là theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
thiền sinh với cùng một mục tiêu như vậy cũng phải đạt
đến thành tích bốn bậc thiền Jhana cao hơn. Bậc thiền Jhana
vô sắc gíới chẳng hạn, bậc đầu tiên đặt cơ sở trên
hư không (Ākāsānañcāyatanā) bậc hai dựa trên thức (Viññā-ṇañcayatana)
bậc ba dựa trên vô sở hữu (ākiñ-cảngññāyatana) và bậc
bốn dựa trên phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasanna- Nasannayatana).
Chính vì thế, trước khi trú nhập thiền Jhana vô sắc giới,
Yogi (thiền sinh) phải rút vào các thiền Kasiṇa và thực hiện
quyết tâm để có thể làm cho Thiền chỉ tan biến đi hay
là có thể đặt trọng tâm chú ý vào thiền chỉ đó và cả
tâm nữa cũng nằm trong đó thay vì lông bông bên ngoài không
gian. Trước tiên, thiền sinh phải niệm “Ananto Akaso”: hư
không bao la và vô tận, cho đến khi nhập vào được thiền
Jhana vô sắc giới của thiền chỉ đó có nghĩa là Ākāsānañcāyatana.
Sau khi đã chắc chắn đạt đến năm phép thuần thục, khi
chú ý đã quay trở về với không gian thì không gian sẽ cùng
lúc xuất hiện trong tâm thay vào chỗ thiền chỉ Kasiṇa hay
bất kỳ hình ảnh nào khác,o chính sự thay thế này có nghĩa
là từ “to drop the Kasiṇa ” cũng phải được thực hiện
với toàn bộ các loại Kasiṇa khác. Như vậy bốn bước thiền
Jhana sắc giới hay vô sắc giới có thể đạt đến được
bằng cách nhìn chăm chú vào tám thiền chỉ Kasiṇa.
2.
Trú nhập thiền Jhana mười Kasiṇa ngược lại từ dưới
lên trên. Điều này ám chỉ khả năng hay thuần thục của
thiền sinh có thể trú nhập thiền Jhana dựa trên mười Kasiṇa
bằng cách theo một quy trình ngược lại từ dưới lên trên.
Bắt đầu với loại cuối cùng của tám loại Kasiṇa kể
đến ở trên từ Odāta: nhìn chăm vào màu trắng, rồi Lohita:
màu đỏ, và rồi tiếp tục cho đến khi đạt đến Kasiṇa
đầu tiên có nghĩa là Paṭhavī, tức là đất.
3.
Trú nhập thiền Jhana trong mười Kasiṇa cả theo cách bình
thường và theo cách ngược lại từ dưới lên trên. Điều
này chính là kết hợp cả hai phương pháp từ một đến mười
và rồi quay trở lại từ mười đến một. Có thể nhắc
lại điều này như trước đó, một trăm lần hay ngay cả
một ngàn lần để có thể đạt được năm thuần thục từ
đó mà ra.
4.
Trú các bậc thiền liên tiếp một cách tuần tự. Theo phương
pháp này thiền sinh rút vào nhập thiền Jhana bậc thứ nhất
và rồi xuất khỏi bậc đó và lại nhập vào giai đoạn hai.
Rồi lại xuất ra để nhập vào giai đoạn thiền Jhana thứ
ba. Qui trình này tiếp tục cho đến khi đạt đến bậc cuối
cùng có nghĩa là phi tưởng, phi phi tưởng xứ (Nevasanna-Nasan-nayatana):
tình trạng phi tưởng cũng như phi phi tưởng xứ.
5.
Trú nhập vào các bậc thiền Jhana ngược lại từ dưới lên
trên. Như trên ám chỉ, thiền sinh trú nhập thiền Jhana bậc
cuối cùng có nghĩa là bậc phi tưởng phi phi tưởng xứ đầu
tiên. Rồi thầy lại xuất ra để nhập vào các bậc trước
các giai đoạn đó. Qui trình này tiếp tục ngược lại cho
đến khi đạt đến được thiền Jhana bậc đầu tiên.
6.
Rút nhập vào các bậc thiền Jhana cả các bậc bình thường
và các bậc ngược lại từ dưới lên trên. Giống như bậc
thứ ba ở trên, đây là qui trình thứ bốn và thứ năm kết
hợp với nhau. Điều này có thể được nhắc lại, như bình
thường một trăm lần hay cả một ngàn lần để có thể
từ đó đạt đến năm điều thuần thục.
7.
Trú nhập thiền Jhana bằng cách bỏ qua hay dùng phương pháp
xen kẻ. Loại bỏ tất cả mọi thiền chỉ khác. Bằng phương
pháp này thiền sinh trú thiền Jhana bậc một thông qua nhìn
chăm vào đất. Rồi xuất ra khỏi và lại rút nhập vào bậc
thiền Jhana thứ ba dựa trên cùng một loại thiền chỉ. Ngài
thực hiện bậc này cho đến khi có thể “bỏ qua” Kasiṇa
đất và nhập thiền Jhana Vô Sắc Giới bậc một trước khi
nhập lại vào thiền Jhana vô sắc giới bậc ba. Điều này
có nghĩa là chỉ có bậc thiền Jhana bị lướt qua hay bỏ
qua. Nhưng đề mục Kasiṇa vẫn không thay đổi.
8.
Trú thiền Jhana bằng cách bỏ qua hay xen kẽ, bỏ qua cả các
bậc thiền Jhana và các loại thiền chỉ Kasiṇa. Qua phương
pháp này ta có thể bắt đầu với bất kỳ loại đề mục
Kasiṇa nào cũng được không nhất thiết phải bắt đầu
với Kasiṇa đất. Chỉ bỏ qua phương pháp được duy trì
ở đây mà thôi. Việc trú nhập thiền Jhana được thực hiện
tuần tự, mà không vượt qua hay bỏ đi bất kỳ điều gì.
9.
Để Trú bằng phương pháp bỏ qua, bỏ cả các bậc thiền
Jhana và các loại đề mục Kasiṇa. Đối với những ai đã
có thuần thục đáng tin cậy và có nhiều kinh nghiệm có thể
khởi động với bất kỳ mức thiền Jhana nào tuỳ ý; cũng
vậy có thể dùng bất kỳ đề mục Kasiṇa nào. Nhiều chi
tiết được giải thích thêm trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
sau đây:
Thiền
sinh trú nhập thiền Jhana bậc nhất dựa trên đề mục Kasiṇa
đất. Rồi ngài tiếp tục nhập vào bậc thiền Jhana thứ
ba (bỏ qua bậc thứ nhì) trong đề mục Kasiṇa Lửa (bỏ qua
Kasina nước) bỏ qua tức là lướt qua đề mục Kasiṇa Nīla.
Ngài nhập vào thiền Jhana Vô sắc giới rồi tiến xa hơn nữa
đến bậc thiền Jhana vô sắc giới, Akiñcaññā - vô sở hữu
dựa trên màu đỏ, có nghĩa là đề mục Kasiṇa Lohita. Phương
pháp này được gọi là lướt qua hay bỏ qua cả thiền, lẫn
thiền chỉ Kasina (Jhana kasi ṇukkantakaṃ).
Qui
trình này chính vì thế được sắp xếp được với lợi
khẩu cả về bậc thiền Jhana lẫn các đề mục Kasiṇa .
Ở đây thuần thục là điều thiết yếu để thể hiện được
các phép thần thông, có nghĩa là việc thực hiện các phép
lạ (thần thông). Điều này ám chỉ việc trú và thoát ra
khỏi bất kỳ bậc thiền Jhana nào hay bất kỳ đề mục Kasiṇa
nào ngay lập tức theo ý muốn.
10.
Để lướt qua những thành tố thiền Jhana. Như đã mô tả
ở trên, có năm chi hay nhân tố làm thành thiền Jhana bậc
một đó là. Tầm(Vitakka), tứ (Vicāra) hỷ (Pīti) lạc(Sukha)
và nhất tâm (Ekaggatā). Thiền Jhana bậc hai gồm có ba chi đó
là: hỷ , lạc và nhất tâm. Trong khi đó thiền Jhana bậc ba
chỉ gồm có hai chi đó là lạc và nhất tâm và thiền bậc
bốn cũng chỉ có hai chi nhưng lại khác một chút đó là xả
(Upekkha) và nhất tâm.
Nhờ
phương pháp này thiền sinh trú nhập thiền dựa trên đề
mục đất. (earth Kasiṇa) rồi tiến dần lần lượt vào thiền
Jhana bậc hai, bậc ba và bậc bốn. Không cần phải thay đổi
đề mục (Kasiṇa) từ Pali chỉ tình trạng này gọi là Añgasañkantikaṃ.
Ta cũng cần lưu ý là phương pháp này chỉ có thể được
áp dụng trong loại thiền Jhana Sắc Giới (Rūpa Jhāna) mà thôi.
Chứ không thể được áp dụng cho loại thiền Jhana vô sắc
giới (Arūpa Jhāna). Đó chính là toàn bộ các loại Thiền
vô Sắc Giới chỉ có khác nhau về đề mục mà thôi. Nhưng
lại giống nhau ở chi thiền, có nghĩa là xả (Upekkhā) và
nhất tâm (Ekaggatā)
11.
Để lướt qua các đề mục thiền Jhana đa dạng. ‘Đề mục
thuộc nhiều loại thiền khác nhau’ ở đây được hiểu
là có tám loại đề mục (Kasiṇa) như đã nói ở trên, cùng
với bốn đề mục thuộc Thiền Jhana Vô Sắc Giới như, Hư
không, thức, vô sở hữu và phi phi tưởng. (Etam Santam) bằng
phương pháp này thiền sinh phải trú mỗi loại thiền dựa
trên cùng một đề mục (Kasiṇa) thí dụ như ngài rút vào
nhập thiền Jhana bậc một dựa trên đề mục (Kasiṇa) đất,
rồi cùng một bậc thiền Jhana dựa trên thiền chỉ (Kasiṇa)
nước rồi cùng một bậc thiền Jhana dựa trên đề mục (Kasiṇa)
gió v.v… cho đến khi ngài tới được đề mục (Kasiṇa)
Odāta, là đề mục cuối cùng, từ Pali cho giai đoạn này gọi
là Ārammaṇasaṇkantikaṃ
12.
Để lướt qua cả các chi thiền Jhana và các đề mục. Đây
chính là hai phương pháp đã đề cập đến ở trên (mục
số 10 và 11) gộp chung lại. Thí dụ thiền sinh trú nhập thiền
Jhana dựa trên đề mục (Kasiṇa) đất, rồi bậc thiền Jhana
thứ nhì dựa trên đề mục (Kasiṇa) nước, rồi bậc thiền
thứ ba dựa trên đề mục Kasiṇa lửa, rồi đến bậc thiền
Jhana bậc bốn dựa trên thiền chỉ (Kasiṇa) gió. Bỏ qua đề
mục (Kasiṇa) màu xanh, ngài rút vào nhập thiền Vô sắc giới
với thiền chỉ không gian rồi nhập thiền Vô Sắc Giới với
thiền chỉ tâm thức từ đề mục Kasiṇa màu vàng, thiền
Vô Sắc Giới với đề mục vô sở hữu xứ từ đề mục
Kasiṇa màu vàng và rồi thiền chỉ vô tưởng hoặc phi phi
tưởng từ thiền chỉ Kasiṇa màu trắng. Từ Pali cho loại
thiền này là Añgārammaṇassañkantikaṃ.
13.
& 14. Để xác định những chi thiền và các đề mục.
Nhờ phương pháp này thiền sinh phải nắm được các chi thiền
là gì và có bao nhiêu chi trong mỗi bậc thiền Jhana. Thiền
sinh có thể xác định được rõ ràng những chi này từ ngay
tuệ giác của mình. Các chi thiền Jhana và các đề mục tức
là có tám thiền chỉ Kasiṇa và bốn đề mục thuộc thiền
Jhana Vô Sắc Giới như đã được mô tả trước đó. Từ
Pali để xác định các chi Thiền Jhana là Añgavaṭṭhapanaṃ.
Còn từ dùng để xác định các đề mục lại là Ānrammaṇavavaṭṭhāpana.
Khó
Khăn Gay Gắt Để Phát Triển Thiền, Để Thực Hiện Các Thần
Thông (Phép lạ)
Nếu
chỉ nhằm tu luyện thiền Định hay hành thiền với mục tiêu
đạt đến hiện trạng tâm thiền Jhana, với rất ít thiền
sinh có thể làm được, thì hẳn để tu luyện thiền Jhana
để thực hiện được các Thần Túc Thông hay là cái gọi
là phép lạ (thần thông) là điều xem ra còn khó khăn hơn
rất nhiều. Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ vô cùng đáng
khích lệ. Điều này ám chỉ những ai đã đạt đến được
một phần hiện trạng thiền Jhana nơi một trong các kiếp
trước của họ. Họ không cần phải trải qua một kỷ luật
gay gắt như đòi hỏi các thầy Sa-di phải thực hiện trên
đời này. Họ cũng không cần phải tiến hành mười bốn
bước như đã được đề cập đến ở trên. Trong Thanh Tịnh
Đạo (Visuddhimagga) có các đoạn sau đây đã đề cập đến
vấn đề này:
Một
thiền sinh thực sự là thầy Sa-di chưa có đắc được bất
kỳ kinh nghiệm nào về bất kỳ loại tiền kiếp nào, sẽ
không thể thực hiện được bất kỳ Thần Túc Thông (Iddhividhi)
nào hay phép lạ (thần thông) nào mà không phải tiến hành
qua bảy bước như đã được nhắc đến ở trên. Điều này
là vì:
1.
Trong số cả trăm hay cả ngàn thiền sinh tu luyện các đề
mục Kasiṇa hay cố gắng thể hiện các đối tượng Kasina
với chính con mắt tâm của họ một cách sống động để
có thể nhìn thấy được bản sao chép thân xác của mình,
chỉ có khoảng một vài người có thể thực hiện được
điều này mà thôi.
2.
Trong số cả trăm hay cả ngàn thiền sinh đã đạt đến Uggahanimitta
trí tưởng như đã nói đến ở trên. Chỉ có một vài người
có thể đạt đến được bước thứ hai gọi là Paṭibhāganimitta
quang tướng. Khả năng kiểm tra kích thước của Hình Tượng
(Nimitta) hay và cảnh tượng (vision) theo ý muốn.
3.
Trong số cả trăm hay cả ngàn thiền sinh đã đạt đến Paṭibhāganimitta
, chỉ có khoảng một vài người có thể phát triển được
khả năng nhập thiền tiếp xa hơn cho đến khi họ có thể
đạt đến các hiện trạng thiền Jhana.
4.
Trong số cả trăm hay cả ngàn thiền sinh đã đạt đến những
hiện trạng thiền Jhana chỉ có khoảng một vài người có
khả năng tuy luyện được tâm để có thể đi qua trót lọt
được mười bốn bước kể trên.
5.
Trong số cả trăm hay cả ngàn thiền sinh đã đi qua trót lọt
mười bốn bước đó. Chỉ có khoảng duy nhất một người
có thể thực hiện được phép lạ (thần thông) mà thôi.
6.
Và trong số cả trăm hay cả ngàn thiền sinh đã có thể thực
hiện được phép lạ (thần thông) thì chỉ có một vài người
có khả năng trú nhập bất kỳ hiện trạng thiền Jhana nào
một cách dễ dàng và theo y như ý muốn của mình.
Chúng
ta phải lưu ý một điều là mục tiêu thực sự lời nói
của trưởng lão, tác giả đưa ra những con số trên chỉ
là để chứng tỏ thật khó khăn biết bao để một thiền
sinh có thể chuyên tu luyện thiền cho đến khi có thể thực
hiện được các Thần Túc Thông (Psychic powers) cùng với năm
pháp thuần thục có nghĩa là ở bất kỳ nơi nào và bất
kỳ thời điểm nào, một cách dễ dàng và tuỳ theo ý muốn.
Không nên hiểu một cách cứng nhắc theo thứ tự được đề
cập đến ở trên. Bằng không ngay cả toàn bộ dân số của
thế giới ngày nay vượt xa hơn nhiều với dân số thời Đức
Phật mà cũng chẳng có bất kỳ ai có thể thực hiện được
những điều đó.
Nhưng
cũng có một số người có thể thực hiện được phép lạ
(thần thông) mà không cần phải trải qua bất kỳ tu luyện
gay gắt nào
Tuy
nhiên, cũng phải nói một điều như sau:
Đối
với những ai đã có được “Pubbayoga.” có nghĩa là đã
tích lũy được nhiều việc công đức. Lại thường cố gắng
hết sức trong các cuộc sống ở các kiếp trước của mình,
như Đức Phật là Đấng Toàn Giác. Phật độc giác và một
số vị thánh thính văn đã đạt đến mức thiền như trên
và đạt được sức mạnh cơ bản để thực hiện các phép
là và Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhidā), tức là pháp thuần
thục có thể xuất hiện nơi họ một cách tự nhiên ngay cả
khi họ không phải trải qua bất kỳ một bước nào trong mười
bốn bước (trong cuộc sống hiện tại này)
Đoạn
văn tiếng Pali viết về điểm này như sau:
Balavapubbayogānaṃ
pana buddhapaccekabuddha-aggasāvakadīnaṃ vinapi iminā vuttāppakārena
bhāvanānukkamena arahattapaṭilābhavaseneva idañca iddhivikubbanaṃ
aññe ca paṭisambhidādibhedā guṇa ijjhantī.
(Thanh
Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/204)
Chính
vì thế, điều này được làm rõ tại sao một số vị A-la-hán,
cho dù không tu luyện bất kỳ cuộc hành thiền nào trước
đó, lại có thể chỉ ngay sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp
và đạt đến bậc A-la-hán, có một số trường hợp đã
đạt đến tới sáu phép thần thông (Abhiññā) và một số
trường hợp khác lại thực hiện được Tứ Vô ngại giải
đạo (paṭisambhidā) như trường hợp Trưởng Lão Sārīputta
Moggallāna, Kappina và vị thừa tướng Santati.
Mười
Phép Thần Thông (inddividhi)
Để
soi sáng hiểu biết về thần thông (iddhi) hay là các phép màu.
Chúng ta nên tham khảo các đoạn văn sau đây trong Vô Ngại
Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) (Khu. Pa. 31689) như sau:
1.
Phép quyết định Thần Thông (Addhiṭṭhāna Iddhi): Những khả
năng đạt được thông qua quyết tâm (Adhiṭṭhāna) như: từ
một người biến thành nhiều người.
2.
Phép thần thông Vikubanā (iddhi)): những khả năng biến đổi
thân.
3.
Phép Ý Sinh Thân hay hóa tâm thông (Manomayā iddhi): khả năng
thông qua tâm có nghĩa là tạo ra hay phát ra một thân xác cõi
trời xuất phát từ bản sao chép sắc thân.
4.
Ñāṇavipphārā Iddhi: nghĩa đen, khả năng thông qua khuyếch
tán ánh sáng hay tỏa khắp về phía tuệ quán (Ñāṇa) mà
đạt được.
5.
Samādhivipphārā Iddhi: nghĩa đen, sức mạnh đạt được thông
qua khuyếch tán hay toả khắp về phía thiền.
6.
Ariyā Iddhi: sức mạnh đặc biệt của các vị thánh nhân.
7.
Kammavipākajā Iddhi: sức mạnh do kết quả các hành vi nghiệp
chướng đem lại.
8.
Puññavato Iddhi: khả năng của những ai tích tụ được nhiều
việc công đức.
9.
Vijāmayā Iddhi: sức mạnh do tụng kinh hay cầu các câu thần
chú (mantras)
10.
Tattha tattha sammāpayogapaccayā Vijjhamaṭṭhena iddhi: sức mạnh
thông qua thành công trong việc thực hiện hiệu quả hay bổn
phận của chúng ta.
Những
giải thích được tìm thấy trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
(2/270) như sau:
1.
Phép Thần Thông quyết định (Addhiṭṭhāna Iddhi): Khả năng
quyết tâm. Ví dụ như biến một người thành nhiều người.
Người này và thành nhiều người khác cùng một chủng loại
giống nhau như đã được giải thích.
2.
Phép biến đổi thân (Vikubanā Iddhi): khả năng qua biến đổi
thân xác điều này cũng đã được giải thích.
3.
Phép Ý Sinh Thân (Manomayā iddhi): khă năng thông qua tâm, cũng
đã được giải thích. Điều này cũng được gọi là Manomayiddhi
4.
Ñāṇāvipphara thần thông (iddhi): nghĩa đen, khả năng đạt
được thông qua khuyéch tán ánh sáng hay toả sáng về phía
Ñāṇā (tuệ quán) trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga)
cũng có lời giải thích sau đây:
Một
thiền sinh thường xuyên hay liên tục chiêm ngưỡng bất kỳ
những khia cạnh phật pháp sau đây cho đến khi thể hiện
được chân lý từ đó mà ra được cho là đã đạt đến
thành công trong khả năng này thông qua tuệ quán (Ñāṇā)
có nghĩa là Tuệ giác như sau:
a)
Kẻ nào thường xuyên suy tưởng đến pháp khổ cho đến lúc
người đó có thể từ bỏ được Sukkha-saññā, có nghĩa
là lạc tưởng .
b)
Kẻ nào suy tưởng đến pháp vô ngã hay là vô thực chất
cho đến khi người đó có thể loại bỏ được Attasaññā,
có nghĩa là ngã tưởng.
c)
Kẻ nào thường xuyên suy tưởng đến pháp dẫn đến chán
nãn ảo giác cho đến khi người đó loại bỏ được hoan
hỷ, có nghĩa là những đam mê dục lạc.
d)
Kẻ nào thường xuyên suy tư đến diệt đế (nirodha) hay tận
diệt cho đến khi người đó có thể loại bỏ được nhân
duyên khổ.
e)
Kẻ nào thường xuyên suy tư đến Paṭinisagga, có nghĩa là
bỏ qua hay buông thả cho đến khi người đó có thể loại
bỏ được Chấp trì (Ādāna) có nghĩa là chấp thủ.
Loại
thần thông (iddhi) hay sức mạnh này được phát sinh từ tuệ
giác tràn ngập tâm của người đó và bảo vệ họ khỏi
những ảnh hưởng phá hoại ngầm. Chính vì thế chúng được
gọi như vậy. Theo nghĩa đen, chúng là tuệ giác lan toả khắp
nơi, đang khi thực sự chúng mang tính chất bảo vệ cho tuệ
giác. Trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) có đưa
ra một số ví dụ liên quan đến Trưởng Lão Bākula, Sañkicca
và Bhūtapāla, dưới đây là những tường thuật ngắn về
các vị như sau:
Trưởng
Lão Bākula.
Khi
còn là một đứa nhỏ, vào một ngày rất thuận tiện Trưởng
Lão Bākula được đưa đi tắm sông. Vì bất cẩn nên đứa
nữ tỳ đã tuột tay đánh rơi cậu bé xuống sông và dòng
nước đã cuốn cậu bé đi mất. Nhưng ngay sau đó có một
con cá to đã nuốt cậu bé vào bụng và con cá bơi tới tận
thành phố Barāṇasī (ngài được sinh ra tại thành phố Kosambi),
tại đây có người đánh cá bắt được con cá này và đem
bán cho vợ người triệu phú trong vùng. Bà này trong thấy
con cá thì đem lòng thích thú, nói rằng: “Tôi sẽ tự tay
đem luộc con cá,” Bà tiến hành mổ con cá ra, và vô cùng
kinh ngạc do một sự ngạc nhiên lý thú. Khi nàng nhìn thấy
trong bụng con cá có một đứa bé trai có nước da giống như
vàng vậy. Nhìn thấy đứa bé vẫn còn sống, nàng vô cùng
sung sướng vì có được một cậu con trai cho chính mình. Như
vậy người vợ của nhà triệu phú đã nuôi dạy cậu nhỏ
Bākula lớn lên rất kỹ càng và đầy tình thương cho đến
khi cậu bé lớn lên và sau đó được nhận thọ giới thành
tỳ khưu, và cuối cùng đã đạt đến bậc A-la-hán.
Theo
ngài Trưởng Lão Tác giả Buddhaghosa cho là cậu bé vẫn còn
sống an toàn trong bụng cá, đó là do Sức Mạnh Che Chở của
chính trí Ñāṇa hay tuệ giác của cậu có nghĩa là sức mạnh
tuệ giác tiềm tàng nhờ đó mà ngài có thể đạt đến bậc
A-la-hán ngay trong cuộc sống của mình.
Qua
lời giải thích này, chúng ta thấy điều đáng lưu ý là một
thiền sinh đến thời điểm thích hợp để đạt đến bậc
A-la-hán ngay trong cuộc sống của mình phải tích luỹ được
rất nhiều công đức từ nhiều kiếp trước. Toàn bộ những
công đức này được gọi gộp lại thành Đáo bỉ ngạn (pāramī)
tiếng Việt gọi là Ba-la-mật (pāramī) gồm mười loại công
đức khác nhau, gồm có Tuệ (Paññā) hay khôn ngoan. Toàn bộ
những công đức này đều phát triển đến độ trưởng thành
khiến cho ngài có thể đạt đến thành tích cuối cùng trong
cuộc sống. Trong cuộc sống đó, không có gì có thể hãm
hại hay không có mối hiểm nguy nào có thể tách ngài khỏi
cuộc sống trước khi ngài đạt đến Bậc A-la-hán. Điều
này nhằm khẳng định một câu nói trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada)
cho là người thiền sinh nhằm đạt đến bậc A-la-hán vào
đúng thời điểm thuận tiện trong cuộc sống này không thể
chết trước khi đạt đến thành tựu đó. Ngay cả ngọn núi
Sineru cũng chẳng đè bẹp được người. Đoạn văn được
viết bằng tiếng Pali như sau: Pacchimabhavikasatasssa hi sininerunā
otthaivamānassāpi arahattaṃ appatvā jīvitakkhayo nāma natthi –
(Trích trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) đoạn bốn trang 118.) chính
vì thế từ “Ñāṇavipphara Iddhi” Được mô tả là một
phẩm chất vượt trội hơn hẳn do Tuệ giác tiềm tàng phát
sinh từ các tiền kiếp. Chính vì thế “Khả năng tiềm tàng
tột độ qua Tuệ giác đó trước, đang và sau khi xảy ra tuệ
giác thực sự vậy.
Các
chi tiết viết về Trưởng Lão Bakula cũng được tìm thấy
trong Kinh Bākula(Bākulatthae-raccharriyabbhūta Sutta) và bài chú
giải về kinh này (xin đọc Ma. Upari. 14/255 số. 380) Papañcasūdanī
3/ 597. và Manorathapūraṇī 1/ 330.) Theo tập chú giải, Trưởng
Lão Bākula, hay đôi khi có người gọi ngài là Bakkula được
nhận thọ đại giới ở tuổi 80 và ngài đã đạt đến bậc
A-la-hán chỉ bảy ngày sau lễ xuất gia và qua đời ở tuổi
160. Cách này cách khác ta có thể nói ngài thuộc một số
trong 80 vị A-la-hán được xếp hạng cao nhất. Vì ngài được
ca ngợi là có sức khoẻ tốt nhất, nghĩa là ngài ít khi bị
bệnh. (xin đọc Añga, Eka 20/32 số . 144)
Trưởng
lão Sañkicca
Mẹ
của ngài qua đời khi ngài vẫn còn nằm trong bụng mẹ. Cứ
sự thường thì người ta hiểu rằng ngài cũng phải chết
theo mẹ. Chính vì thế người ta đã đặt xác chết của mẹ
lên dàn thiêu và sửa soạn cho việc hoả táng. Vào lúc người
phụ trách công việc hoả táng lấy chiếc giáo rực đỏ chọc
vào bụng xác chết. Thình lình ngọn giáo đâm trúng vào mắt
đứa bé khiến cho nó la lối đau đớn. Nghe thấy tiếng kêu
của đứa bé, người thực hiện hoả táng mới biết đứa
bé vẫn còn sống. Ông liền lấy xác người mẹ ra khỏi dàn
thiêu và mổ lấy đứa bé ra khỏi bụng mẹ rồi giao cho bà
nội chăm sóc. Cậu bé được bà nuôi dạy khôn lớn cho đến
bảy tuổi, bà liền xếp đặt cho cậu nhỏ lãnh thọ giới
thành thầy Sa-di. Sau này cậu nhỏ đã đạt đến bậc A-la-hán
cùng với Tứ Vô ngại giải đạo (paṭisambhidā). Đó chính
là bài tường thuật ngắn ngủi về cuộc đời Trưởng Lão
Sañkicca được kể lại trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga),
trong đó có giải thích do hiệu quả các công đức trước
kia và ngay trong cuộc sống, ngài không bị hãm hại cho dù
bị thiêu trên dàn hỏa táng hay bị đâm bằng ngọn giáo,
đó chính là vì ngài có được Sức Mạnh Bảo Vệ do tuệ
giác A-la-hán đem lại.
Một
số đề tài liệu dài hơn viết về Trưởng Lão Sañkicca được
tìm thấy trong đoạn bốn Pháp Cú Kinh (Dhammapada) với một
số khác biệt như sau:
Mẹ
của Trưởng Lão là con gái một nhà triệu phú tại thành
phố Sāvatthī. Bà chết khi cậu bé còn nằm trong bụng mẹ.
Đang khi người ta hoả táng bà, toàn bộ thịt các phần thân
thể khác đều cháy hết, chỉ trừ vùng bụng thì không hề
hấn gì, (Tassā Jhāpiyamānāya ṭhapetvā gabbhamaṃsaṃ sesamaṃsaṃ
jhāyi) Thấy vậy người phụ trách nhiệm vụ hoả táng liền
lấy xác khỏi dàn thiêu và lấy ngọn giáo đâm vào phần
không cháy hai ba nhát, và sự việc xảy ra là chiếc giáo đâm
trúng mắt đứa bé, ngay tức khắc người đó lấy đứa bé
ra khỏi bụng mẹ rồi lại vùi vào trong đống than đỏ rực
và bỏ đi. Kết quả là toàn bộ những gì còn lại của người
mẹ đều cháy hết, nhưng đứa bé thì không hề hấn gì.
Giống như vàng trên đống than, như nụ hoa nằm trong cánh
bông sen. Điều lạ lùng này xảy ra là vì con người nào được
tiền định sống từ thời tiền kiếp, không thể bị hại
bằng bất kỳ cách nào, ngay cả khi núi Sineru có sụp đổ
trên đầu người đó, trước khi ngài đạt đến Bậc A-la-hán.
Athassā
gabbhamaṃsaṃ citakā otāretvā dvīsu tīsu ṭhānesu sūlehi vijjhiṃsu.
Sūlakoṭi dārakassa akkhikotiṃ pahari. Evaṃ gabbhamaṃsaṃ vijjhitvā
angārārasimbi. Khipitvā añgāreheva paṭicchādetvā pakkamiṃsu.
Gabbhamaṃsaṃ jhāyi Añgāramatthake pana suṣaṇṇbimbasadiso dārako
padumagabbhanipanno viya ahosi. Pacchimabhavikasattassa hi sinerunā tthariyamānassāpi
arahattaṃ appatvā jūvitakkhayo nāma natthi.)
Người
phụ trách hoả táng trở lại vào ngày hôm sau để dẹp đống
lửa đi. Ông quá đỗi ngạc nhiên khi thấy đứa bé nằm đó
không hề hấn gì “Trời ơi điều gì thế này?” Họ nghĩ
toàn bộ những gì của bà mẹ đều cháy hết, nhưng đứa
bé tại sao lại không hề hấn gì, đâu là nhân duyên của
điều này vậy?” Họ mang đứa bé về nhà và hỏi “Pháp
sư” về điều này. Cậu trả lời họ nhận được là, “Nếu
đứa bé này trở thành một chủ gia thì bảy họ gia đình
của đứa bé sẽ không bao giờ nghèo khổ; nếu kẻ nào nhận
nuôi đứa trẻ vô gia cư này, người đó sau này sẽ có một
đoàn tùy tùng lên tới năm trăm vị Sa môn hỗ trợ trên khắp
mọi nẻo đường cuộc sống” Sau này ngài được đặt tên
cho là ‘Sañkicca’ nghĩa là xuất phát từ chừ ‘Sanku”
có nghĩa là cây chấn song sắt có đầu nhọn hay là một ngọn
giáo hoặc một cái mác.
Thế
là nhiều gia đình đã nhận nuôi cậu bé, họ bảo nhau, “Bất
kể cậu bé sau này có như thế nào đi chăng nữa, khi cậu
bé lớn lên chúng ta sẽ xin cho cậu nhận đại thọ giới
trong tăng già của Trưởng Lão Xá-lợi Phất (Sārīputta.)”
Vào tuổi lên bảy, cậu đã nghe những đứa trẻ khác kể
lại, là khi còn ở trong bụng mẹ cậu, lúc mẹ đã chết
và khi người ta thiêu xác mẹ trên dàn hỏa táng, nhưng cậu
chẳng hề hấn gì. Điều này đã làm tăng thêm tiềm năng
cho cậu và cậu đã quyết khi lớn lên cậu sẽ theo đuổi
cuộc sống vô gia cư. Những người nhận nuôi cậu đồng
ý và họ liền đem cậu đến trình với Xá-lợi Phất (Sārīputta)
Ngài dạy cho cậu năm Kammaṭṭhāna (có nghĩa là chiêm ngưỡng
sự ghê tởm của tóc trên đầu, lông trên người, móng tay,
răng và da thịt) và cậu đã đạt đến bậc A-la-hán cùng
với tứ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidā) ngay khi cậu đang
làm lễ xuống tóc.
Còn
nhiều chi tiết về tiểu sử của Ngài Sañkicca được viết
trong cuốn Pháp Cú Kinh (Dhammapada) chương bốn. Cũng cần lưu
ý một điều là những bài tường thuật trong Pháp Cú Kinh
(Dhammapada) còn ghê gớm hơn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga).
Nhưng có một điều chung là: Đây là lời tuyên bố rõ ràng
về một sự kiện là: Chẳng có hề hấn gì có thể gây nguy
hại cho Sañkicca cho dù những mối nguy hiểm đó trong trường
hợp bình thường có thể giết chết những người khác, nhờ
sức mạnh bảo trợ sau này ngài sẽ đạt đến Bậc A-la-hán.
Ngay trên cõi đời này, những gì ngài phải chịu chỉ là
một vết thương nhẹ do cái lao của người phụ trách hoả
táng gây ra vào góc con mắt của ngài mà thôi.
Cậu
Bé Tên Là Bhūtapāla.
Cậu
bé sinh ra trong một gia đình nghèo khổ tại thành phố Rājagaha.
Một ngày kia cha cậu bé mang cậu đi theo trên chiếc xe bò
vào rừng kiếm củi về bán. Sau khi đã chất củi đầy xe,
hai cha con lên đường về nhà cho tới khi họ vừa tới cổng
thành vào lúc nhá nhem tối. Ngay lúc đó mấy con bò kéo xe
tuột khỏi ách và biến mất vào trong thành phố trước khi
ông bố có thể khống chế nổi chúng. Người cha liền nói
với con trai ngồi chờ trên chiếc xe chất đầy củi, để
ông chạy vào thành đuổi bắt lại mấy con bò, tuy nhiên cổng
thành đã đóng truớc khi người cha có thể trở lại. Trong
tình huống đó ông buộc phải bỏ lại cậu bé một mình
bên ngoài cổng thành. Người ta kể lại rằng cậu bé chẳng
hề hấn gì kể cả đau ốm và bầy quỉ ma thường rong ruổi
khắp nơi trong vùng đó, do cậu bé có sức mạnh thần thông
Ñāṇa vippharā, tức là Sức Mạnh Bảo Trợ Ñāṇa hay là
tiềm năng tuệ giác.
Đây
là bản tường trình ngắn gọn kể về cậu bé. Cũng còn
có nhiều chi tiết cần được nghiên cứu thêm nữa. Nhưng
rất tiếc Trưởng Lão tác giả không cho chúng ta biết tìm
thấy ở đâu những chi tiết này. Theo ý kiến của tôi, bài
tường thuật ngắn ngủi trên không liên can gì tới Sức Mạnh
Bảo Vệ của cậu bé và sức mạnh tuệ giác cũng chẳng mấy
thuyết phục và gây linh cảm là bao nhiêu. Tuy nhiên trong đoạn
thứ bảy Pháp Cú Kinh (Dhammapada) có một câu chuyện viết
về một cậu bé có tên là Dārusākatika – Rất có thể câu
chuyện ám chỉ cậu bé Bhūtapāla kể lại ở trên. Câu chuyện
như sau:
Tại
thành phố Rājagaha, có hai cậu bé, một đứa là con trai của
ông bố Sammādiṭṭhi (nghĩa là Chính Kiến) trong khi đó cậu
bé kia lại là con trại của người cha theo Micchaditthi (nghĩa
la Tà Kiến). Cả hai đứa trẻ đều thích chơi trò thảy súc
xắc với nhau. Trong hai đứa bé, thì cậu nhỏ con trai của
người cha theo chánh kiến, trước khi thảy lục lạp, thường
đặt cho mình một qui luật là nghĩ đến Đức Phật, nói
rằng “Nam mô Phật” có nghĩa là “lạy Đức Phật kính
yêu” cậu nhỏ thứ hai là con của người cha theo tà kiến
lúc nào cũng nghĩ đến Titthiya, có nghĩa là những tên theo
tà đạo. và trước khi thảy lục lạp cậu lại kêu lên “Na-mô
A-la-hán.” có nghĩa là “Lạy các vị A-la-hán.((Từ “A-la-hán”
được sử dụng từ trước thời Đức Phật ám chỉ một
thiền sư rất được dân chúng trọng vọng) Kết quả là
cậu bé con của người cha theo chánh kiến thường thắng cuộc
chơi. Lúc này cậu nhỏ thua cuộc nhận ra điều này và sau
này liền theo gương người bạn của mình. Chính vì thế mà
cả hai đã tích lũy được nhiều niệm tưởng về Đức Phật.
Một
ngày kia, cậu nhỏ có cha theo chánh kiến đã đi theo cha trên
chiếc xe bò vào rừng kiếm củi. Sau khi đã chất củi đầy
xe, người cha liền đánh xe về nhà. Trên đường về hai cha
con đã tới bên ngoài cổng thành gần một nghĩa địa, người
cha liền thả cặp bò ra cho đi ăn cỏ trong vùng đó. Trong
lúc người cha bận bịu sửa soạn bữa ăn cho cả hai cha con,
ông không để ý đến mấy con bò.
Lúc
này mấy con bò được thả rong liền nhập vào đàn bò đang
trên đường về chuồng vào buổi chiều. Lúc đó ông Dārusākatīka-
tên người cha theo chánh kiến. – sau khi đã dùng bữa xong
và muốn lên đường về nhà trong thành phố, ông đi tìm mấy
con bò nhưng không thể tìm thấy. Lần theo dấu chân vào trong
thành phố, cuối cùng thì ông cũng tìm thấy cặp bò và cố
gắng dẫn chúng trở lại chỗ xe củi bỏ lại bên ngoài thành
phố. Nhưng cổng thành đã đóng lại trước khi ông tới nơi.
Như vậy ông phải bỏ lại cậu nhỏ một mình bên ngoài cổng
thành suốt đêm.
Người
ta kể lại rằng tại thành phố Rājagaha cố đầy ma quái,
nghĩa là những kẻ vô hình, đặc biệt là trong vùng gần
nghĩa trang, nơi cậu bé đã bị bỏ lại một mình. Lúc đó
có một ma quái đang theo đuổi tà kiến nhìn thấy cậu bé
liền nói. “Thật là tuyệt, đứa bé này là bữa ăn quá
ngon cho chúng ta đây. Hãy thưởng thức bữa ăn tuyệt với
thịt cậu bé.” Nhưng cũng có cả những chư thiên theo đuổi
chánh kiến có mặt. Họ cố ngăn cản tên kia, bảo hắn không
được làm thế, nhưng tên ma quái xấu xa nhất định không
nghe. Hắn thình lình giật chân đứa bé và lôi cậu bé đi
theo.
Lúc
đó cậu bé đang ngủ ngon giấc, cảm thấy bị kéo chân lôi
đi, tự nhiên cậu kêu lên như vẫn thường làm, nói rằng,
“Nam-mô Phật.” Nghe thấy vậy, ma quái xấu xa hoảng sợ
và biến mất.
Thế
là những chư thiên tốt nói với ma quái xấu xa, “Nhà ngươi
đã làm điều không nên chút nào, nhà ngươi sẽ phải bị
phạt về hành vi này.” Rồi chư thiên tốt đứng trân nhìn
cậu bé, ma quái xấu xa nhìn thấy như vậy, liền đi vào thành
phố và mang lại cho cậu bé một mâm đầy thức ăn chọn
lọc dành cho nhà vua. Cả hai chư thiên đều hành động như
thể họ là cha mẹ của cậu bé. Họ đã đánh thức cậu
bé dậy và cho cậu dùng bữa. Sau đó họ còn ghi một câu
trên chiếc khay đựng đồ ăn, kể lại bằng cách nào và
tại sao họ lại lấy cắp chiếc khay của nhà vua khỏi hoàng
cung. Rồi họ quyết tâm muốn cho nhà vua nhìn thấy đoạn
ghi trên đó. Sau khi cậu bé đã ăn bữa xong và lăn ra ngủ,
thế là cả hai liền biến mất.
Có
một cuộc bạo loạn xảy ra vào buổi sáng ngày hôm sau, khi
sự việc được khám phá ra là chiếc khay đựng đồ ăn cho
nhà vua đã bị kẻ trộm đánh cắp. Toàn bộ cổng thành được
lệnh đóng lại, trong khi đó quân lính đi sục sạo tất cả
các nhà trong thành phố. Sự việc không đem lại kết quả
gì, họ tiếp tục đi lục soát bên ngoài thành phố và cuối
cùng họ đã tìm thấy chiếc khay vàng trên chiếc xe củi của
hai cha con Dārusākaṭika . Đứa bé bị bắt và bị kết án
đánh cắp chiếc khay của nhà vua và bị điệu tới nhà vua,
nhìn thấy dòng chữ ghi trên chiếc khay nói rằng,” có điều
gì thế con trai của ta.”
“Tâu
bệ hạ, thần chẳng hay biết gì hết. thần chỉ biết có
một điều là đêm hôm qua cha mẹ thần đem lại cho thần
một chút đồ ăn và đứng canh cho thần ăn. Chính vì thế
mà thần không chút sợ hãi gì cả, rồi sau đó thần lại
ngủ thiếp đi, đây là tòan bộ những gì thần biết, thưa
hoàng thượng.”
Cha
mẹ của cậu bé lúc này cũng được điệu vào hoàng cung.
Sau khi nghe thấy sự việc xảy ra, Nhà vua liền dẫn cậu bé
cùng với cha mẹ đến đến gặp Đức Phật. Cậu bé kể
lại toàn bộ sự việc cho Đức Phật nghe nói rằng. “Có
phải chỉ có một điều duy nhất, là niệm tưởng tới Đức
Phật có thể đem lại sức bảo vệ cho ta không? hay niệm
tưởng đến Giáo pháp và tăng già cũng có thể đem lại sức
bảo vệ cho trẫm?” Để trả lời câu hỏi của nhà vua,
Đức Phật liền đáp lại, nói rằng:
“Không
chỉ có thế, tâu bệ hạ. Một thiền sinh có được tâm luyện
tập đến nơi đến chốn, dựa trên sáu điều căn bản sẽ
không cần đến sức mạnh bảo vệ nào khác nữa cho chính
mình, người đó chẳng cần đến bất kỳ kinh kệ nào, hay
thuốc men làm chi.” (Mahārājja na kevalaṃ Buddhānussatiyeva rakkhā,
yesaṃ pana chabbihena cittaṃ subhavitaṃ, tesaṃ aññena rakkhāvaraṇeva
vā mantosadhehi vā kiccaṃ natthi) sáu điều cơ bản đó là:
“Suppabuddhaṃ
pabujjhanti
Sadā
gotamasāvakā
Yesaṃ
divā ca ratto ca
Niccaṃ
Buddhagatā Sati.
Suppabuddhaṃ
pabujjhanti
Sadā
gotamasavaka
Yeaṃdivā
ca ratto ca
Niccaṃ
Dhammagatā Sati.
Suppabuddhaṃ
pabujjhanti
Sadā
gotamasāvakā
Yesaṃ
divā ca ratto ca
Niccaṃ
Sañghagatā Sati.
Suppabuddhā
pabujjhanti
Sadā
gotamasāvakā
Yesaṃ
divā ca ratto ca
Niccaṃ
kāyagatā sati
Suppabuddhaṃ
pabujjhanti
Sadā
gotamasāvakā
Yesaṃ
divā ca ratto ca
Ahiṃsāya
rato mana
Suppabuddhaṃ
pabujjhanti
Sadā
gotamasāvakā
Yesaṃ
divā ca ratto ca
Bhāvanāya
rato mano.”
Các
đồ đệ của Đức Cồ Đàm (Gotama) được giác ngộ toàn
diện, với tâm lúc nào cũng chăm chú đêm ngày vào:
1.
Niệm tưởng về Đức Phật
2.
Niệm tưởng về Giáo Pháp
3.
Niệm tưởng về Tăng già
4.
Niệm tưởng về Thân xác
5.
Không làm hại đến chúng sanh và
6.
Tu luyện thiền chỉ và tâm .
Giải
thích: Theo các tập chú giải. Từ “Suppabuddham pabujjhanti:
có nghĩa là được giác ngộ kỹ càng.’ Ám chỉ sự kiện
cho là một thiền sinh niệm tưởng đến các việc ân đức
của Đức Phật trước khi đi ngủ sẽ tỉnh dậy khoẻ mạnh
(có nghĩa là được bồi bổ tươi tỉnh) (Buddhagataṃ satiṃ
gahetvā supantāyeva pabujjhantā suppabuddhaṃ pabujjhanṭi nāma)
Đoạn này có ý nghĩa tương tự như những lời Đức Phật
dạy liên quan đến những lợi ích của việc tu luyện Mettā
, có nghĩa là lòng từ tâm. Từ đó phát sinh ra mười một
điều như là Sukham supati: ngủ ngon. Sukham patbujjhati:thức dạy
khỏe khoắn và Na pāpakṃ supinam passati: không bị ác mộng.v.v.
Một
điều cần chú ý là những lời giảng dạy của Đức Phật
được đề cập đến ở trên không công bố rõ ràng về
niệm tưởng đến những đề mục như vậy như về Đức
Phật có đem lại sự hỗ trợ chống lại những nguy hiểm
cho thiền sinh. Những điều được nói đến trong đó chỉ
là hiện thực là những suy tưởng như vậy có thể đem lại
những điều kiện để được “Giác Ngộ Toàn Diện” điều
đó ám chỉ những việc như ngủ ngon và tỉnh tảo khoẻ khoắn
có nghĩa là được tỉnh táo và sung sướng.
Điều
Trưởng Lão tác giả cuốn Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) kể
về cậu bé Bhūtapāla như là một ví dụ điển hình cho những
ai được bảo vệ do tuệ giác tiềm năng hiện tại ở sự
kiện được nhắc đến trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) so với
hiệu quả sau khi cậu nhỏ và cha mẹ của cậu đã nghe bài
thuyết pháp của Đức Phật thì tất cả họ đã đạt đến
Quả Nhập Lưu. Sau này họ đã được ban thọ đại giới
và đạt đến bậc A-la-hán. Điều này xảy ra là do tiềm
năng đạt đến bậc A-la-hán của họ. Chính vì thế mà họ
đã vượt qua mọi khó khăn và nguy hiểm một cách an toàn.
Chính vì thế đây là một ví dụ về điều được gọi là
Ñāṇavipphārā Iddhi: có nghĩa là phép lạ (thần thông) đạt
được thông qua sức mạnh bảo vệ nhờ tuệ giác tiềm năng.
Samādhivipphārā
Iddhi: (Phép lạ (thần thông) nhờ sức mạnh bảo vệ do thiền
định đem lại). Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) điều này
là kết quả tuyệt vời nhất là kết quả Samatha (thiền chỉ)
đem lại, nghĩa là an bình nội tâm có được trước, đang
khi và ngay cả sau thời gian rút vào nhập thiền.
Từ
lời giải thích nêu trên, thiền sinh đã đạt được thiền
ở mức độ cao nhất với năm pháp thuần thục luôn được
bảo vệ do sức mạnh thiền định mà ra. Điều này có nghĩa
l không những trong giai đoạn thiền sinh đó trú nhập ở hiện
trạng cao nhất, nhưng còn trước và sau giai đoạn đó nữa.
Điều này có thể thấy nơi trường hợp thầy Sa-di Sañkicca
là người đã được bảo vệ bằng chính sức mạnh này ngay
từ thời ngài vẫn còn ở trong bụng mẹ. Trưởng Lão Bākula
cũng được bảo vệ đang khi ngài bị con cá to nuốt trọng
và nằm ở trong bụng cá trong một khoảng thời gian tương
đối lâu. Cả hai đã được bảo vệ giống như thế là nhờ
vào tiềm năng đạt đến bậc A-la-hán của hai người, cho
dù họ chưa đạt đến bậc A-la-hán vào thời điểm đó.
Sức mạnh bảo vệ đó cũng giống hệt như vậy trong trường
hợp hành thiền. Đối với những ai đã đạt đến tình trạng
thiền ở mức độ đó, luôn có một cây dù bảo vệ che chở
cho họ trong suốt thời gian dài, cả trước và sau giai đoạn
họ rút vào tình trạng sảng khoái tâm cao độ đó. Đoạn
văn viết bằng tiếng Pali duới đây được trích trong Thanh
Tịnh Đạo (Visuddhimagga):”Samādhito pubbe vā pacchā vā tañkhaṇe
va satthānubhāvanibbatto viseso samādhivippharā Idḍhi (2/209) và
nơi cả hiện trạng kể trên có nghĩa là:Ñāṇa ppavatiti pana
pubbe vā pacchā vā tañkhaṇe va ñāṇanubhavanibbatto viseso ñāṇavippha-ra
Iddhi nāma (2/208).
Nhờ
Trưởng Lão tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) còn nhiều
trích đoạn được liệt kê ra từ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga)
như sau: từ ‘Iddhi’ có nghĩa là thành công (từ này có ý
nghĩa tương đương với từ Jhana). Như vậy một thiền sinh
đã loại bỏ được hết năm triền cái nhờ đạt đến được
thiền Jhana bậc nhất cũng có thể được cho là đã đạt
đến Samādhivipphārā Iddhi (Paṭhamajjhānena nīvaraṇānaṃ pahānattho
ijjhatīti samādhivipphārā Iddhi) không kể đến việc đạt đến
những thứ bậc cao hơn từ hành thiền Jhana bậc hai đến
bậc bốn có nghĩa là đạt đến hiện trạng phi tưởng phi
phi tưởng (Nether-Perception-Nor.Non.Perception) như trong trường
hợp của Trưởng lão Sārīputta) Trưởng lão Khāṇukondañña,
cận sự nữ (upasikas) Uttarā và cận sự nữ (upasikas) Samāvatī
(Khu. Pa. 31/598)
Những
đoạn trên trích từ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga)
cho thấy từ ‘Iddhi’ không nhất thiết phải có nghĩa là
thực hiện những phép lạ (thần thông) như ta thường hiểu.
Những ví dụ điển hình nơi các thiền sinh hay các vị thánh
đệ tử đã đề cập đến ở trên, cho ta thấy như sau:
Trưởng
Lão Xá-lợi Phất (Sārīputta.):
Vào
thời Trưởng Lão Sārīputta đang lưu lại tại Kapotakandara
(hẻm núi bồ câu) cùng với Trưởng Lão Moggallāna chỉ ngay
sau khi ngài xuống tóc, ngài đã ngồi thiền dưới ánh trăng
tại một nơi trống trải. Lúc đó có Dạ-xoa (yakkha) hay quỉ
dữ che dù đã bị người bạn ngăn cản, và hắn đã đánh
một đòn chí tử lên đầu vị Trưởng Lão. Cú đánh đó
tạo ra một tiếng động vang như tiếng sấm. Nhưng lúc đó
vị Trưởng Lão đang nhập thiền diệt ở mức độ thiền
chứng(samāpatti) và chính vì thế ngài đã quên mất sự va
đập và tiếng động đó. Đây chính là sức mạnh bảo vệ
do thiền Định đem lại có nghĩa là do phép lạ thiền định
Samādhivipphārā Iddhi của Trưỏng Lão mà ra.
Đây
là một bài tường trình ngắn ngủi kể lại trong Thanh Tịnh
Đạo (Visuddhimagga). Nhiều chi tiết hơn có thể được thấy
trong Phật Tự Thuyết (Udāna) (Khu. U. 25/131 số 93) như sau:
Đã
có thời Đức Thế Tôn đang lưu lại tại Kalandakanivāpa trong
Khu Rừng Trúc, gần thành phố Rājagaha. Chính trong thời gian
này ngay sau khi xuống tóc đi tu, ngài Trưởng Lão Xá-Lợi Phất
(Sārīputta) đã rút vào hành thiền giữa một khoảng không
gian mát mẻ vào giữa đêm trăng.
Ngay
lúc đó có hai Dạ-xoa (yakkha), có nghĩa là ma quái đang di chuyển
từ Bắc sang Đông làm công chuyện. Nhìn thấy Vị Trưởng
Lão ngồi thiền giữa khoảng không như thế, một trong hai
Dạ-xoa (yakkha) nói cùng bạn của mình, “Nhìn kìa, ông bạn,
ta sẽ giáng cho tên Sa môn kia một cú táng vào đầu” tên
bạn Dạ xoa kia hết mực ngăn cản không nên làm thế, nói
rằng, “đừng có làm điều đó làm chi, ông bạn ơi, vị
Sa môn đó hết sức nhân đức, rất hùng mạnh và vô cùng
phi thường đó.” Đã ba lần tên Dạ xoa thứ hai này thuyết
phục bạn mình không được làm thế, nhưng tên đó nhất
định không nghe và đã giáng một đòn sấm sét lên đầu
ngài Trưởng Lão. Cú đánh mạnh đến nỗi có thể hạ một
con voi mạnh mẽ cao bốn thước hay có thể nghiền nát cả
một ngọn núi thành mảnh vụn. Sau khi làm điều đó, tên
Dạ xoa tự nhiên cảm thấy nóng như thiêu như đốt trong người,
và sức nóng đó dã dẫn hắn xuống cõi khổ ngay từ giây
phút đó.
Trưởng
Lão Moggallāna qua Thiên Nhãn vượt hơn hẳn con mắt chúng sanh
bình thường, đã quan sát thấy điều gì đã xảy ra. liền
tiến lại gần Trưởng Lão Xá-Lợi Phất (Sārīputta) và hỏi
ngài, nói rằng, “Hỡi Bạn thân Xá-Lợi Phất (Sārīputta),
ngài không thể chịu nổi cú táng đó có phải không? Liệu
ngài còn thể giữ cho thân xác đó tiếp tục sống được
không? có đau đớn gì xẩy đến cho ngài không? Trưởng Lão
trả lời, “Tôi có thể chịu đựng nổi mà, hỡi bạn hiền
Moggallāna , tôi vẫn giữ thân xác tiếp tục sống được;
chỉ có vài cọng tóc của tôi đau đớn chút đỉnh mà thôi.”
Trưởng
Lão Moggallāna lên tiếng, “Thật là tuyệt vời, chưa bao giờ
xảy ra những điều như vậy từ xưa đến giờ. Ôi ngài Xá-Lợi
Phất (Sārīputta) quá khoẻ mạnh và mãnh liệt. Một Dạ xoa
đã giáng một cú táng mạnh mẽ đến như vậy lên đầu ngài.
Thực vậy cú táng đó có thể nhận chìm cả một con voi cao
bốn mét lọt sâu xuống lòng đất hay có thể nghiền nát
cả một ngọn núi cao. Tuy nhiên, người bạn Xá-Lợi Phất
(Sārīputta) đ nĩi l vẫn có thể chịu đựng nổi, là vẫn
còn sống được và chỉ có một vài cọng tóc trên đầu
là đau đôi chút mà thôi.
Chính
vì thế Trưởng Lão Sārīputta liền nói, “Ôi thật tuyệt
vời điều đó chưa bao giờ xảy ra xưa nay. Ôi bạn Moggallāna
thật quá khoẻ và mãnh liệt đến cỡ nào, chính ngài đã
chứng kiến tận mắt ma vương. Còn tôi, tôi không thể nhìn
thấy (ngay cả loại ma quái hạng thấp đến như vậy) một
loại quỉ quái chơi giỡn với cát bụi như vậy ngay lúc này.
Đức
Thế Tôn, sau khi nghe cả hai vị Trưởng Lão đàm đạo với
qua phép thiên nhĩ thông cảm vượt khỏi mọi khả năng của
tai người thường có thể nghe được, liền thốt lên những
lời kinh ngạc sau đây:
“Yassa
selupamaṃ cittaṃ
Ṭhitaṃ
nūnupakampati
Virattaṃ
rajantesu kopaneyye na kuppati.
Yassevaṃ
bhāvitaṃ cittaṃ
Kuto
taṃ dukkhamessati
“Do
đâu mà khổ lại xuất hiện nơi một người có tâm được
bình thản, được an toàn giống như ngọn núi vững chắc
không lay chuyển trước sân hận do những ảnh hưởng sân
hận nổi lên và không lay động trước lòng tham dục do những
ảnh hưởng tham dục tạo ra.”
Rất
có thể sẽ có một vài điểm hoài nghi trong bài tường thuật
nêu trên, đặc biệt là những đoạn khẳng định Trưởng
Lão Xá-Lợi Phất (Sārīputta) không thể thấy ma quỉ đã đánh
lên đầu ngài hay yêu quái đầy nhan nhản trong khu vực đó
đang đùa giỡn với bụi bậm. Cho dù sự kiện ngài có được
sức mạnh thiên nhãn này là điều hết sức quen thuộc. Tập
Chú Giải Phật Tự Thuyết (Udāna) còn đưa ra lời giải thích
như sau, cho là dù có xảy ra điều đó là vì ngài đang trú
nhập thiền Jhana rất sâu đậm, nên không muốn nhìn xem hay
biết bất kỳ điều gì đang xảy ra chung quanh. Nhưng Trưởng
Lão Moggallāna , lại không say đắm nơi hiện trạng sung sướng
cao ngất đến như vậy, chính vì thế ngài đã có thể biết
và nhìn thấy những gì đang diễn ra xung quanh vào thời điểm
đó. (Tesu Mahāmoggallāno tuṇhī nisīdi. Āyasmā pana Sarīputto
āyasmā samāpajji – tập chú giải Phật Tự Thuyết (Udāna)
trang 308). Ta còn thấy nhắc đến nhiều hơn trong tập Chú
Giải cho là hiện trạng Trưởng Lão Xá-Lợi Phất (Sārīputta)
đã rút vào nhập thiền Jhana chính là thiền chứng (samāpatti)
gọi là Upekkha-Brahmavihāra xã phạm trú. Tuy nhiên, có một
số soạn giả cho là hiện tượng đó chính là Saññāvadayuitanirodha,
có nghĩa là biệt thọ và tưởng. Nhưng cũng có một số soạn
giả đưa ra ý kiến chúng ta gọi điều đó là Phalasamāpatti
(thiền Quả) dựa trên Thiền Jhana Vô Sắc Giới (formless Absortion)
trên cơ sở điều này chỉ căn cứ trên ba vô sắc giới này
mà thân xác có thể hoàn toàn được bảo bệ khỏi mọi điều
hãm hại và hiểm nguy.
Trưởng
Lão Sañjiva.
Đang
khi ngài Trưởng Lão còn ngồi nhập thiền diệt thọ tưởng
(Nirodhasamāpatti). Một số người chăn bò cứ tưởng người
đã chết, liền chất đống cỏ khô và củi cùng với phân
bò lên người và rồi nổi lửa đốt để có thể hoả táng
xác của người. Nhưng hóa ra ngay cả một sợi vải y cà sa
của ngài cũng không bị ngọn lửa thiêu rụi (đừng nói gì
đến thân xác của ngài) đây lại là một trường hợp khác
nữa về Samādhivipphāra Iddhi tức là Sức Mạnh Bảo Vệ Do
Thiền Định đem lại như là kết quả của thiền chỉ (Samatha)
đem lại thông qua sức mạnh thiền chứng liên tục (samāpatti)
hay miệt mài thiền sâu rộng.
Đây
là một bài tường thuật ngắn về Trưởng Lão Sañjīva trích
trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) để minh hoạ một sự kiện
làm thế nào một sức mạnh như vậy có thể tạo ra áo giáp
bảo vệ cho ngài. Chi tiết này cũng được nhắc đến với
nhiều chi tiết hơn được tìm thấy trong Kinh Māratajjanīya
trong tác phẩm Mūlapaṇṇāsaka thuộc Trung bộ Kinh (16/602 số
559. chuyện kể được ghi lại như sau:
Đã
có thời Trưởng Lão Sañjīva đang rút vào nhập thiền Saññāvedayitanirodha
(Diệt thọ tưởng) dưới bóng cây cổ thụ, có một đám
người chăn bò, chăn chiên, chăn cừu, những dân cày ruộng
và những người du hành, nhìn thấy người ngồi ở đó cứ
tưởng là người đã chết. Họ kháo nhau. “Ôi các bạn ơi,
thật kỳ lạ, vị sa môn này đã chết. chúng ta hãy hỏa táng
ngài đi.” Rồi họ gom một ít rác, củi khô và cả phân
bò chất đống lên người vị Trưởng Lão và nổi lửa đốt.
Vào buổi sáng, vị trưởng lão xuất thiền (samāpatti, hay
là thiền chứng) rũ bụi y cà sa, mặc lại và cầm bát khất
thực rồi đi vào ngôi làng kế bên để xin khất thực.
Lúc
này những người dân đã hoả táng người, nhìn thấy liền
lên tiếng nói với nhau. “Thật là tuyệt vời, các bạn ơi,
vị sa môn này đã chết đang khi hành thiền ở đó, lại sống
lại, hiện đang sống động trước mắt chúng ta.(nghĩa đen,
nhưng lúc này, ngài nhập tâm) “Chính do lời kinh ngạc này
mà ngài được đặt tên là Sañjīva (có nghĩa là người trở
lại từ cõi chết)
Chuyện
kể trên do ngài Trưởng Lão Moggallāna kể lại, nhưng lại
không diễn ra dưới thời Đức Phật còn sống. Người ta
kể lại rằng sự kiện này đã diễn ra trong quá khứ, dưới
thời Đức phật tên là Kakusandha. Câu chuyện được kể lại
trong Kinh Pali như sau:
Có
một lần kia Đức Thế Tôn đang lưu lại tại Khu Rừng Migadāya.
Trong vùng Bhesa-kalavana, thuộc thị trấn Suṃsumārragṅra, bang
Bhagga. Trưởng Lão Moggallāna lúc đó đang bận bịu hành thiền
bách bộ nơi một cánh đồng rộng. Ngay lúc đó Ma-vương (Māra)
kẻ độc ác lén thâm nhập vào bụng ngài. Vị Trưởng Lão
cảm thấy có điều gì đó quá nặng, giống như một hòn
đá hay một cái chảo chứa đầy đỗ trong đó lại nằm ngay
trong bụng ngài. Ngài liền đi vào thiền viện và ngồi xuống
suy tưởng nhập tuệ giác về điều đang xảy ra nơi ngài.
Rồi ngài nhìn thấy Ma-vương (Māra) kẻ xấu bên trong đó.
Ngài liền ra lệnh cho Ma-vương (Māra) xuất ra khỏi ngài không
được làm hại cho Đức Phật và các vị đồ đệ của ngài.
Vì làm vậy sẽ chẳng đem lại lợi ích gì cả, nhưng lại
có thể đem lại một thời gian dài đau khổ cho chính Ma-vương
(Māra).
Nhưng
Ma-vương (Māra) kẻ xấu, nghĩ vị Trưởng Lo không thể nhìn
thấy nó, liền suy nghĩ thêm rằng chính vì sa môn đã là đạo
sư lâu năm mà không nhìn thấy nó, huống hồ chi người đồ
đệ này dứt khoát sẽ không thể nhìn thấy được (Yopissa
so satthā sopi maṃ neva khippaṃ janeyya kuto ca pana ayaṃ sāvako
jānissati).
Vị
Trưởng Lão tiếp tục nói hậu quả sẽ vô cùng tai hại nếu
như ma-vương (Māra) cứ tiếp tục ẩn mình như thế, rất
có thể ngài sẽ biết được điều đó. Lúc này ma-vương
(Māra) biết được nó không thể lừa gạt vị Trưởng Lão
được nữa liền xuất ra khỏi miệng Trưởng Lão và đứng
kế gần ngay cửa ra vào.
Trưởng
lão Moggallāna nhìn thấy điều đó đã cảnh cáo nó đừng
có nghĩ là người đã không nhìn thấy. Rồi ngài nói với
kẻ xấu câu chuyện trong quá khứ như dưới đây:
Vào
thời xa xưa tôi thường là một kẻ xấu có tên là Dūsī.
Cùng với người em gái tên là Kālī. Nhà ngươi là con trai
em gái ta, và chính vì thế nhà ngươi l