Dẫn
Nhập :
Hòa
thượng Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Cư sĩ Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, Văn Phòng
II, tức Thầy Tín Nghĩa, sau khi đọc bài tưởng niệm cố
Đại Cư Sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng qua bài Không Thời
Nhất Phiến/Hố Thẳm Tư Tưởng, yêu cầu tôi, dưới hình
thức giai thoại kể lại những kỹ niệm xa xưa cách đây
trên nửa thế kỷ về các Đấng Đại Tăng, những bậc Đại
lão Hòa thượng ở Huế. Mặc dầu đa đoan công việc tôi
vâng lời Thầy (điện thoại réo đòi nợ bài trung bình vài
ba ngày một lần. Lý do : cần có bản thảo cuối tháng 5,
để giao đạo hữu đi Đài Loan thuê in Kỷ Yếu Tổng Vụ
được rẽ tiền). Thú thật với quí vị, trải qua 75 năm
pháp nạn và quốc nạn, tôi nay đã trên tám mươi, lại mắc
nhiều bệnh nan y, tài hèn sức mọn, nhớ trước quên sau,
nhưng cố gắng noi gương các Ngài xưa, tìm phương pháp diễn
đạt vui vui bằng giai thoại - (đạo Phật là đạo thoát khổ
không bao giờ buồn cả) - ngõ hầu tìm một lối thoát đạo
đức cho cơn khủng hoảng trầm trọng hậu Cộng sản nay mai,
một chế độ đọa đày văn hóa dân tộc ngót ba phần tư
thế kỷ, làm mất hết tình người, tiêu diệt đức tính
vô úy của kẻ sĩ.
Giai
thoại này cốt ý gửi cho các cư sĩ trẻ tuổi trong Tổng
vụ Cư sĩ , Tổng vụ Thanh niên và Gia đình Phật tử Việt
Nam, muốn biết về đời sống hành đạo của một số cao
Tăng rường cột của phong trào Chấn hưng Phật Giáo trong
giai đọan Đất nước Chia đôi 1954-1975.
Hình
Hoà thượng Trúc Lâm (Thích Mật Hiển)
Đảnh
Lễ :
Trước
khi nhắc lại giai thoại sau đây mà Hòa thượng Minh Châu lớn
hơn tôi 6 tuổi, vẫn còn tại thế để làm chứng ; đệ
tử Tâm Tràng xin đê đầu đảnh lễ giác linh chư tôn đức
tha thứ cho những vụng về hay thiếu sót vì bây giờ đệ
tử không thấy có chuyện xa cách trong không gian và thời gian
gì cả. Lý do : đệ tử năm nay trên tám mươi, tuổi
của chư tôn đức cách đây gần nửa thế kỷ.
Giai
thoại đón tiếp chư Cao Tăng Xứ Huế :
Nguyên
vào đầu thập niên 70, nhân một khóa họp của Viện Hóa
Đạo Giáo Hội VNTN, tôi được Hòa thượng Thích Minh Châu,
đệ tử đương kim Đệ Nhất Tăng thống (Ngài Tịnh Khiết
chùa Tường Vân Huế), dạy chuẩn bị thay mặt Hòa Thượng,
lo tổ chưc đón tiếp Năm vị Trưởng Lão Hòa Thượng tại
văn phòng của Viện Trưởng từ 1 giờ đến 2 giờ trưa.
Lý
do thứ nhất : Năm vị Đại Lão đang chứng minh đạo
sư cho một khóa họp quan trọng ở Viện Hóa Đạo, nay muốn
hàn huyên thân mật với nhau ở một chốn yên lặng ngay trung
tâm Sài Gòn. Các Ngài lựa Đại Học Vạn Hạnh.
Lý
do thứ hai : Văn phòng Viện Trưởng ăn thông phòng khách
6 chỗ ngồi có máy lạnh (4 ghế bành không nệm và một ghế
dài) là nơi lý tưởng mà Hòa thượng Tịnh Khiết biết rõ.
Lý
do thứ ba : Các Ngài lâu ngày không có thì giờ để cùng
nhau gặp gỡ tại xứ Thừa Thiên - Huế, tuy chùa các Ngài
chỉ cách nhau chỉ dăm ba cây số, kể cả chùa Châu Lâm ở
phía sau đồn Công Binh dốc Nam Giao, đường vào khó khăn quanh
co ẩn dật.
Các
Ngài đều thuộc thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ
42 phái Liễu Quán ngoại trừ Ngài Châu Lâm thuộc đời 43,
đệ tử Ngài Tịnh Hạnh, bào huynh Ngài Tịnh Khiết.
Được
vinh dự hy hữu đứng ở một góc phòng, chấp tay hầu chuyện
một giờ với các bậc Cao Tăng đạo hạnh nhất miền Trung
xứ Huế là phần thưởng rất quý giá cho đời một Phât
tử trẻ, cư sĩ non trên 40 như tôi. Với nghiệp hề, tôi lo
không biết ăn nói thế nào cho “ăn khách” mặc dầu tôi
là một cư sĩ Lâm Tế đời thứ 43 gốc Huế chánh hiệu,
Pháp danh Tâm Tràng có giọng nói các mệ. Thời ấy quý Ngài
đều trên 80 tuổi, có 2 vị trên 90 là Ngài Giác Nguyên (chùa
Tây Thiên) và Giác Nhiên (chùa Thuyền Tôn).
Thật
ra tôi đâu phải đại diện chính thức cho Viện Đại Học
đứng ra tiếp tân mà chỉ trên thực tế, đứng hầu nước
pha trà và đóng vai thị giả lắng nghe những lời chỉ dạy
để thi hành. Tôi còn nhớ một hôm đến viếng thăm sức
khỏe Hòa thượng Tịnh Khiết tạm trú tại Đại Học,
tôi chưa kịp mở miệng thì Ngài cười hỏi ngay tôi một
câu rất tâm lý vì biết tính tôi vui :
“Ông
đóng trò hề gì đó ?”
Câu
trả lời có sẵn trong câu hỏi, tôi thưa ngay :
“Dạ
đệ tử đâu có đóng trò, vì đó là nghiệp bổn sinh mà,
thưa Hòa thượng”.
Thật
vậy trong các đại hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất ở hải ngoại, mỗi khi thảo luận căng thẳng
là tôi góp ý hề đúng chỗ thay đổi không khí nhẹ nhàng
và được chư tôn đức Tăng Ni hoan hỉ. Chư tôn đức hải
ngoại biết chuyện này.
Đúng
12 giờ thì tôi pha trà nước sôi đã sẵn trong hai bình thủy
và một ấm nước đun sôi phòng hờ ; một nhân viên
văn phòng xuống tầng một chờ chư Tăng lần lượt đến
để lên gọi tôi xuống gấp. Xuống đón xe các Ngài
là chuyện rất dễ, vì đứng trên cao nhìn xuống thấy rõ
xe các Ngài đến từ ngoài cổng đại học, Thời ấy xe hơi
rất ít, không có nạn kẹt xe, giao thông ứ đọng nên các
Ngài đến và đi rất đúng giờ không có chuyện giờ giấc
cao su như ngày nay.
Chúng
tôi chỉ cần đón xe ba vị thôi còn Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết bổn sư của Hòa thượng Minh Châu ở ngay Đại Học
và Hòa thượng Thích Giác Hạnh (thường gọi là Ôn Vạn Phước)
cũng trú ngụ ngay tại viện vì chùa Vạn Phước tọa lạc
tại số 55 đường Sư Tuệ Tĩnh, quận 11 quá xa Viện Hóa
Đạo. Những Cao Tăng như Ngài Mật Nguyện, hay Cụ Cao Hữu
Đính v.. v... , cũng thường ngụ ở đây mỗi khi đến Sài
Gòn.
Lúc
12 giờ 30 Ngài Tịnh Khiết vì sức yếu được dìu vào Văn
phòng Viện trưởng trước tiên, sau đó vài phút Ngài Vạn
Phước bước theo vào. Tôi chấp tay đảnh lễ trong yên lặng
rồi lo pha trà. Hai Ngài thong thả an vị một cách tự nhiên,
không đối diện mà ngồi cách nhau, tay lần chuổi hột. Tôi
đoán rằng hai Ngài đã gặp nhau hàn huyên tâm sự nhiều trước
đó nên không buồn nói thêm. Ngài Vạn Phước thì mập trắng,
dung mạo đẹp đẽ, khoan thai, phong lưu đài các, cái gì nơi
Ngài cũng tròn trịa, dịu dàng cả. Ngài Tịnh Khiết thì cao
gầy, dáng người đẹp lão, đạo mạo uy nghi, cái gì nơi
Ngài cũng ngay thẳng, khẳng khiu hết.
Đúng
một giờ tôi xuống lầu, lần lượt mời đón chư Hòa thượng
Thích Giác Nhiên, Thích Giác Nguyên và Thích Viên Quang (Ôn Châu
Lâm). Tuy tuổi hạc cao hơn Ngài Tịnh Khiết 12 năm, Hòa thượng
Giác Nhiên bước lên lầu nhẹ nhàng khỏi nương tựa vào
ai. Hòa thượng Giác Nguyên còn lớn tuổi hơn Hòa thượng
Giác Nhiên nhưng nhờ nhỏ người, dung mạo như bà già nên
đi đứng xem ra còn mạnh lắm. Ngài Tây Thiên là vị cao tăng
thấp nhỏ nhất Việt Nam có nuôi con heo thật lớn to gần
bằng con trâu. Vị cuối cùng là Ngài Châu Lâm, pháp sư cao
lớn, cốt cách oai phong, đi đứng oai nghi. Cả ba vị tay lần
tràng hạt niệm Phật cho đến khi vào an tọa trong phòng khách.
*.
Được biết Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết (Ôn Tường Vân)
: Trụ thế 83 tuổi (1890 - 1973) xuất gia tại chùa Tường
Vân lúc 15 tuổi, thọ giáo với Đại lão Hòa thượng Thanh
Thái đời 41 Lâm Tế, và đắc pháp với Bổn sư năm 19 tuổi
rưởi, Pháp danh Trừng Thông, Đạo hiệu Tịnh Khiết. Ngày
06-05-1951 Ngài được suy tôn Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo
Việt Nam. Đến ngày 07-09-1952, Ngài được bầu làm chủ tọa
Đại Hội Phật Giáo Tăng Già toàn quốc họp tại chùa Quán
Sứ, Hà Nội. Năm 74 tuổi (1964), Đại hội Phật giáo Việt
Nam suy tôn Ngài lên ngôi vị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất. Ngài lãnh đạo về mặt giáo hạnh trong
phong trào Chấn hưng Phật Giáo trong giai đọan Đất Nước
Chia Đôi 1954 - 1975. Đứng mũi chịu sào Ngài lái con Thuyền
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vượt qua sóng gió từ Hiệp
Định Geneva (1954) cho đến hiệp định Paris (1973). Ngài đã
an tường xả bỏ báo thân ngày 25-02-1973, trụ thế 83 năm.
*.
Được biết Ngài Thích Giác Hạnh (Ôn Vạn Phước) :
thọ 101 tuổi, được Tổ Tâm Tịnh đời 41 Lâm Tế quí trọng,
xem như đệ tử ruột, ban cho đạo hiệu là Giác Hạnh với
tư cách Y chỉ sư . Ngài có công trùng tu kiêm trú trì chùa
Vạn Phước - Di Đà nay là Tổ Đình Vạn Phước ở Huế.
Năm 1966 ông bà Đoàn Văn Hưởng hiến cúng cho Ngài Giác Hạnh
chùa Tuệ Quang tọa lạc tại số 55 đường Sư Tuệ Tĩnh,
quận 11, Sài Gòn. Năm 1967, Ngài Giác Hạnh cử đệ tử là
Ngài Tâm Hướng vào trụ trì chùa Tuệ Quang và năm sau, đổi
tên thành chùa Vạn Phước (chi nhánh Tổ Đình Vạn Phước
ở Huế). Ngài Tâm Hướng đại trùng tu xây tam quan, lầu chuông
trống, linh đường và thiền đường. Điện Phật được
bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng cổ bằng gỗ
phủ sơn. Chùa thường xuyên tiếp đón nhiều Phật tử, du
khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái. Chùa là cơ sở hoạt
động xã hội và y tế nổi tiếng của Phật giáo thành phố
ngày nay. Về mặt vận động xây dựng và kiến thiết trùng
tu Tự viện Tổ đình, Ngài Giác Hạnh tức Vạn Phước xứng
đáng là cự phách trong phong trào Chấn hưng Phật Giáo trong
giai đọan Đất Nước Chia Đôi 1954 - 1975.
*.
Được biết Hòa Thượng Thích Giác Nhiên (Ôn Thuyền Tôn)
: Thọ 102 tuổi (1878 - 1979) tinh thông Nho học, năm 1885
mới 7 tuổi, thọ giáo với Tổ Tâm Tịnh và được ban Pháp
danh là Trừng Thủy, tự Chí Thâm, Pháp hiệu là Giác Nhiên.
Đạo phong của Ngài đúng bậc Thiền sư. Năm 1932, cùng quý
Ngài như : Hòa thượng Quốc sư Phước Huệ (Chùa Thập
Tháp, Bình Định), Tổ Giác Tiên, Hòa thượng Tịnh Hạnh,
v..v... sáng lập Hội An Nam Phật Học. Hội cung thỉnh Ngài
đảm nhiệm chức vụ Chứng minh Đại Đạo sư và kiêm nhiệm
Giám đốc Phật học đường Tây Thiên - Huế. Năm 1936, Tạp
chí Viên Âm, phương tiện hoằng pháp của Phật Giáo, do Ngài
và Tổ Giác Tiên chứng minh. Rất tiếc, Tổ Tâm Tịnh không
còn (mất năm 1924) và Ngài Giác Tiên khai sơn Trúc Lâm Thiền
Phái tại Huế lại mất sớm (1879 - 1936) nên gánh nặng Chấn
hưng Phật Giáo tại Huế được trao phần lớn cho các Ngài
Giác Nguyên (chùa Tây Thiên) và Giác Nhiên (chùa Thuyền Tôn)
và Giác Viên (chùa Hồng Khê). Ngài Đôn Hậu Pháp hiệu Giác
Thanh mới thọ giới với Bổn sư hai năm phải đến chùa Hồng
Khê cầu pháp với sư huynh là Hòa thượng Giác Viên.
Môn đồ của Ngài Giác Nhiên tuy ít nhưng đã góp tích cực
trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo hiện đại, đó là các
cấp lãnh đạo của Giáo hội từ Trung ương đến các Miền,
Tỉnh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, như Thượng tọa
Thiện Siêu, Thượng tọa Thiện Minh, Thượng tọa Thiện Bình
v.v.. Ngài nhận chức vụ Đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1973, chức vụ cuối cùng
của đời Ngài. Ngài viên tịch năm 1979.
Đại
Hội kỳ VIII chưa tổ chức được để suy cử Đức Đệ
Tam Tăng Thống. Do đó Hội Đồng Lưỡng Viện cung thỉnh
Ngài Thích Đôn Hậu Chánh Thư ký Viện Tăng Thống, kiêm nhiệm
luôn chức vụ Xử Lý Viện Tăng Thống. Xin nhắc rằng từ
năm 1977 và 1981 đến 1983, Ngài Đôn Hậu ba lần làm Đàn Đầu
Hòa Thượng các Đại Giới đàn tại chùa Báo Quốc. Năm 1978,
Ngài chính thức lên tiếng phản đối Cộng sản Hà Nội trong
việc bắt bớ giam cầm trái phép những nhà lãnh đạo của
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài đã một mực
cương quyết đòi Cộng Sản phải trả tự do cho các nhà lãnh
đạo Phật giáo trong đó có có Hòa thượng Thích Thiện Minh,
Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ,
... Đặc biệt từ năm 1976 đến 1986, Ngài không ngừng
giảng dạy Kinh Luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh
Mụ, Báo Quốc và Linh Quang. Ngài đã có công nuôi dạy, tác
thành cho tất cả Tăng Ni, Phật tử trong đó có các vị học
thức cao, hữu dụng cho Phật pháp và xã hội như thầy Thích
Trí Chơn (Hoa Kỳ), thầy Thích Trí Siêu tức Lê Mạnh Thát
khi ấy đang còn bị giam giữ trong ngục tù Cộng sản. Hòa
thượng viên tịch ngày 23-04-1992, trụ thế 88 năm.
*.
Được biết Hòa Thượng Thích Giác Nguyên (Ôn Tây Thiên)
: Thọ 107 tuổi (1877 - 1980) là Đệ Nhị Tổ Tây Thiên
thay Tổ Tâm Tịnh Trú trì chùa Tây Thiên kể từ năm 1924.
Khi môn đệ là Ngài Giác Nhiên xả báo thân năm 1979 Ngài làm
Chứng Minh Đại Đạo Sư chứng Minh cho Hội Đồng Tang Lễ
gồm Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Hòa thượng Thích Mật
Hiển, Hòa thượng Thích Giác Tánh, Hòa thượng Thích Trí Thủ,
Hòa thượng Thích Thanh Trí, Thượng tọa Thích Đức Tâm. Đại
đức Thích Minh Tuệ, Đại đức Thích Minh Kiến, Đại đức
Thích Thiện Hạnh và . . . Ngài Tây Thiên không mấy khi ra khỏi
Tổ Đình, chuyên công hạnh tu trì qua Giới Định Huệ để
tạo một sức mạnh nội tại vô úy thể hiện qua đạo phong
vô ngôn bất động làm gương cho thế hệ hiện tại và tương
lai ham đua đòi vật chất quên phần tâm linh. Phải có
nếp sống đạo hạnh của các bậc Tăng già nghiêm trì giới
luật mới có thể phục vụ đúng đắn Chánh pháp và Chấn
hưng Phật Giáo được. Bỏ Giới thì mất Định, mất Định
thì Vô minh tức Tẩu hỏa Nhập ma mà Ma vương gọi là Thông
minh. Công hạnh tu trì của Ngài đã giúp Ngài không già, không
bệnh để đới nghiệp vãng sanh Tịnh độ, vào cõi Vô Sanh
hay tái sanh tiếp tục hạnh Bồ tát ? Điều đặc biệt
mà mấy ai chú ý đến là : Suốt cuộc đời của Ngài,
không có tháng nào mà không tập trung thiện tín về đạo
tràng Tây Thiên Di Đà tự để thọ Bát Quan Trai Giới, khi
thì mười ngày, khi thì nửa tháng. Mỗi lần như thế là từ
một trăm đến hai trăm thiện tín đến tu hoặc hơn. Đông
nhất là ba tháng chư Tăng An cư Kết hạ. Ngài cũng có một
vị đệ tử lớn xuất sắc, giới luật tinh nghiêm, văn chương
trác tuyệt, đã từng là Tăng Thống của Lào quốc, đó là
Hòa thượng Thích Nhật Liên.
*.
Được biết Hòa Thượng Thích Viên Quang (Ôn Châu Lâm) :
(1893 - 1976) trụ thế 83 tuổi, hầu hết Phật tử Việt Nam
đều biết đến vì Ngài là đại Pháp sư Sám chủ Trai đàn
Chẩn tế Bạt độ Cô hồn số một Việt Nam. Không những
thế, Ngài vừa thông Nho vừa thông Phật, vừa là vị tu sĩ
xuất khẩu thành chương dễ dàng nhất trong hàng Tăng lữ
Cố đô Huế. Nghĩa là tức cảnh thành thơ. Thơ văn của Ngài
bình dị nhưng đi vào lòng quần chúng rất dễ dàng, nhất
là giới tu sĩ trẻ. Ngài cũng có một vị đệ tử lớn lỗi
lạc văn chương và Phật pháp, đã một thời là Giáo sư của
viện Đại học Vạn Hạnh, đó là Thượng tọa Thích Quang
Phú, thường gọi là Đạo Quang. Ngài Châu Lâm có để lại
nhiều tác phẩm, trong đó có cuốn Liễu Sanh Thoát Tử. Ai
ai ở miến Trung, Cố đố Huế đều biết tiếng Ôn Châu Lâm,
nhưng tung tích Ngài thì cũng khó kiếm vì Ngài là một nhà
cách mạng kiêm Pháp sư Mật Tông ; đồng thời, Ngài
thường quy tụ giới Tăng trẻ đến chùa của Ngài để dạy
Kinh Luật. Thầy nào, chú nào kể cả Ni chúng có tâm tu học,
Ngài không nề hà tuổi già sức yếu, Ngài vui vẻ và tận
tâm dạy từng chữ, từng câu cho dù một đôi khi chỉ có
một hai vị theo học.
Nay
Ngài đã qua đời và nhân chứng sống được biết là cụ
Võ Như Nguyện, một thời là Viện trưởng viện Hán Học,
hiện ở Pháp và Thượng tọa Thích Phước Thành trú trì chùa
Châu Lâm ở Huế. Cách đây nửa thế kỷ, chùa Châu Lâm ở
sau đồn Công Binh, dốc Nam Giao gần các bãi tha ma, đường
hẽm thi đua vây kín, ngõ vào khó tìm. Nguyên Ngài là đảng
viên Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bội Châu tại Trung
Quốc sau cách mạng Tân Hợi (1911) ; Ngài thuộc đời
43 là đệ tử của Ngài Tịnh Hạnh đời 42. Trong bài “Sau
90 năm Vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại (1916 - 2006), đi tìm
Ngôi Mộ bí mật của hai liệt sĩ Thái Phiên và Trần Cao Vân”
do Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng đăng trong Giai Phẩm Phụ Nữ
Xuân Đinh Hợi, có đoạn như sau ở trang 136 : “Vị Hòa Thượng
chùa Châu Lâm cũng là một đồng chí Việt Nam Quang Phục Hội,
sau vụ vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại, người đồng chí
trẻ nầy đã tìm nương thân nơi cửa Phật, đồng thời làm
nhiệm vụ săn sóc ngôi mộ của hai nhà chí sĩ Thái Phiên
và Trần Cao Vân. Từ ngày bà Trưong Thị Dung (một nữ đồng
chí đi trộm xác hai vị liệt sĩ) cho biết về lý lịch của
ngôi mộ bí mật của hai nhà chí sĩ nói trên, cu Võ Như Nguyện,
thường lui tới chùa Châu Lâm và quen biết với Hòa thượng
nầy. Sau khi vị Hòa thượng qua đời, Cụ Võ Như Nguyện có
làm một bia đá ghi sự tích của Ngài. Bia đã được gắn
vào trước tháp của Hòa thượng chùa Châu Lâm. Chùa hiện
nay do Thầy Phước Thành trụ trì, vốn là đệ tử của Hòa
thượng chùa Châu Lâm đã quá vãng”. (Sau trên 50 năm xa cách
tôi gặp lại cụ Võ Như Nguyện năm 2005 trong buổi họp mặt
Cựu Học sinh Khải Định tại San Jose)
Pháp
Thoại Của Năm Đại Tăng Xứ Huế :
Các
Ngài an tọa đâu vào đó rồi, tôi bèn pha trà với bình thủy
nước nóng có sẵn và trà Tàu loại gì tôi không rõ nhưng
phòng lạnh bốc khói hương thơm phức, chừng như trà mạn
sen đặc biệt của Hòa thượng Viện Trưởng. Các Ngài không
nói gì, tay tiếp tục lần tràng hạt, miệng lâm râm niệm
Phật, đọc Kinh hay đọc chú. Tiếng đồng hồ chạy tích
tắc nghe rõ mồn một. Vì chờ mãi không nghe các Ngài nói
gì cả nên tôi bắt đầu chú ý và ghi nhớ vài chi tiết nhỏ
nhặt như sau : Chuổi hột của Ngài Tịnh Khiết dài nhất,
hổ phách da cam ; tràng hạt Ngài Vạn Phước trung bình,
cẩm thạch xanh lá cây ; chuổi hột Ngài Tây Thiên ngắn
nhất hổ phách đỏ đậm, tràng hạt Ngài Thuyền Tôn cũng
dài, gỗ Bồ đề, màu nâu lợt. Đặc biệt Ngài Châu Lâm
lần chuổi hạt huyền đen sậm. Đúng một giờ trôi qua, đồng
hồ đánh hai tiếng, bốn Ngài cùng đứng dậy, cúi đầu chào
nhau ra khỏi phòng khách. Pháp thoại của năm Đại Tăng chấm
dứt.
Phải
chăng các Ngài đang sử dụng pháp thoại Vô Ngôn Bất Động
theo Công Án Thiền giữa nhà vua và Thiền Sư Nhật Bổn ghi
trong tập Thiền Luận của Ông Daisetz Teitaro Suzuki. Xin tạm
dịch :
Chúng
ta đối diện nhau,
Đối
diện, suốt ngày lâu,
Suốt
ngày nhưng không gặp,
Không
bao giờ gặp nhau.
Chúng
ta cách xa nhau,
Cách
xa nhưng thường gặp,
Thường
gặp suốt ngày lâu.
Kết
luận:
Phương
pháp thiền Vô Ngôn Bất Động phải hiểu theo kinh Duy Ma Cật
với câu Mạc Như Lôi (im lặng sấm sét) hay trong Đạo Đức
Kinh với Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả
danh, phi thường Danh.
Vô
danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu.
(Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo
thường còn. Danh mà ta có thể gọi được, không phải là
Danh thật sự. Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là
mẹ của vạn vật.) Các Đại Lão Thiền Sư Lâm Tế Chánh
Tông đời thứ 42 đến “Tọa Thiền” tại Viện đại học
Vạn Hạnh trung tâm của cái gọi là “thế trí biện
thông” không phải để đấu trí nhị nguyên mà để cùng
nhau “lần hột” trước “Hố Thẳm Tư Tưởng”. Ai bảo
các ngài ngồi yên ? Xin thưa : Các Ngài làm mà không
nói. Chính các Ngài đã và đang âm thầm lãnh đạo phong
trào chấn hưng Phật Giáo đấy. Xin nhắc thêm ở đây các
Đạo huynh cao trọng của mấy Ngài nay mất sớm, đó là Sư
Viên Thành (tức Hoài Trấp húy Trừng Thông – “1879-1928”)
và Ngài Giác Tiên (húy là Trừng Thành, tự Chí Thông – “1880-1936”).
Các Ngài là những bậc cao tăng cách mạng của lịch sử Việt
Nam bảo vệ đạo pháp và dân tộc chống ngoại xâm (thời
ấy chỉ chống Pháp chưa có vấn đề cộng sản quốc tế).
Sư Viên Thành (chùa Tra Am) thường vân du nhiều nơi gặp gỡ
các nhà cách mạng như Cụ Chương Dân Phan Khôi (1), hoặc Mai
Sơn Nguyễn Thượng Hiền (2), Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác v.v.
Ngài
Giác Tiên được làm Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm tại Huế.
Xin nhắc : Năm 1913 Ni sư Diên Trường (1863-1925) xây dựng
xong chùa Trúc Lâm, liền xin phép Tổ Tâm Tịnh thỉnh Ngài
Giác Tiên về làm Hóa chủ ngôi chùa mới cất này. Ngài về
chùa Trúc Lâm thu nạp đồ chúng và mở rộng hoạt động
hoằng dương Chánh pháp, tiếng tăm vang xa đến khắp mọi
nơi. Các đại sư ngày xưa tu cao, học rộng, đạo đức bình
dân luôn luôn mở rộng tấm lòng nên được đồ chúng tôn
kính. Đặc biệt Tổ Giác Tiên có những vị đệ tử rất
xuất sắc và xứng đáng cho đạo suốt những thập niên từ
1920 cho đến 1990 là : Thiền sư Mật Tín, Thiền sư Mật
Khế, Thiền sư Mật Hiển, Thiền sư Mật Nguyện, Thiền
sư Mật Thể, Sư bà Diệu Huệ, Sư bà Diệu Không và vị Bồ
tát tại gia, có một chỗ đứng vững chắc trong nền giáo
dục Phật giáo đang chấn hưng, đó là Bác sĩ Tâm Minh Lê
Đình Thám. Tự Châu Hải, bút hiệu là Ba Rãm.
Để
chấm đứt bài này tôi xin trình bày một giai thoại Phật
pháp rộng lớn bao gồm Thập nhị Nhân duyên và Tâm Kinh bằng
Bốn câu thơ tứ tuyệt nôm na hài hước bằng một trái quít
diễn đạt câu : ai Ăn nấy no, ai Tu nấy chứng ;
Số là các thiền sư dân tộc Việt thường là thi sĩ nên
Sư Viên Thành và Sư Giác Tiên là bạn tu mà cũng là bạn thơ,
thường bút đàm với nhau bằng thơ. Sau đây là bài tứ tuyệt
viết trong giấy hoa tiên được Sư Viên Thành cho đệ tử
chuyển sang Trúc Lâm với một trái quít Hương Cần.
Ngọt
ngào không rõ đặng trong lòng,
Rõ
đặng trong lòng, biết đục trong,
Biết
đục trong ? hãy xin nếm thử,
Hãy
xin nếm thử, ngọt ngào không ?
Đặc
điểm của bài tứ tuyệt Bất khả tư nghị làm theo thể
vòng tròn (thể liên hoàn) : các chữ cuối câu một trùng
với các chữ đầu câu hai và như thế, các chữ cuối câu
bốn lại trùng với các chữ đầu câu một. Sư Viên Thành
muốn diễn tả trái quít tròn như bài tứ tuyệt lẩn quẩn
luân hồi như kiếp chúng sanh.
Tình
bạn đạo cũng như tình bạn đời của hại ngài được truyền
thừa cho chư đệ tử hai ngài xem như kết nghĩa. Đặc biệt
giữa Ngài Mật Hiển (1907-1992) đệ tử Ngài Giác Tiên và
Ngài Trí Thủ (1909-1984) đệ tử Ngài Viên Thành, có một sự
liên hệ lịch sử hổ tương giúp nhau bảo vệ đạo pháp
và dân tộc trong giai đoạn cực kỳ nguy hiểm trước hiểm
họa cộng sản sau 30-4-1975. Thông qua tài liệu lịch sử vừa
qua hướng đi đạo và đời của hai ngài dùng để phương
pháp uyển chuyển tùy duyên bất biến để bảo vệ đạo
pháp và văn hóa dân tộc. Hai ngài đứng ra lãnh đạo sáng
suốt trong nhiệm vụ thiêng liêng đối với Giáo hội, đối
với toàn thể Tăng tín đồ Phật Giáo Việt Nam. Ngài Trí
Thủ ở Sài Gòn và Ngài Mật Hiển ở Huế là hai trụ cột
để làm bình phong che chở cho Giáo Hội thầm lặng trước
khi Cộng sản cấy Công an trẻ vào lủng đoạn hàng ngũ chư
Tăng Ni.
Bình
phong Sài Gòn của Ngài Trí Thủ là lớp đào tạo Tăng Ni tại
chùa Già Lam Quảng Hương với các giảng sư đấu tranh
Hòa thượng Huyền Quang, Thượng tọa Tuệ sỹ, Thượng tọa
Trí Siêu v.v..
Bình
phong Sài Gòn số hai trong khuôn viên biệt thự Ni sư Trí Hải
cạnh Thiền viện Vạn Hạnh đường Nguyễn Kiệm với các
giảng sư Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Huyền Quang,
Ni sư Thích nữ Trí Hải, cụ Cao Hữu Đính.
Năm
1982 Hòa thượng Huyền Quang và Hòa thượng Quảng Độ bị
bắt và giải về nguyên quán qiam giữ.
Ngày
23-3-1984, Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Thượng tọa Tuệ
sỹ, Trí Siêu, Ni sư Trí Hải đều bị Công an bắt hết.
Mấy
ngày sau Hòa thượng Trí Thủ bị công an đem xe đến chùa
bắt đi bệnh viện và bức tử tại đó (2-4-1984). Tôi biết
rõ việc nầy. Thầy không có đau bệnh gì cả. Thầy bị giết
vì Thầy làm Bình phong bảo vệ Đạo Pháp và Dân Tộc ngày
càng thành công cần phải triệt hạ. Xác đem về chùa Già
Lam đầy máu me ở mũi và miệng. Hung tin truyền miệng lan
rộng như hải triều âm, Cộng sản hoảng hốt liền cho Công
an đến cướp nhục thân Ngài đưa quan tài lên chùa Xá Lợi
làm nghi lễ Quốc táng vô cùng trọng thể, Phật tử khắp
mọi nơi toàn quốc kéo về bất chấp giấy tạm vắng, tạm
trú của công an khu vực. Linh cửu Ngài đến chùa Già Lam rồi
mà đoàn xe tang vẫn chưa chấm dứt ở chùa Xá Lợi, nơi phát
xuất. Hòa thượng Thích Thanh Trí đương kim Chánh đại diện
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Thừa Thiên - Huế
cũng viên tịch sau đó.
Sau
khi đi tù cải tạo về, tôi ghé thăm Tu viện Già Lam và Thiền
viện Vạn Hạnh, vào các lớp giảng dự thính, thấy đông
Tăng sinh, gặp chư tôn đức đầy đủ. Đặc biệt tôi gặp
ngài Trí Thủ giữa tháng 3-1984 nghĩa là vài tuần trước khi
Ngài bị bắt.
Nguyên
Ngài là đệ tôn của Viên Giác Đại sư Nguyễn Khoa Luận
chùa Ba La nên việc làm lễ phục tang chậm trể mười năm
cho Cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là việc gia đình, tình
đạo và tình đời gắn bó theo chiều dài lịch sử. Hài cốt
tướng quân được bà Nguyễn Khoa Phước đựng trong bình
tro đem từ Cần Thơ về. Lễ được tổ chức tại Chùa Già
Lam với sự tham dự đông đủ thân nhân và bà con nội ngoại
trong đó có tôi (thân mẫu tôi họ Nguyễn Khoa). Tướng Nam
và cùng tôi học tú tài một lớp ở Trung học Khải Định
năm 1945.
Nghiệp
làm Bình Phong chịu trận như Ngài Trí Thủ chết dễ như chơi.
Ngoài đức tính vô úy, Ngài có sức chịu đựng, nhẫn nhục
vô bờ bến vì dễ bị hiểu lầm. Chính Ngài Đôn Hậu đích
thân lên Già Lam la mắng oan Ngài Trí Thủ thậm tệ khi Ngài
thành lập Giáo Hội Quốc Doanh dưới sức ép tàn nhẫn của
cộng sản. Ngài biết trước, nếu tất cả đứng lên chống
lại trong giai đọan đó là làm chuyện không nên. Tùy duyên
làm Bình phong để duy trì Đạo Pháp tại quê hương là hành
động thích ứng bất biến. Cái chết của Ngài chứng minh
việc này.
Ngài
Mật Hiển làm Bình Phong xứ Huế, Ngài chịu trận thêm tám
năm, khó khăn hơn vì các Bình Phong Huế ngày càng vắng bóng
đại tăng : Hòa thượng Thanh Trí ra đi năm 1984 và Hòa
thượng Đức Tâm ra đi 1988, Hòa thượng Đôn Hậu đời Lâm
Tế thứ 42 ra đi ngày 23 tháng 04 năm 1992 ; và Ngài Mật
Hiển, mặc dầu kiệt sức, vẫn đứng ra lảnh trách nhiệm
Trưởng ban lo tang lễ cho Hòa thượng Xử Lý Tăng Thống, nhờ
vậy mà Tang lễ của đức Đệ Tam Tăng Thống được thập
phần viên mãn. Sau đám tang ngài lâm bệnh và xả báo
thân ngày 17-5-1992 mùa Đản Sanh 2536, trước sự thương tiếc
của toàn dân xứ Huế. Sở dĩ tôi dám nói toàn dân là vì
Ngài được lòng thương của mọi người, mọi chế độ,
mọi tôn giáo nhờ tấm lòng dung hóa của Thiền Phái Trúc
Lâm.
Oan
khiên Chánh báo :
Ngài
Mật Hiển xét rằng Ông Ngô Đình Diệm có tinh thần quốc
gia dân tộc đang gặp cơn hoạn nạn sau ngày 9-3-1945 với ba
tai họa cùng một lúc Pháp, Nhật và Việt Minh. Ông cần có
sự giúp đở cấp bách vì phe nào cũng muốn sử dụng ông
cả. Ngài Mật Hiển ngõ ý với Cụ thân sinh tôi là Ngô Trọng
Lữ tham tá Địa chánh giúp Ông Diệm cải trang nhà sư
để dễ đi trốn. Nguyên cụ Lữ thường làm việc với các
quan chức Nam Triều về vấn địa bộ đất đai, do đó đối
với ông Ngô Đình Diệm là chỗ quen biết xưa nay chống Pháp.
Ngoài ra cụ Lữ trước đây có mua trả góp xe của người
bạn là ông Võ Văn Đạt chủ hảng sửa xe ô tô ở Tourane.
Cụ bèn nhắn với ông Đạt cho xe ra Huế gặp ngay Ngài Trúc
Lâm để đưa một nhà sư gia đình vào Tourane. Trong tác phẩm
Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế trang 197 Tổ Đình Hải Ngoại
tái bản 1993 có đoạn “Ngài ( Mật Hiển) cũng đã giúp cho
Thượng Thư Ngô Đình Diệm ẩn náu tại Tổ Đình Từ Hiếu
trong lúc đang bị chính phủ bảo hộ truy lùng. Và, cũng chính
ngài đã dẫn cho vị thượng Thư này thoát ra khỏi tỉnh Thừa
Thiên để về Đà Nẳng cải trang với tư thế một tu sĩ
Phật Giáo”.
Mười
lăm năm sau, nhân chuyến Tổng thống Ngô Đình Diệm đi tham
quan sân bay Khiêm Đức khoảng thập niên 60, tỉnh Quảng Đức,
tôi có giới thiệu cho Tổng Thống tài xế Công chánh Võ Văn
Yên là con ông chủ garage Võ Văn Đạt ở Tourane ngày xưa.
Tổng Thống mừng lắm thăm hỏi rồi bảo sĩ quan tùy viên
ghi chép gì đó. Tiếc thay tôi được Tổng Thống cho ngưng
chức ngay bằng công điện theo lệnh Tổng Thống ngày 26-2-1962
tức ngày phi công Phạm Phú Quốc oanh tạc dinh Độc Lập,
và phải đổi về Huế gấp nên không rõ gì thêm. Nhờ vụ
oan khiên có thể gọi là may mắn này, mà tôi có dịp ngàn
vàng gặp gỡ học hỏi nhiều với các bậc cao tăng Vô Ngôn
Bất Động miền Trung xứ Huế. Thật là oan khiên chánh báo
lạ lùng.
Bài
Minh khắc vào bia trước tháp Tổ Trúc Lâm Thiền Phái Huế
:
“Vô
Ngôn Bất Động” là phương pháp Ngài Giác Tiên hàng
ngày thường tham cứu được diễn đạt bằng câu “Chư
Pháp tùng bản lai thường tự tịch diệt tướng”
trích Kinh Pháp Hoa, Phẩm Phương Tiện. Sự kiện này được
ghi chép trong bài Minh của Tổ Giác Tiên được khắc vào bia
dựng trước tháp như sau :
Phật
tổ chi cán ty, Hiền hòa chi lương đống sư tai. Bình nhật
thường tham nhất kệ vân ; “Chư Pháp tùng bản lai thường
tự tịch diệt tướng”.
Nguyên
văn trong Kinh Pháp Hoa, Phẩm Phương Tiện :
“Chư
pháp tùng bản lai,
thường
tự tịch diệt tướng,
Phật
tử hành đạo dĩ ,
Lai
thế đương tác Phật."
Ngài
Thích Trí Tịnh dịch :
Các
pháp từ xưa nay,
tướng
thường tự vắng lặng
Phật
tử hành đạo rồi
Đời
sau được thành Phật.
Pháp
thoại Của Năm Đại Tăng Xứ Huế đã trình bày khá đầy
đủ mật nghĩa của kệ nói trên. Nếu quí vị có xem bài
Không Thời Nhất Phiến/ Hố Thẳm Tư Tưởng thì thấy
Không Thời Nhất Phiến tương đương với Các Pháp từ xưa
đến nay và Hố thẳm tư tưởng tương đương với Tướng
thường tự vắng lặng.
Quí
vị tùy nghi không đồng ý, hiểu cách khác, vì kinh có vô
lượng nghĩa.
Ở
Phẩm Tựa trước đó có đoạn “Đức Phật Nhật-Nguyệt
Đăng-Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên "Vô-Lượng Nghĩa-Xứ"
là pháp giáo hóa Bồ-Tát được chư Phật hộ niệm. Nói kinh
đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập
vào cảnh chánh định "Vô-Lượng Nghĩa-Xứ", thân và tâm chẳng
động.”. Vô lượng nghĩa bao gồm nghĩa Vô Ngôn Bất
Động giúp mình thưc hành Phật đạo giải nghiệp thành Phật
(Phật tử hành đạo rồi, đời sau được thành Phật) Nhưng
Phật rào đón trước cho biết rằng nếu chúng sanh còn tham
sân si thì Phật đạo này khó độ :
Nếu
ta gặp chúng sanh,
Dùng
Phật đạo dạy cả,
Kẻ
vô trí rối sai,
Mê
lầm không nhận lời.
Ta
rõ chúng sanh đó,
Chưa
từng tu cội lành,
Chấp
chặt nơi ngũ dục.
.
. .
Người
như thế khó độ.
Cho
nên Xá-Lợi-Phất !
Ta
vì bày phương tiện,
Nói
các đạo dứt khổ,
Chỉ
cho đó Niết-bàn,
Ta
dầu nói Niết-bàn,
Cũng
chẳng phải thật diệt,
“Chư
pháp tùng bản lai,
thường
tự tịch diệt tướng,
Phật
tử hành đạo dĩ,
lai
thế đương tác Phật."
Trong
Kinh A Di Đà Sớ Sao lại có nghĩa hành đạo Vô Ngôn Bất Động
Đới Nghiệp vãng sanh Cực Lạc Quốc
Chư
pháp tùng bổn lai,
Thường
tự tịch diệt tướng,
Xuân
đáo bách hoa khai,
Hoàng
oanh đề liễu thượng.
Được
dịch :
Các
pháp từ xưa nay,
Tướng
thường tự tịch diệt,
Xuân
đến trăm hoa nở,
Hoàng
oanh hót trên cây,
(Ta
dầu nói Niết-bàn, cũng chẳng phải thật diệt (cho nên) xuân
đến trăm hoa nở, hoàng oanh hót trên cây).
Tuy
trình bày tùy duyên khác nhau, với Kinh A Di Đà Sớ Sao danh
từ Niết Bàn (3) cùng một nghĩa cả. Điều quan trọng là
đừng đổi danh từ theo ý mình để tạo nghĩa khác. Tiếc
thay Thiền sư Nhất Hạnh đổi chử Tự (tỉnh từ) trong Tự
Tính 自性 (svabhāva) ra chữ Trụ có nghĩa Trú (động
từ) trong Trú Địa 住 地 : Thien Su Nhat Hanh
<http://www.langmai.org/TNH/PhapThoai/transcribe/hanhphuclaconduong.htm>
Kinh
Pháp Hoa nói rằng, các pháp từ xưa đến nay đang an trú trong
tự tánh Niết Bàn của nó (chư pháp tùng bản lai, thường
trụ tịch diệt tướng), ...
Thật
đau khổ cho chữ Tự 自 của Bài Minh khắc vào bia trước
tháp Tổ Trúc Lâm Thiền Phái Huế năm 1936 (4)
Vô
Ngôn Bất Động xuất dương hải ngoại làm kinh ngạc thế
giới :
Ngài
Thích Thiện Siêu (1921-2001) Năm 14 tuổi 1935 Ngài đến
tham học Phật pháp tại Phật học đường chùa Trúc Lâm -
Huế. Phật học đường này đặt dưới sự chứng minh chủ
trì của Hòa thượng Thích Giác Tiên, Pháp sư Trí Độ làm
Đốc giáo, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Phó Đốc giáo,
Cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám làm phụ giảng. Đây là Phật
học đường đầu tiên của hội An Nam Phật học. Những vị
tốt nghiệp taị đây đã và đang là rường cột của PGVN
như quý Hòa thượng : Thích Trí Tịnh, Thích Trí Quang,
Thích Trí Nghiểm tức cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, pháp
đệ của Ngài. Năm 1973 -1974, Hòa thượng được cung cử chức
vụ Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức - Nha
Trang. Chính trong thời gian này, dưới sự hướng dẫn của
Ngài, bộ kinh Trung A -hàm được dịch ra Việt ngữ. Năm 1979,
Hòa thượng Bổn sư là đức đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN
viên tịch. Để kế thừa bổn sư, Ngài được môn phái cung
thỉnh giữ chức vụ Trú trì Tổ đình Thuyền Tôn - Huế.
Năm 1991, Ngài được cung cử làm Phó chủ tịch Hội đồng
Phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam. Năm 1995 Vô Ngôn Bất
Động xuất dương hải ngoại với Hòa thượng Thích Thiện
Siêu. Theo đài Á Châu Tự Do : http://www.fva.org/0495/lawyer.html
Thế
giới rất ngạc nhiên khi thấy thái độ im lặng của Ngài
lần đầu ra hải ngoại. Ngài ở trong phái đoàn Bốn người
tháp tùng Nông Đức Mạnh ngày 21-2-1995 sang Âu Châu lo giải
độc cho Vụ Đàn Áp Phật Giáo Thống Nhất. Ngài Thiện Siêu
không trả lời gì cả. Ngài giữ thái độ Vô Ngôn Bất Động
như ở quê nhà.
Năm
1997 Ngài đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng Học viện Phật
giáo Việt Nam tại Huế để làm nơi đào tạo Tăng tài cho
cả nước. Năm 1999, Hòa thượng được cung thỉnh làm Đàn
đầu Hòa thượng Đại Giới đàn Tịnh Khiết tại chùa Tường
Vân - Huế. Để tri ân thầy tổ và làm rạng rỡ tông phong,
nên năm 2000, với cương vị Trú trì chùa Từ Đàm, Ngài đã
đứng ra chủ xướng công cuộc đại trùng tu Tổ đình Thuyền
Tôn - Huế, một trong những ngôi Tổ đình lớn trở nên nguy
nga, hùng vĩ hơn xưa để xứng đáng với công hạnh của Tổ
Liểu Quán. Đồng thời với công trình này, Hòa thượng đã
tôn tạo ngoại thành tháp Tổ với mục đích là bảo vệ
nơi di tích lịch sử và văn hóa của dận tộc Việt Nam. Năm
2001, Ngài chủ trì Lễ tốt nghiệp và Cấp phát văn bằng
Cử nhân Phật học cho Tăng Ni sinh tại Huế, khoá I (1997 -
2001). Cũng trong năm này, Ngài đã chứng minh Lễ kỷ niệm
50 năm thành lập Gia đình Phật tử Việt Nam, tổ chức tại
Tổ đình Từ Đàm - Huế.
Ngài
luôn luôn là Phó Đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh, Thành
viên Hội đồng Chứng minh GHPGVNTN, Phó Chủ tịch thường
trực Hội Đồng Tăng Sự GHPGVNTN. Giờ phút chót, trên
giường bệnh Ngài tiếp tục giữ chức vụ Trưởng Ban Giáo
dục Tăng, Ni Trung ương GHPGVNTN. Ngài căn dặn chuẩn bị khai
giảng khóa II cho Tăng, Ni sinh vào học. Lớp học khai giảng
được hai hôm thì Ngài viên tịch.
Vốn
ăn nói nhỏ nhẹ, người mảnh dẻ, giáng thư sinh ốm yếu,
Hòa thượng Thiện Siêu là vị Đại Tăng, một bực Thầy
có tâm hồn nghệ sĩ dạy Phật Đạo Vô Ngôn Bất Động bên
bờ Hương Giang. Hòa Thượng Thích Thiện Siêu xả báo an tường
ngày 03 tháng 10 năm 2001, trụ thế 81 tuổi.
Tâm
Tràng Ngô Trọng Anh
Ghi
chú :
(1)
Cụ Phan Khôi từ biệt Sư ra về, đêm ở quán trọ nhớ lúc
chia tay, cảm phục tư cách của vị cao tăng nên có bài thơ
tặng Sư Viên Thành (Công Tôn Hoài Trấp):
Duyệt
tận phồn hoa, nhãn nhục hôn,
Tọa
gian nhân ngã, hoa vô tướng,
Bích
thượng thi từ, ngọc hữu hồn.
Thảo
thụ kỳ viên, tân Phật Quốc,
San
hô bảo kiếm, cự vương tôn,
Không
tang (Sa Môn) nhất túc tri vô phận,
Trân
trọng ca sa tống xuất môn.
(San
hô tức chuổi hột và bảo kiếm nhắc lại gốc hoàng phái
của Sư)
Phan
Khôi
Trải
tận phồn hoa, mắt rối bời.
May
cùng thiện hữu đến chùa chơi.
Người,
ta trên ghế : hoa vô tướng,
Thơ
phú trên tường ; ngọc chiếu ngời.
Cây
cỏ xinh tươi ra cảnh Phật,
San
hô kiếm quý tự bao đời.
Vô
duyên tá túc đành từ biệt,
Sư
khoác ca sa tiển cuối trời.
Vũ
Hoàng Chương dịch
(2)
Nguyễn Thượng Hiền xướng :
Hỏi
hoa : xin mượn mùi hương,
Hỏi
trăng : xin mượn gương nàng thử soi.
Hỏi
non : xin nượn đá ngồi.
Hỏi
sông : mượn nước tắm chơi sạch mình.
Sư
Viên Thành đáp lại :
Hỏi
trăng : trăng chẳng đáp lời,
Hỏi
hoa : hoa chỉ mỉm cười làm ngơ.
Hỏi
sông : sông lặng như tờ,
Hỏi
non : non cứ trơ trơ với mình !.
Cụ
Mai Sơn đi tu sau này ở Hàng Châu. Bấy giờ Cụ đã là anh
hùng lỡ vận bán qui tăng rồi, Cụ chắc nhớ lời khuyên
Vô Ngôn Đất Động với Trăng Hoa Non Nước của Sư Viên
Thành. Trong thời gian ở Huế, ông cảm nhận tư tưởng tiến
bộ của "Ðại Thế Thiên Hạ Luận " của nhà sư Nguyễn Lộ
Trạch và đọc nhiều tân thư của Trung Quốc. Ông kết giao
với nhiều sĩ phu yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1898, qua giao tiếp với
Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền hỗ trợ phong trào Đông
Du nhưng vì cha ông lúc đó mang bệnh nặng nên ông phải ở
lại vận động cách mạng trong nước. Năm 1907 ông sang Trung
Quốc cùng hoạt động với Phan Bội Châu trong Duy Tân Hội
và Việt Nam Quang Phục Hội. Nguyễn Thượng Hiền mất tại
Hàng Châu, Trung Quốc ngày 28 tháng 12 1925. Theo di chúc, thi hài
ông được hỏa táng, và tro rải xuống sông Tiền Ðường
(3)
Niết Bàn 涅 槃 nirvàna dịch nghĩa là Diệt 滅, Diệt tận
滅 盡, Diệt độ 滅 度, Tịch diệt 寂 滅, Bất sinh 不 生,
Vô sinh 無 生, Viên tịch 圓 寂, Giải thoát 解 脫, Vô vi 無
爲, An lạc 安 樂
(4)
Theo thiểm ý nếu đổi chữ Tự ra chữ Trụ thành nghĩa an
trú trong hiện tại tức theo triết lý hiện sinh thì hấp dẫn
thật. Bắt đầu từ Pháp Quốc với giới thanh niên thời
1950 - 1970 rồi tràn lan khắp thế giới. Lúc còn nhỏ thời
lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn (Thà một phút huy hoàng rồi chợt
tối. Còn hơn là le lói suốt dêm thâu), tôi thích bài Le Lac
của Lamartine. Đại ý : (van xin thời gian đừng trôi trong
đêm dài vô hạn vào những bờ bến mới, hãy dừng lại cho
chúng tôi (tôi và nàng Elvire) mỗi một ngày mà thôi).
Ainsi,
toujours poussés vers de nouveaux rivages,
Dans
la nuit éternelle emportés sans retour,
Ne
pourrons-nous jamais sur l'océan des âges
Jeter
l'ancre un seul jour ?
Tạm
dịch Anh Ngữ :
The
lake
Thus,
pushed always into new shores,
In
the eternal night swept away without return,
Will
we ever be able on the ocean of the ages
To
drop anchor only one day ?
Người
gửi bài: Diệu Chơn
06-07-2007
10:34:15