MỤC
LỤC
Ghi
chú:
Chú
thích trong ngoặc đơn ( ) là từ nguyên bản tiếng Anh. Chú
thích trong ngoặc vuông [ ] và chú thích cuối trang là của
dịch giả bản Việt ngữ thêm vào.
SÁCH
ẤN TỐNG – KHÔNG BÁN
In
theo bản ấn tống điện tử 02/2007
Tủ
Sách Phật Giáo Tây Tạng
www.batnha.org
©
1993 His Holiness the Dalai Lama
Vietnamese
translation © 2006 Hồng Như
Tùy
nghi phổ biến trên mạng Internet với điều kiện giữ nguyên
nội dung và không bán.
Muốn
in sách ấn tống, xin vui lòng liên lạc với chúng tôi.
banbientap@batnha.org
Bìa
trước: đức Đạt-lai Lạt-ma, nhiếp ảnh Alison Wright
Tranh
ruột sách, họa sĩ Kelsang Wangmo.
Bìa
sau: Phật Thích Ca Mâu Ni,
họa
sĩ Kelsang Wangmo
Lời Giới
Thiệu
Bản Dịch
Việt Ngữ
[“Nguyện
đại thọ chúng sinh khổ” - thủ bút HT Thích Trí Quang]
Tri Ân
(bản dịch
Việt ngữ)
Sách
này được dịch sang Việt ngữ với tâm nguyện nối chút
duyên lành giữa hai nền Phật Giáo Việt Nam và Tây Tạng.
Xin gửi nơi đây tấm lòng biết ơn sâu xa của chúng con đối
với hai vị thầy hiển mật, HT Thích Trí Quang và đức Ðạt-lai
Lạt-ma, đã rộng lòng từ bi khai mở chánh pháp, đưa chúng
con vào với đường tu giác ngộ.
Thành
kính tri ân Geshe Lhakdor, giám đốc Thư Viện Lưu Trữ Kinh Ðiển
Tây Tạng [LTWA], đã hoan hỉ cho phép chúng con dịch và ấn
tống tập sách này. Thành kính tri ân Lama Zopa Rinpoche, giám
đốc tinh thần Hội Bảo Tồn Truyền Thống Phật Giáo Ðại
Thừa [FPMT], luôn khuyến khích chúng con trong công trình dịch
thuật.
Chân
thành cảm tạ Michael Muller và International Kalachakra Network [IKN]
đã nhiệt tình mang bản thảo kính dâng đức Ðạt-lai Lạt-ma.
Cảm tạ đại đức Thích Hoằng Tất, các đạo hữu Nguyễn
Ðình Hoạch, Ðinh Lực, Nguyễn Ðức Trung, Nguyễn Thị Ðường,
Hồng An, Hồng Thái, cùng nhiều đạo hữu gần xa đã chung
tay góp sức cho việc dịch thuật được hoàn thành mỹ mãn.
Ðược
bao công đức, chúng con xin nguyện hồi hướng pháp giới chúng
sinh.
Hồng
Như
Lời Nhà
Xuất Bản
(trong
ấn bản Anh ngữ)
Gyatsho
Tshering
Giám
Ðốc LTWA [Thư Viện Lưu trữ Kinh Ðiển Tây Tạng] Dharamsala,
H.P.
India
25.12.1990
Tháng
4 năm 1985, rồi tháng 10 năm 1986, đức Ðạt-lai Lạt-ma hai
lần thuyết giảng về tri kiến, thiền quán và hành động
trong Phật giáo. Phần lớn cử tọa là người Ấn. Chương
trình này do một số bằng hữu tại New Delhi thỉnh cầu và
tổ chức. Buổi pháp thoại diễn ra trong bầu không khí trang
nghiêm thân mật.
Bài
giảng và phần hỏi đáp đều được thâu băng. Khi nghe lại
băng ghi âm, chúng tôi nhận ra bài giảng này bao gồm cả một
tầm nhìn sâu rộng và nhất quán về Phật giáo. Nếu chịu
khó ghi chép, hiệu đính, in thành sách, chắc chắn sẽ mang
lại nhiều lợi ích đến cho độc giả khắp nơi trên thế
giới.
Bài
giảng của đức Ðạt-lai Lạt-ma nhắc đến đầy đủ mọi
điểm trọng yếu trong Phật pháp, vạch ra phương pháp tu giản
dị và rõ ràng nhằm giúp Phật tử xây dựng công phu tu tập
mỗi ngày. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma còn giải thích cặn kẽ về
phương pháp phát tâm từ bi, khai mở tuệ giác tánh Không ngay
trong đời sống hằng ngày.
Cuối
mỗi bài giảng có phần hỏi đáp. Câu hỏi nêu ra rất đa
dạng, liên quan đến những vấn đề thực tiễn Phật tử
đã gặp trong quá trình tu học.
Vào
đến chương ba, đức Ðạt-lai Lạt-ma giải thích về hai phương
pháp tu dựa trên hai bài pháp ngắn. Bài thứ nhất là Tám
Bài Kệ Chuyển Hóa Tâm [Eight Verses for Training the Mind], do một
vị cao tăng dòng Kadampa sống vào thế kỷ thứ 12 soạn. Trước
đây Thư Viện Lưu Trữ Kinh Ðiển Tây tạng [LTWA - Library of
Tibetan Works and Archives] đã từng xuất bản luận giải của
đức Ðạt-lai Lạt-ma về pháp tu này.
Bài
pháp thứ hai do chính đức Ðạt-lai Lạt-ma soạn hai thập
niên về trước theo yêu cầu của John Blofeld, mang tựa đề
Pháp Thiền Mật Tông Đơn Giản dành cho Phật Tử Nhập Môn
[A Tantric Meditation Simplified for Beginners]. Bài pháp này hướng
dẫn phương pháp quán tưởng căn bản, bắt đầu bằng cách
chuẩn bị chỗ ngồi thiền, lập bàn thờ, chọn tư thế ngồi,
khởi tâm qui y, phát tâm bồ đề, quán tưởng triệu thỉnh
cõi Phật, lấy đó làm đề mục chỉ quán, phóng ánh sáng,
tụng chú, v.v... Nghi thức quán tưởng này được đại đức
Tenzin Khedup dịch sang Anh ngữ với sự hợp tác của Mr. John
Blofeld, do Private Office xuất bản năm 1971, đính kèm trong phần
phụ lục [xem cuối sách]. Ðộc giả nên đọc vài lần trước
khi bước vào chương ba, vì trong chương ấy đức Ðạt-lai
Lạt-ma sẽ giảng về bài pháp này, và sẽ còn nhắc đến
rất nhiều trong những chương kế tiếp.
Lời
giảng của đức Ðạt-lai Lạt-ma chủ yếu là để giúp Phật
tử xây dựng công phu tu tập hàng ngày. Nghi thức quán tưởng
được soạn theo truyền thống Phật giáo Tây tạng. Cảnh
quán tưởng được chọn là đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng
bốn vị đại Bồ tát hộ pháp: Bồ tát Quan Tự Tại, Bồ
tát Văn Thù, Bồ tát Kim Cang Thủ và Bồ tát Quan Âm Tara(1)
. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma giải thích cặn kẽ về ý nghĩa hiện
thân của bốn vị đại Bồ tát. Ngài còn hướng dẫn cách
dùng sắc tướng và minh chú của chư Bồ tát làm đề mục
chỉ quán. Mọi đề tài khác được đề cập đến chỉ là
để làm rõ hơn nền tảng của pháp tu này.
Bắt
đầu buổi giảng, đức Ðạt-lai Lạt-ma nói: « Ðây là
lần đầu tiên tôi giảng Phật pháp trước thành phần đông
đảo người Ấn. Vì quí vị là người Ấn, những gì tôi
sắp nói đầy đều thuộc về quí vị, không thuộc về tôi.»
Ðức
Ðạt-lai Lạt-ma lại nói : «người Tây tạng có tôn giáo
riêng trước khi Phật pháp du nhập vào miền đất tuyết nhiều
thế kỷ về trước. Theo tôi nghĩ, người dân Tây tạng khi
ấy đã đủ trí thông minh và tinh thần cởi mở để so sánh
giữa hai nền tôn giáo, tôn giáo gốc ở Tây tạng và Phật
giáo, cuối cùng, phần lớn người dân Tây tạng đều chọn
Phật giáo làm tôn giáo của mình. Từ hơn một ngàn năm nay,
Phật giáo được bảo tồn ở Tây tạng, mang lại lợi lạc
lớn lao cho từng người dân Tây tạng cũng như cho nền văn
hóa Tây tạng nói chung.»
Trong
buổi giảng pháp hai ngày sau đó, đức Ðạt-lai Lạt-ma giải
thích: «có nhiều người bạn ngoại quốc nói với tôi rằng
giá trị lớn nhất của người dân Tây tạng nằm ở trái
tim nhân hậu, tinh thần trong sáng, luôn thân thiện nhiệt thành.
Tôi tin rằng người Tây tạng được như vậy là nhờ tu theo
Phật pháp, viên ngọc quí giá nhất của Ấn độ. Không có
Phật pháp, chúng tôi không thể nào có được niềm vui và
sức mạnh tinh thần nói trên. Ðặc biệt trong ba thập niên
gần đây, Phật giáo mang lại cho chúng tôi biết bao là lợi
ích, khi chúng tôi phải chứng kiến cảnh đất nước bị
chiếm đoạt, người thân bị thảm sát, chính mình phải sống
lưu vong trên vùng đất lạ. Xứ Ấn lại rộng lượng cưu
mang, đây là điều chúng tôi không bao giờ quên. Lại càng
không thể quên mối quan hệ tinh thần giữa Ấn độ và Tây
tạng qua Phật giáo. Vì vậy, bất cứ lúc nào các bạn người
Ấn muốn thảo luận về Phật pháp, tôi luôn cảm thấy đặc
biệt vui mừng. »
Cũng
như đức Ðạt-lai Lạt-ma vui mừng được nói về Phật pháp
trước cử tọa người Ấn, LTWA [Thư Viện Lưu Trữ Kinh Ðiển
Tây Tạng] cũng vô cùng cảm kích biết ơn xứ Ấn đã đối
với người dân Tây tạng cực kỳ tốt trong nhiều năm qua.
Chúng tôi thôi thúc với ý muốn phổ biến rộng rãi nội
dung buổi nói chuyện này.
Trong
tinh thần đó, LTWA đã tìm gặp giáo sư Dexter Roberts ở trường
Ðại học Montana, một người bạn lâu năm, nhờ hiệu đính
tác phẩm này. Giáo sư Roberts chấp thuận lời thỉnh cầu,
nhờ đó cuốn sách được thành hình. Bản chép tay được
hai thành phần danh dự của Văn Phòng Nghiên Cứu Dịch Thuật
LTWA là Jeremy Russell và Glenn H. Mullin tỉ mỉ hiệu đính. Xin
chân thành cám ơn công lao của hai vị.
Tôi
đặc biệt gửi lời tạ ơn đến ông Rajiv Mehrotra, nhà điện
ảnh New Delhi đã đứng ra thỉnh cầu và tổ chức buổi nói
chuyện, lại hết lòng khuyến khích nâng đỡ trong quá trình
phổ biến tập sách này. Cũng xin cám ơn dịch giả Ven. Thupten
Jinpa; cám ơn Anila Ursula đã chép băng ghi âm ra giấy; cám ơn
Namgyal Dolma và Tsering Norzom đã giúp đỡ rất nhiều về phần
vi tính; và xin cám ơn Jim Woolsey, Norbu Chophel đã bỏ công xếp
bản in.
Cũng
xin nói thêm, lời giảng của đức Ðạt-lai Lạt-ma được
thay đổi chút đỉnh cho phù hợp với thể văn viết. Ðức
Ðạt-lai Lạt-ma phần lớn giảng bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng
nhờ đến thông dịch viên. Chúng tôi cố gắng hết sức để
giữ giọng văn cho thật trung thực và nhất quán, đồng thời
không làm thất thoát nội dung cũng không làm mất đi hương
vị độc đáo trong tư tưởng cũng như trong cách nói chuyện
của đức Ðạt-lai Lạt-ma. Thứ tự bài giảng và thứ tự
triển khai tư tưởng đều được giữ nguyên không thay đổi.
Trong
quá khứ, có rất nhiều buổi nói chuyện giữa đức Ðạt-lai
Lạt-ma và giới trí thức Ấn độ đã được phổ biến qua
báo chí sách vở. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma thường tiếp xúc
trao đổi với các bạn người Ấn, cũng thường đến thuyết
trình ở các trường Ðại học v.v... Thêm vào đó, có nhiều
người Ấn đến nghe đức Ðạt-lai Lạt-ma thuyết pháp, đặc
biệt là người Ấn quanh vùng Hy Mã Lạp Sơn. Tuy vậy, cử
tọa người Ấn trong các buổi nói chuyện trên nói chung chỉ
chiếm thiểu số so với người Tây tạng đến nghe. Vì vậy
phần lớn những gì được giảng thường thích ứng với
phần đông cử tọa không phải người Ấn.
Cử
tọa của buổi nói chu¬yện tháng 10 năm 1986 thuộc thành phần
người Ấn thành thị tân tiến. Vì vậy đức Ðạt-lai Lạt-ma
trình bày Phật pháp phù hợp theo đó. Buổi nói chuyện đưa
đến kết quả vô cùng tốt đẹp, và LTWA rất vui mừng được
phổ biến nội dung buổi nói chuyện lần ấy đến với thành
phần độc giả đông đảo qua cuốn sách này.
Cảm
tưởng chính khi nghe buổi nói chuyện là Phật giáo tuy là
tôn giáo nhưng thật sự là một phương thức sống, để mang
lại hạnh phúc, hòa bình, làm sao cho đời sống có ý nghĩa,
làm sao để hòa đồng với đời sống và môi trường xung
quanh. Ðó là mục đích chính của phương pháp chỉ quán dạy
ở đây. Luôn luôn giữ trong tâm hình ảnh sống động của
Phật và Bồ tát, nuôi dưỡng nguồn cảm hứng của năm đức
tính Phật - tự tại, từ bi, trí tuệ, năng lực và lợi ích
chúng sinh - nhờ đó đời sống chan hòa hạnh phúc an bình;
cuộc sống trở nên thật sự có ý nghĩa.
Gyatsho
Tshering
Giám
Ðốc LTWA
25.12.1990
Lời Nói
Đầu
(trong
ấn bản Anh ngữ)
Rajiv
Mehrotra
New
Delhi, India, 10.01.1991
Người
ta thường nói Phật giáo biến mất trên xứ Ấn là vì tinh
thần Phật giáo quá phóng khoáng. Ngay trên vùng đất mẹ,
Phật giáo rồi cũng vô thường như tất cả mọi điều trong
cuộc sống, dần dần trộn lẫn với Ấn độ giáo, đến
độ không còn giữ được sắc thái riêng. Ðức Phật được
xem là hóa thân thứ chín trong mười hóa thân của thần Vishnu,
chuyển từ thân thú sang thân người. Ấn độ giáo quen với
khái niệm tái sinh, mang khái niệm này gắn liền với vai trò
xã hội của thần Vishnu. Mỗi khi Ấn độ giáo gặp hiểm
họa, thần Vishnu từ cõi trời Vaikuntha sẽ hóa thân vào cõi
người để vãn hồi trật tự. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma được
xem là hóa thân của Bồ tát Quan Tự Tại, tâm từ bi của
Phật, ngay trong thời điểm điên đảo xáo trộn này, chỗ
đứng của đức Ðạt-lai Lạt-ma thật đặc biệt trong lòng
người dân xứ Ấn.
Trong
hơn ba thập niên lưu vong ở xứ Ấn, đức Ðạt-lai Lạt-ma
và người dân xứ Ấn đã kết mối quan hệ thật đặc biệt.
Ở đất nước với sinh hoạt tôn giáo cực kỳ đa dạng,
với biết bao nhiêu tín ngưỡng thần linh, đức Ðạt-lai Lạt-ma
nổi bật là một bậc thầy đầy từ bi, trí tuệ, với chứng
ngộ sâu rộng. Ðủ mọi thành phần tìm đến đức Ðạt-lai
Lạt-ma, từ nông dân cho đến sinh viên đại học, từ nhà
kinh tế thành công cho đến nhân viên xã hội, cả dân thường,
cả nhà chính trị, cả những người không quan tâm đến tình
trạng chính trị của Tây tạng, cũng đến tìm đức Ðạt-lai
Lạt-ma xin hộ niệm giữ gìn. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma được
mời đi giảng thuyết, mời chủ trì các buổi khánh thành,
mời tham dự các buổi họp đa tôn giáo, mời nói chuyện trong
vòng thân mật. Xứ Ấn không ngừng mời đón đức Ðạt-lai
Lạt-ma.
Bù
lại, đức Ðạt-lai Lạt-ma luôn xem xứ Ấn là “đất nước
tinh thần” đã mang Phật giáo đến cho người dân Tây tạng
từ hơn ngàn năm về trước, và bây giờ lại cưu mang hơn
trăm ngàn người dân Tây tạng lưu vong, nhờ đó Phật giáo
vẫn còn được giữ gìn sống động. Vì vậy đức Ðạt-lai
Lạt-ma luôn góp sức đưa Phật giáo về lại đất mẹ của
Phật. Xứ Ấn từ lâu đã thôi không còn là xứ sở của
Phật giáo. Không bao giờ mang tinh thần truyền giáo, Phật
giáo ngày nay được thể hiện qua nụ cười trên khuôn mặt
hiền hòa của đức Ðạt-lai Lạt-ma, đến nỗi cả những
lời lẽ nghiêm trang nhất cũng chỉ để nhắc nhở hành trình
nào cũng có thể là hành trình hạnh phúc.
Ðức
Ðạt-lai Lạt-ma chấp thuận lời mời, đến giảng về công
phu tu tập hàng ngày theo Phật giáo. Một nhóm nhỏ mười lăm
người, bao gồm dân thành thị, trí thức, toàn là người
xứ Ấn, phần lớn là Phật-Ấn độ giáo, từ Delhi cùng nhau
kéo đến Dharamsala, bất chấp những nguy hiểm bạo động
đang xảy ra ở Punjab, để dự buổi thuyết pháp ba ngày của
đức Ðạt-lai Lạt-ma. Buổi thuyết pháp này diễn ra quá tốt
đẹp, nên một buổi nói chuyện khác lại được tổ chức
vào tháng 10 tại New Delhi, cho một nhóm đông người hơn, khoảng
75 người. Sách này gom lại tất cả những gì được giảng
trong hai lần nói chuyện trên.
Ai
đã từng nghe đức Ðạt-lai Lạt-ma giảng pháp cũng hiểu
rằng không ai có thể chuyển lại trọn vẹn lời giảng của
đức Ðạt-lai Lạt-ma vào trong trang sách. Lời giảng của
đức Ðạt-lai Lạt-ma có năng lực ảnh hưởng phi thường,
lời giảng đồng nhất, nhưng ý nghĩa đối với người nghe
lại phong phú không cùng. Phần lớn bài giảng được thuyết
bằng tiếng Tây tạng, thông dịch ra Anh ngữ, cũng có khi đức
Ðạt-lai Lạt-ma cất tiếng cười sảng khoái, dùng tiếng
Anh để trực tiếp nói chuyện với cử tọa. Tâm người nghe
rúng động mạnh mẽ, tràn đầy những cảm xúc kinh nghiệm
mà bình thường chúng ta chỉ lờ mờ biết đến. Quán niệm
về lòng vị tha, về tâm bồ đề, với sự dung hòa giữa
xuất thế và nhập thế, hiển kinh và mật kinh. Ðức Ðạt-lai
Lạt-ma luôn tạo kinh ngạc, đảo lộn thói quen, đánh bật
khẳng định về cuộc sống. Ngài không ngần ngại trả lời
“tôi không biết!” cho những câu hỏi không thể trả lời.
Ngài chia sẻ kiến thức, chứng ngộ, với phong thái từ hòa
đầy phóng khoáng.
Không
sách nào có thể thay thế cho kinh nghiệm gặp gỡ trực tiếp
một vị thầy chân chính. Bài giảng lần này nhắc đến mọi
điểm trọng yếu trong Phật pháp, nhằm xây dựng công phu
tu tập hàng ngày dựa trên Phật giáo đại thừa mật tông.
Thông thường muốn tu mật pháp người tu phải trực tiếp
thọ khẩu pháp truyền thừa từ một vị đạo sư. Nếu là
mật pháp thuộc các bộ cao, người tu lại còn phải nhận
pháp quán đảnh, nhờ vào đó mà tâm thức người tu có khả
năng tiếp nhận những phương thức hành thiền phức tạp,
có thể nương vào vị thầy dẫn đạo để bước qua từng
giai đoạn tu chứng. Phương pháp tu đức Ðạt-lai Lạt-ma dạy
ở đây, người tu không cần nhận pháp quán đảnh vẫn có
thể tu theo để tạo duyên với Phật giáo mật tông. Trong
số những người tham dự lần nói chuyện đó, có nhiều người
về sau phát bồ đề tâm, nhận pháp quán đảnh.
Ðối
với quan niệm Ấn độ nói chung, mật tông không được xem
trọng lắm. Không rõ là vì sách vở Tây phương trong buổi
đầu tiếp xúc đã lên án mật tông rất nặng nề, và người
Ấn chịu nhiều ảnh hưởng từ sách vở Tây phương qua thời
Anh thuộc, hay vì chính Ấn độ giáo qua quá trình phát triển
dưới tầm ảnh hưởng của ngoại quốc đã đánh giá sai
lầm phần tính dục nói trong mật tông.
Mật
tông quả có nhấn mạnh về tính dục, một trong những năng
lực rất mạnh của con người. Tuy vậy tính dục ở đây
không giới hạn ở tình dục. Phật giáo nói ai cũng muốn
vui, không muốn khổ. Và ai cũng có khả năng thực hiện điều
này. Phật giáo mật tông nói rằng chuyển khổ thành vui không
những là việc có thể làm được, mà còn có thể làm rất
nhanh chóng nếu vận dụng tất cả mọi năng lực, đặc biệt
là năng lực đến từ tham dục. Nếu khéo vận dụng, tham
dục sẽ là một trong những năng lực lớn nhất con người
có thể dùng để chuyển hóa tâm thức. Tham dục rất khó
vận dụng, cần biết cách mới có thể dựa vào nguồn năng
lực này để buông xả luân hồi, đạt an lạc chân chính.
Sự khác biệt giữa Phật giáo mật tông và tà giáo – tà
giáo nghĩa là những phương pháp hành lạc mật tông ngoại
đạo mà người Ấn nghi ngại - nằm ở sự tự chế và mục
tiêu vận dụng tính dục.
Ðức
Ðạt-lai Lạt-ma nhấn mạnh vào lòng vị tha, vào tâm bồ đề,
là nền tảng rường cột của con đường tu. Mọi hành động
đều phải nhằm tăng trưởng tâm bồ đề. Chúng ta cần thấm
thuần tâm mình trong đó, thường ôn lại lời giảng để
tự nhắc nhở mục tiêu của con đường tu. Ðó là cốt tủy
của bài tụng đức Ðạt-lai Lạt-ma nhắc đến: Tám Bài Kệ
Chuyển Hóa Tâm.
Không
lời nào có thể tỏ bày trọn vẹn tấm lòng biết ơn của
chúng tôi đối với đức Ðạt-lai Lạt-ma, với giáo pháp
ngài mang đến, và với lời chấp thuận được in và phổ
biến sách này. Chúng tôi chỉ mong cố gắng hết sức để
có thể đền đáp được phần nào.
Thay
mặt tất cả những người may mắn được tham dự buổi thuyết
pháp, trước hết tôi xin cám ơn Ven. Thupten Jinpa đã thông
dịch thật tài tình lời của đức Ðạt-lai Lạt-ma, đã mất
thì giờ kiên nhẫn với chúng tôi ngay cả sau buổi giảng;
xin cám ơn Tenzin Geyche ở văn phòng thư ký của đức Ðạt-lai
Lạt-ma, và Tashi Wangdi của văn phòng ở Delhi, đã giúp tổ
chức buổi thuyết pháp này; xin cám ơn Gyatsho Tshering, giám
đốc LTWA [Thư Viện Lưu trữ Kinh Ðiển Tây Tạng], người
đã bỏ nhiều công khó, đã kết hợp công lao của rất nhiều
người để thực hiện sách này.
Rajiv
Mehrotra
10.01.1991
(1)
Avalokitesvara, Manshujri, Vajrapani, Tara.
05-30-2007
04:12:34