Chương 6.
Ðường đi
của Phật
Phật
Thích Ca và nhị đại đệ tử,
tôn
giả Xá Lợi Phất và
tôn
giả Đại Mục Kiền Liên
A.
Quán tâm bồ đề
Một
vị thầy Ấn độ tên Haribhadra có viết rằng tâm bồ đề
là trạng thái tâm thức đến từ nguyện vọng mong mỏi chúng
sinh thoát cảnh luân hồi, đi cùng với ý chí muốn thành Phật
để cứu độ chúng sinh. Ðại nguyện cầu giác ngộ được
biểu hiện bằng tâm từ bi hướng về toàn thể chúng sinh,
và đây cũng chính là tuệ giác hướng về giác ngộ.
Muốn
đạt giác ngộ, trước tiên phải thành tựu niết bàn. Muốn
thành tựu niết bàn, phải chứng ngộ tánh Không.
Ngay
như công phu rất căn bản là qui y Tam Bảo, là yếu tố quyết
định người tu có phải là Phật tử hay không, người tu
cũng phải trực chứng tánh Không rồi mới có thể đạt tới
tâm qui y thật sự thuần tịnh. Vậy ngay cả công phu qui y
Tam Bảo cũng có nhiều mức độ thành tựu khác nhau.
Nói
về con đường tu chứng, một người không phải là Phật
tử vẫn có thể cố gắng tìm hiểu về tánh Không, nhờ hiểu
tánh Không mà tin có sự tận diệt của khổ đau gọi là niết
bàn. Từ đó khởi lòng tin nơi Phật pháp, nhờ vậy mà cảm
thấy kính ngưỡng vị thầy đã dạy về tánh Không, kính
ngưỡng những người đang bước trên con đường tu chứng.
Nói chung người tu có hai loại, hoặc là dựa vào lý trí để
tu, hoặc là dựa vào lòng tin để tu. Phương pháp thích hợp
nhất cho người có căn cơ cao là, như vừa nói, dựa vào lý
trí để tu.
Qui
y Tam bảo rồi thì trở thành Phật tử. Nhưng có là Phật
tử đại thừa hay không hãy còn tùy lúc qui y có phát đại
nguyện vì chúng sinh mà cầu quả vị giác ngộ cao nhất hay
không. Vì lý do này, hai công phu qui y Tam bảo và phát tâm bồ
đề thường đi chung với nhau.
Tiếp
theo là tích lũy công đức bằng cách trì tụng bảy hạnh
Phổ Hiền. Bảy hạnh Phổ Hiền này nằm trong kinh Hoa Nghiêm(1)
. Ngoài ra, kinh Bát Nhã Ba La Mật (2) cũng có nhắc đến.
Một
là đảnh lễ Phật đà. Bài tụng nói rất rõ, tôi nghĩ không
cần giải thích thêm. Lạy Phật sẽ giúp quí vị trị tâm
kiêu ngạo.
Hai
là cúng dường Tam bảo. Ðây là thuốc hóa giải tâm ích kỷ.
Ba
là sám hối tội chướng, nhìn nhận những hành động sai
quấy của mình. Sám hối giúp hóa giải ba chất độc tham
sân và si.
Bốn
là tùy hỉ công đức, nhằm hóa giải lòng ganh ghen tật đố.
Năm
là xin Phật chuyển Pháp luân, là thuốc hóa giải mọi ác
nghiệp đã phạm đối với kinh điển và các bảo vật tượng
trưng cho Tam bảo.
Sáu
là xin Phật ở đời, nhắm hóa giải ác nghiệp phỉ báng
các đấng giác ngộ.
Bảy
là hồi hướng công đức, nhằm hóa giải tà kiến, nhất
là tà kiến không tin nhân quả nghiệp báo, cho rằng quả không
đến từ nhân.
B.
Thiền chỉ
Vị
nào muốn thiền chỉ để đạt định (shamata) thì, như đã
nói, nên lựa một chỗ ngồi cách ly yên tịnh để tu trong
vài tháng. Tôi nghĩ việc này không phải ai cũng làm được.
Tuy vậy, trong đời sống hàng ngày, vẫn có thể thu xếp chút
ít thời gian để tu thiền chỉ, giúp tâm an định phần nào.
Quí vị có thể chọn bất cứ một điều gì để làm đề
mục thiền chỉ. Trong bài tụng này, đề mục quán tưởng
được chọn là đức Phật cùng bốn vị đại Bồ tát Quan
Tự Tại, Văn Thù Sư Lợi, Kim Cang Thủ và Quan Âm Tara.
Nếu
muốn thiền chỉ, nên chú tâm vào đức Phật ở chính giữa,
không cần chú ý nhiều đến bốn vị đại Bồ tát xung quanh.
Quán tưởng Phật phát ánh sáng rạng ngời, thân Phật đầy
và nặng. Làm như vậy để giúp tâm trụ vững, giải tỏa
bóng tối.
Muốn
hình ảnh trong quán tưởng được rõ ràng thì nên chọn một
tượng Phật to lớn, có nhiều chi tiết rõ ràng, ngồi học
từng chi tiết cho thật kỹ. Rồi khi ngồi thiền ráng nhớ
lại hình ảnh Phật đã học. Một khi ảnh Phật hiện ra trong
quán tưởng, phải dùng năng lực chánh niệm để giữ hình
ảnh ấy lại. Phải dùng tâm nắm lấy hình ảnh.
Muốn
đạt định (shamatha), tâm cần hội đủ hai yếu tố chính
là tĩnh và sáng. Các bộ luận của ngài Di Lạc và Vô Trước
có nói về năm chướng ngại của thiền chỉ, và tám biện
pháp đối trị.
Chướng
ngại đầu tiên là làm biếng. Biện pháp đối trị có hai,
một là hiểu được lợi ích của định tâm và hai là quyết
tâm muốn đạt định. Phải có lòng tin vững chắc nơi phương
pháp tu định thì mới trị được bịnh làm biếng.
Dù
không thể sánh với các bậc hành giả cao, nhưng trong đời
sống hàng ngày hễ tâm an định được chừng nào sẽ khiến
trí óc bén nhạy bớt trì trệ chừng nấy. Tu như vậy sẽ
giúp đầu óc tỉnh táo, bớt nhọc mệt. Ðây là điều rất
hữu dụng.
Chưa
đạt định sẽ không thể thiền quán để khai tuệ (tì
bát xá na- vipashyana). Không thể nhập định thì quán tưởng
thân Phật sẽ không mang lại ích lợi gì cả. Phải từ trong
định mà quán thân Phật, có như vậy phương pháp tu này mới
có hiệu quả, mới tạo tác dụng. Tất cả những điều này
đều tùy thuộc vào khả năng nhập định của người tu.
Biện
pháp thứ hai để chống bịnh làm biếng là lòng quyết tâm
muốn đạt định, đạt lực, đạt trạng thái nhu nhuyễn
của thân và tâm. Bốn điều này là kết quả có được khi
đạt định, và cũng là thuốc chữa bịnh làm biếng.
Chướng
ngại thứ hai là quên mất đề mục thiền. Muốn chữa bịnh
này tâm phải giữ chánh niệm, phải luôn nắm giữ đề mục
thiền.
Chướng
ngại thứ ba là trạo cử và hôn trầm, có nghĩa là kích thích
và trì trệ. Muốn chữa bịnh này phải giữ tâm nhanh nhẹn
tỉnh táo.
Hai
trạng thái trạo cử và hôn trầm có nhiều mức độ thô
lậu vi tế khác nhau. Có một trạng thái tâm thức hoàn toàn
trì trệ, khiến tâm bị chìm đắm. Trì trệ đến nỗi đề
mục quán tưởng không hiện, tâm người thiền cũng không
chút tỉnh táo, tất cả đều mờ mịt trống trơn.
Ngoài
ra còn một trạng thái hôn trầm khiến đề mục bị lu mờ
mất ánh sáng. Hôn trầm còn có nghĩa là chìm đắm, năng lực
của tâm thức chùng xuống, như bị lún xuống bùn. Hôn trầm
thô lậu là đánh mất đề mục quán tưởng. Hôn trầm vi
tế là đề mục tuy vẫn còn, nhưng hình ảnh không được
rõ.
Trạo
cử là trạng thái thiếu tập trung, tâm tán loạn theo đủ
loại đối cảnh, không thể an định. Trạo cử vi tế là
tâm vẫn còn giữ đề mục quán tưởng, nhưng phần lớn độ
tập trung đã bị xao lãng. Ðể tránh loại trở ngại này,
phải dùng thuốc hóa giải là tâm bén nhạy tỉnh táo.
Ðể
tâm thư giãn quá độ sẽ bị hôn trầm. Bắt tâm tập trung
quá độ sẽ bị trạo cử. Muốn đừng vướng hai loại chướng
ngại này, phải điều chỉnh sao cho tâm giữ được mức độ
quân bình, không quá chùng cũng đừng quá căng.
Làm
sao thoát hôn trầm và trạo cử? Phải tùy trường hợp mà
siết chặt hay nới lỏng độ tập trung của tâm. Gặp loại
hôn trầm rất vi tế thì phải tăng cường độ tập trung.
Còn gặp phải loại hôn trầm thô lậu, tốt nhất nên tạm
ngưng buổi ngồi thiền, nhớ lại những kỷ niệm vui tươi
dễ chịu để lên tinh thần. Hoặc ra ngoài dạo một vòng
cho thoáng mát.
Nếu
gặp loại trạo cử vi tế, phải biết giảm cường độ tập
trung. Còn khi gặp trường hợp trạo cử thô lậu thì nên
nhớ lại những việc buồn để giảm bớt độ kích thích.
Nói chung muốn thoát hai loại chướng ngại này, người tu
phải dựa vào kinh nghiệm riêng của mình để tự tìm cách
quân bình mức độ tập trung.
Ðề
mục thiền chỉ có nhiều loại, không nhất thiết phải chọn
một món vật cụ thể bên ngoài làm đề mục mà có thể
chọn một đề mục nội tại như là minh chú, chủng tự,
hay là ánh sáng trong khí huyệt. Điều này được giải thích
rõ trong Mật tông Tối thượng Du già.
Cũng
có phương pháp chọn tâm thức làm đề mục thiền chỉ. Phương
pháp này lúc đầu rất khó, vì đối cảnh ở đây là tâm,
mà tâm cũng chính là chủ thể hành thiền. Nếu chọn phương
pháp tu này, lúc mới bắt đầu tu quí vị phải ráng phát
huy ý muốn trụ tâm nơi tâm, rồi dùng chánh niệm giữ vững
ý muốn này. Phải tu tập như vậy cho thật lâu thật quen,
rồi ra mới có thể trực tiếp trụ tâm nơi tâm, bằng không
rất khó. Chúng ta thường nói về tâm, luôn vận dụng tâm,
nhưng thấy được tâm là điều rất khó.
Hai
chướng ngại tiếp theo, một là không áp dụng biện pháp
hóa giải khi gặp trạng thái trạo cử hay hôn trầm, hai là
áp dụng biện pháp hóa giải khi không cần thiết.
Có
tất cả chín giai đoạn trên con đường tu chỉ. Khi đạt
đến giai đoạn thứ bảy hay tám, mọi chướng ngại gần
như không còn. Khi ấy nếu còn tiếp tục áp dụng biện pháp
hóa giải thì điều này sẽ tạo trở ngại cho sự định
tâm. Gặp trường hợp như vậy, biện pháp hóa giải tốt
nhất là giữ tâm bình đẳng.
Tâm
bình đẳng có rất nhiều loại. Bình đẳng có khi là cảm
giác trung tính. Bình đẳng cũng là tâm không phân biệt khi
hướng về chúng sinh. Ở đây, bình đẳng có nghĩa là không
áp dụng biện pháp hóa giải khi không cần thiết.
Ðó
là năm loại chướng ngại và tám biện pháp hóa giải.
Muốn
dốc công tu thiền chỉ, có một yếu tố rất quan trọng cần
quan tâm, đó là cách ăn uống. Trong suốt thời gian tu thiền
chỉ, ăn chay đặc biệt có tác dụng tốt.
Theo
y học Tây tạng, nếu từ nhỏ đã quen ăn chay thì ăn chay
là tốt nhất. Nhưng nếu lớn rồi mới bắt đầu ăn chay,
có khi sẽ khiến khí mạch trong người bị xáo trộn. Tai có
thể nghe tiếng gió, tay chảy mồ hôi, tâm thần xáo trộn
bất an. Những điều này tạo trở ngại lớn cho thiền chỉ.
Ngoài trường hợp này ra, ăn chay là tốt nhất.
Buổi
tối nên ăn ít một chút. Hay hơn hết là nên nhịn ăn buổi
tối, nếu không chỉ nên ăn bữa nhẹ. Cũng không nên đi ngủ
trễ, ráng ngủ sớm, dậy sớm.
Thời
gian tốt nhất để thiền-chỉ là buổi bình minh. Nhất là
khi đã thức dậy nhưng giác quan vẫn chưa hoàn toàn tỉnh
táo, rất dễ được kết quả tốt. Nếu có thể thu xếp
ngồi thiền vào lúc đó, quí vị sẽ thấy kinh nghiệm trực
tiếp về ánh sáng chân như không phải là điều khó. Đương
nhiên điều này cũng còn tùy vào căn duyên của mỗi người.
Mật
tông Tối thượng Du già còn nhiều phương pháp khác, nhưng
quí vị chưa nhận pháp quán đảnh không thể tu theo.
Ngoài
ra, còn một phương pháp rất hay là thiền trong giấc mơ. Muốn
hành trì theo phương pháp này, khi mơ phải biết là mình đang
mơ, rồi từ trong mơ tự chủ ngồi thiền.
Tâm
trong giấc mơ vi tế hơn, vì vậy thiền với tâm trong mơ sẽ
tốn ít công sức mà lại có thể vận dụng được những
tầng tâm thức sâu hơn. Nếu làm được như vậy, chúng ta
có thể hoạt hiện một loại "thân trong mơ". Loại thân này
rất đặc biệt, không liên quan đến thân vật lý. Là
một loại thân vi tế, vì vậy có thể đi đến nhiều nơi,
làm nhiều việc. Tôi nghĩ loại thân này là gián điệp tài
tình nhất. Có được thân này sẽ dễ hoàn thành nhiều trách
nhiệm, không sợ bị bắt, không sợ ai khác thấy được mình.
Loại
công phu này chủ yếu nhắm vào khả năng vận dụng thân vi
tế và tâm vi tế, chỉ thấy có trong mật tông. Trong nhiều
trường hợp người tu vì lớn tuổi hay bịnh tật, không thể
nhìn bằng mắt, vì mắt thuộc thân thô lậu. Nhưng nhờ thành
tựu tâm linh, họ có thể đọc kinh sách bằng đầu ngón tay.
Ðây là một loại thần thông có được nhờ định tâm, trong
Phật giáo hay ngoài Phật giáo gì cũng có thể làm được.
C.
Tụng chú
Tiếp
theo là phần tụng chú. Thông thường khi hành trì công phu
hàng ngày, sau khi quán tưởng, thiền định, nếu còn thì giờ
thì tụng chú.
Trong
khi tụng chú, quán tưởng chủng tự của Phật và Bồ tát
như chỉ dẫn trong bài tụng (xem phụ lục 2). Năm chủng tự
là MUM (vàng ròng), HRIH (trắng), DHIH (vàng), HUM (xanh biển đậm),
TAM (xanh lá). Chủng tự có thể được quán tưởng bằng chữ
Phạn, mẫu tự la tinh, hay loại chữ gì khác cũng được.
MU
là âm đầu của chữ Muni, hồng danh đức Thích Ca Mâu Ni.
Chữ MU cộng với chóp mũ trên đầu, đọc thành MUM. Chóp
mũ trên đầu gọi là Bindu, âm "em mờ", tượng trưng
cho tánh Không, và MU là thực tại qui ước. MUM là sự kết
hợp giữ tánh Không và hiện tượng qui ước.
HRIH
là chủng tự của đức Quan Tự Tại, vì đây là chủng tự
của đức Phật A di đà, là đấng Như lai Pháp chủ bộ Phật
của ngài Quan Tự Tại.
DHIH
âm Phạn có nghĩa là trí tuệ. Ðức Văn Thù Sư Lợi là hiện
thân của trí tuệ, vì vậy đây là chủng tự của ngài.
HUM
là chủng tự của đức Kim Cang Thủ, là hiện thân của ý
Phật. HUM cũng là chủng tự của Phật Bất động(3) , là
vị Như lai Pháp chủ bộ Phật của ngài Kim Cang Thủ.
TAM
là chủng tự của đức Quan Âm Tara. Cũng giống như chữ MU,
TA là âm đầu của Phổ Tara, cộng thêm chóp mũ trên đầu
thành chữ TAM.
Màu
sắc của năm chủng tự này tương ứng với màu sắc của
năm vị Phật và Bồ tát. Mỗi chữ được bao quanh bằng minh
chú riêng. Chúng ta nên đọc cả năm minh chú, càng nhiều lần
càng tốt.
OM
MUNI MUNI MAHA MUNIYE SVAHA là minh chú của Phật Thích Ca
Mâu Ni. MUNI (Mâu ni) có nghĩa là người-có-khả-năng (năng
nhân), MAHA MUNI có nghĩa là người-vĩ-đại-có-khả-năng. Xét
theo nguyên nghĩa, chữ OM là chữ tắt của ba Phạn tự A-U-M,
tượng trưng cho thân miệng và ý của Phật, đồng thời cũng
là thân miệng ý của người tu.
OM
MANI PADME HUM là minh chú của Bồ tát Quan Tự Tại. MANI
tiếng Phạn có nghĩa là ngọc báu, tượng trưng cho phương
tiện. Ý nghĩa chữ Phương tiện trong mật tông đại thừa
là tâm bồ đề, là đại từ - đại bi (mahamaitri - mahakaruna).
PADME
là hoa sen, tượng trưng cho tuệ giác tánh Không.
HUM tượng
trưng cho sự hợp nhất. Tương tự như OM vừa tượng
trưng cho thân miệng ý bất tịnh của người tu, vừa là thân
miệng ý thanh tịnh của Phật đà; chữ HUM cũng có nghĩa
là nhờ tu tập nên có thể chuyển thân miệng ý của mình
thành thân miệng ý của Phật. Ba cửa bất tịnh chuyển thành
ba cửa thanh tịnh.
Chuyển
hóa bằng cách nào? Sự chuyển hóa này được thể hiện qua
hai chữ MANI và PADME, tượng trưng cho phương tiện
và trí tuệ.
Như
đã nói, phương tiện là tâm bồ đề, là đại từ, đại
bi mà cũng là Hộ Phật Du Già; còn trí tuệ là tuệ giác tánh
Không. Chữ HUM là sự hợp nhất của phương tiện và
trí tuệ. Phương tiện và trí tuệ hợp nhất có khả năng
chuyển thân miệng ý bất tịnh thành thân miệng ý thanh tịnh.
Ðó
là ý nghĩa của Om Mani Padme Hum. Minh chú này ai cũng biết,
đúng không? Rất nhiều người nghe nói tới minh chú này. Nghĩa
đen của minh chú này là "người cầm đóa sen và ngọc quí
trong tay".
OM
WAGI SHVARI MUM là minh chú của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.
WAGI
tiếng Phạn nghĩa là lời nói; SHVARI là người. Nghĩa
đen của minh chú này là "người có tiếng lời tuyệt hảo"
OM
VAJRA PANI HUM là minh chú của Bồ tát Kim Cang Thủ. PANI
là bàn tay. Tây tạng dịch Kim Cang Thủ là "người cầm chày
kim cang trong tay". Ðó là nghĩa đen của chú. Xét về nghĩa
thật sự, VAJRA có nghĩa là sự kết hợp giữa phương tiện
và trí tuệ. Nếu chày kim cang và chuông báu đi chung thì chày
kim cang là phương tiện mà chuông báu là trí tuệ. Nhưng nếu
chỉ nói đến một mình chày kim cang thì chày này là biểu
tượng của sự hợp nhất giữa phương tiện và trí tuệ.
OM
TARA TUTTARE TURE SVAHA là minh chú của Bồ tát Quan Âm
Tara. Tên chữ Phạn của ngài là TARA, Tây tạng dịch
là Dolma, nghĩa là đấng cứu độ [Hoa văn dịch là Độ Mẫu].
TUTTARE là sự giải thoát to lớn hơn nữa. SVAHA
là an trú.
Chú
tiếng Phạn gọi là mantra, phân tích ra thành chữ mana, nghĩa
là tâm, và chữ tra, nghĩa là bảo vệ. Vậy mantra mang ý nghĩa
hộ trì tâm thức. Trong mật tông đại thừa, chú có nghĩa
là giữ gìn không để tâm hiện tướng chúng sinh, cũng không
để tâm chấp bám vào tự tánh của sự vật.
Khi
tu theo pháp tu quán tưởng Hộ Phật Du Già, người tu cố gắng
nuôi dưỡng cảm giác mình là đấng Hộ Phật. Khi thiền định
chú tâm vào đấng Hộ Phật, mặc dù mắt, tai... vẫn nghe
thấy mọi việc như bình thường, nhưng trên lãnh vực ý thức,
phải thu nhiếp tất cả mọi nhận thức hay tướng hiện nào
thuận theo vô minh chấp có tự tánh, để tâm thức an trú
trong trạng thái thanh tịnh nhiệm mầu. Nhờ tu theo phương
pháp này, tâm người tu sẽ không rơi vào niệm chúng sinh chấp
có tự tánh. Ðó là ý nghĩa của chữ "mantra".
Phật
giáo phân biệt nhiều loại chú (mantra), như là thần chú "thế
gian", minh chú "xuất thế", minh chú "gốc", minh chú "tinh túy"
hay "tâm chú", và minh chú "gần như tinh túy". Ðó là bốn loại
chú. Có loại bắt đầu bằng Om nhưng không có Svaha phía sau.
Có loại có Svaha phía sau, lại có loại có cả hai, hoặc không
có cái nào cả.
Chúng
ta chủ yếu là tụng minh chú của Phật, Om Muni Muni Maha Muniye
Svaha.
Phật
là đấng đạo sư, bốn vị đại Bồ tát vây quanh là hiện
thân của Phật, hiện ra vì một lý do nhất định. Ví dụ
muốn chuyên chú phát triển lòng từ bi thì nên tụng chú của
đức Quan Tự Tại là Om Mani Padme Hum. Chú này cũng thường
được tụng cho người đã mất. Khi mẹ tôi qua đời, anh
chị tôi và nhiều người khác kể cả tôi đều tụng Om Mani
Padme Hum một trăm ngàn lần hay nhiều hơn. Tụng như vậy rất
tốt cho sự chuyển hóa tâm thức trên lãnh vực phương tiện.
Chúng tôi thường vẫn làm như vậy.
OM
WAGI SHVARI MUM là minh chú của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi,
rất tốt cho sinh viên học sinh. Tụng chú này tăng trí thông
minh, giúp đầu óc bén nhạy. Nhiều lúc chúng tôi tụng DHIH
DHIH DHIH DHIH một trăm lẻ tám lần liên tục hay nhiều hơn,
trong cùng một hơi thở. Lấy một hơi thật dài, rồi tụng
một mạch DHIH DHIH DHIH DHIH... làm như vậy trí nhớ sẽ gia
tăng.
OM
VAJRA PANI HUM là minh chú của Bồ tát Kim Cang Thủ, giúp
phá tan mọi chướng ngại vô hình. Ðương nhiên là không nên
mê tín dị đoan, nhưng nếu không vì lý do gì lại liên tục
xảy ra nhiều điều quái lạ, như vậy cũng có khi là vì gặp
phải chướng ngại vô hình. Tụng chú này có thể giúp làm
tan biến loại chướng ngại này.
OM
TARA TUTTARE TURE SVAHA là minh chú của Bồ tát Quan Âm
Tara. Chú này giúp tăng tuổi thọ, rất lợi ích khi gặp bịnh
nặng cần điều trị. Chú này cũng giúp cho công việc làm
ăn được thuận tiện.
Căn
bản công phu tụng chú là tâm bồ đề: cầu thành Phật vì
lợi ích chúng sinh. Khi đang cố gắng thực hiện mục tiêu
tối hậu này, có khi cần thành tựu một vài mục tiêu ngắn
hạn trước mắt, như sống lâu, thành công, thêm trí tuệ,
hay đạt thành tựu. Trên căn bản vị tha này, tụng chú có
thể mang lại nhiều hiệu quả.
Phương
pháp tu mật cũng được dùng để thực hiện nhiều việc
làm như hàng phục, tăng trưởng, năng lực hay oai thần. Ðể
minh chú có năng lực, trước tiên cần phải thành tựu tánh
Không và tâm bồ đề.
D.
Quán tánh Không
Muốn
thấy tất cả mọi hiện tượng hư vọng đều như nhau trong
tánh Không, cần thiền quán về tánh Không. Bao giờ tu thiền
chỉ và phát tâm bồ đề đã có tiến bộ, khi ấy có thể
bắt đầu thiền quán tánh Không.
Thông
thường người tu không cần phải thu nhiếp tướng hiện của
sự vật khi thiền quán về tánh Không, nhưng ở đây vì tu
theo phương pháp mật tông nên tướng hiện của sự vật cần
được thu nhiếp.
Phương
pháp này có thể bắt đầu bằng hai cách, tác dụng giống
nhau: hoặc thu nhiếp mọi tướng hiện trước, quán tánh Không
sau, hoặc quán tánh Không trước rồi thu nhiếp tướng hiện
của sự vật sau.
Bây
giờ thử giải thích sơ lược về nội dung thiền quán tánh
Không. Ở đây, quan trọng nhất là phải nhận diện cho chính
xác đâu là đối tượng cần được phủ định.
Nói
chung, những tông phái lớn trong Phật giáo đều công nhận
cái gọi là bốn dấu ấn Phật giáo [Tứ Pháp Ấn]:
Mọi
hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường
Mọi
hiện tượng ô nhiễm đều là khổ
Mọi
hiện tượng đều vô ngã và đều là không
Chỉ
có niết bàn là an lạc chân chính (4)
Vô
ngã nói ở đây ứng với nghĩa “không có cái ngã của con
người” (nhân vô ngã). Còn vô ngã của sự vật (pháp vô
ngã) chỉ thấy nói trong hai tông phái đại thừa là Duy thức
tông và Trung quán tông.
Trong
kinh Giải Thâm Mật, Duy thức tông nói về hai loại tánh Không.
Loại tánh Không thứ nhất như sau: dù sắc là đối tượng
của ý, nhưng lại không phải là đối tượng của nhận thức
tin sắc có tự tánh. Sắc chỉ là tên gọi, là giả danh, do
ý chủ động gán tên. Vậy khi nói không có sắc làm nền
tảng cho cái tên, đây là một loại tánh Không.
Ngoài
ra, Duy thức tông còn nói về một loại tánh Không thứ hai:
thế giới khách quan không thể có ngoài tâm thức. Duy thức
tông cho rằng thế giới khách quan hoàn toàn không hiện hữu,
tất cả đều do tâm phóng hiện. Tánh Không của Duy thức
tông không giống với tánh Không trong Trung quán. Duy thức tông
tuy phủ nhận tự tánh của thế giới hiện tượng khách quan
bên ngoài, nhưng lại tin vào tự tánh của tâm.
Xét
theo quan điểm Trung quán tông sẽ thấy Duy thức tông thật
ra vướng vào cả hai cực đoan, là thường kiến và đoạn
kiến. Cho rằng thế giới ngoại cảnh không có thật, như
vậy là đoạn kiến. Lại tin rằng thế giới tâm thức có
tự tánh, như vậy là thường kiến.
Quan
điểm Trung Quán tông cho rằng cả hai thế giới nội tâm và
ngoại cảnh đều không có tự tánh, tuy vậy vẫn hiện hữu
trên lãnh vực tương đối.
Trung
quán tông chia thành hai hệ phái khác nhau. Hệ phái đầu nói
rằng thế giới hiện tượng khách quan không hiện hữu, vì
không phải là đối cảnh của tuệ giác trực ngộ chân tánh,
tuy vậy sự vật vẫn có một cái gì, một tính chất sẵn
có nào đó, khiến chúng có khả năng hiện hữu trong lãnh
vực tương đối. Ví dụ khi tìm về cái tôi, hệ phái này
nói rằng "tâm thức là chân tướng của con người", hay những
điều đại loại. Nói chung hệ phái này vẫn thấy có một
điều gì đó có thật ngay từ trong đối cảnh.
Còn
hệ phái thứ hai cũng nói rằng sự vật không hiện hữu vì
không phải là đối cảnh của tuệ giác trực ngộ chân tánh,
tuy vậy, nếu dùng lý luận truy tìm bản thân của chính sự
vật, cũng sẽ không thể tìm ra gì cả. Ðó là kiến giải
của hệ phái thứ hai. Kiến giải này thâm sâu hơn, vì không
dẫn đến những kết quả phi lý. Còn kiến giải của những
tông phái khác khi phân tích kỹ sẽ tìm ra nhiều kết quả
phi lý.
Các
nhà luận giải Trung quán tông khi đưa ra thuyết tánh Không,
đã áp dụng nhiều phương pháp luận lý. Một trong những
phương pháp được áp dụng là phân tích quá trình chuyển
biến của sự vật, phương pháp này được gọi là "luận
lý kim cương đoạn"(5) , là phương pháp nhìn vào hậu quả
của sự việc. Lại có phương pháp phân tích cả hai khía
cạnh nhân và quả. Lại có phương pháp gọi là "luận lý
vương"(6) , xét về nhân duyên. Còn một phương pháp nữa,
nhìn vào chính sự vật mà phân tích để quan sát sự không
có tính chất đồng nhất hay dị biệt. Loại luận lý này
có hai cách quan sát khác nhau.
Bây
giờ tôi xin giải thích ngắn gọn về thiền quán tánh Không
theo phương pháp quan sát sự không có tính chất đồng nhất
hay dị biệt(7) .
Muốn
thiền quán về tánh Không, trước hết phải biết tánh Không
mình đang quán là gì. Nếu không biết đối tượng cần phủ
định là gì, sẽ không làm sao có thể thấy được sự vắng
mặt của đối tượng ấy.
Ðể
nhận diện tánh Không, dễ nhất là quan sát cái ngã của chính
mình. Nhìn lại những cảm giác rất tự nhiên như là "tôi
đi, tôi ăn, tôi ở", thử quan sát xem "cái tôi" đó hiện ra
trong trí mình ra sao. Rồi thử áp dụng vài phương pháp khác
nhau, ví dụ như nhớ lại những lúc thật bực mình, hay bị
hàm oan, hay thật sảng khoái, hay đang được khen... Vào những
lúc ấy, tâm trí chao động mạnh, quí vị sẽ cảm nhận được
cái ngã của mình một cách rõ rệt.
Khi
cái tôi hiện ra rõ ràng như vậy trong tâm trí, thử nhìn lại
xem có phải quí vị thấy cái tôi nằm ngoài thân tâm, như
một chủ thể độc lập? Cái tôi hiện ra rõ ràng đến độ
tưởng như có thể dí tay lên đó, một cái tôi hoàn toàn
không thuộc về thân tâm: đây chính là cái thấy hư vọng
nhất của tâm, là đối tượng cần được phủ định.
Ðiểm
quan trọng đầu tiên là phải biết nhận diện đối tượng
phủ định. Ðiểm quan trọng thứ hai là xét xem nếu "cái
tôi" có thật thì "cái tôi" này có phải là một với
thân tâm, hay tách lìa khỏi thân tâm, hay còn một cách hiện
hữu thứ ba nào khác.
Xét
tất cả những trường hợp có thể xảy ra, sẽ thấy nếu
cái tôi là một chủ thể độc lập có tự tánh thì bắt
buộc phải hoặc đồng nhất với năm hợp thể(8) , hoặc
dị biệt tách lìa khỏi năm hợp thể, không thể có trường
hợp thứ ba. Ðó là điểm quan trọng thứ hai. Chỉ có hai
trường hợp, hoặc là một với năm hợp thể, hoặc hoàn
toàn khác với năm hợp thể.
Bây
giờ thử suy nghĩ nếu cái tôi này đồng nhất với năm hợp
thể thì vì cái tôi chỉ có một nên hợp thể thân và tâm
cũng phải là một. Còn nếu cái tôi là dị biệt thì vì hợp
thể có nhiều hơn một nên cái tôi cũng phải nhiều hơn một.
Rồi bây giờ thử suy nghĩ, nếu cái tôi biệt lập này là
một thực thể nằm ngoài năm hợp thể, vậy lẽ ra cho dù
năm hợp thể có biến mất, cái tôi cũng vẫn còn. Nhưng sự
thật lại không như vậy.
Theo
đó cái tôi không thể là một với năm hợp thể. Cái tôi
hiện ra trong tâm trí quí vị đó, thật ra chỉ là một khái
niệm hư vọng, chỉ là ảo tượng. Cái tôi đó thật ra không
có.
Ví
dụ khi trời nhá nhem, có người nhìn cuộn dây thừng mà thấy
ra là rắn. Ðối cảnh là cuộn dây thừng, hoàn toàn không
có rắn, hình ảnh rắn chỉ hiện ra trong nhận thức của
người nhìn lầm. Năm hợp thể cũng vậy. Khi nhìn năm hợp
thể mà thấy cái tôi, mặc dù cái tôi đó có vẻ như nằm
trong năm hợp thể, nhưng thật sự năm hợp thể không có
chút gì có thể được xem là cái tôi cả. Tựa như nhìn dây
thừng mà thấy rắn, đó chỉ là cái thấy hư vọng không
thật.
Tương
tự như vậy, khi thấy có cái tôi khác với năm hơp thể,
xét từ phía năm hợp thể không có cái gì là cái tôi cả,
chỉ một cái tên gán lên tổ hợp của năm hợp thể. Vì
đối cảnh tự nó không có thực thể, nên cả hai trường
hợp đều như nhau.
Nói
riêng về phía đối cảnh thì hoàn toàn không có gì khác biệt.
Sự khác biệt phải đến từ nhận thức. Lấy cuộn dây thừng
mà gọi là rắn, đó là thực tại qui ước sai lệch. Sau đó
mặt trời mọc, cảnh tượng sáng tỏ, nhìn dây không còn
thấy rắn nữa, khi ấy nhận thức sai lầm bị nhận thức
đúng đắn xua tan.
Nhìn
dây mà thấy rắn, lầm lẫn như vậy có khi rất tai hại.
Tuy vậy trong trường hợp của “cái tôi”, mặc dù cũng
không có chủ thể khách quan, nhưng nếu lấy năm hợp thể
làm nền tảng để gọi làm cái tôi, thì tên gọi này vẫn
rất hữu dụng trên lãnh vực qui ước, không có loại nhận
thức nào có thể xua tan.
Còn
nếu nghe vậy rồi kết luận rằng không có ai hiện hữu cả,
thì kinh nghiệm bản thân sẽ cho thấy kết luận này sai lầm.
Do đó, hiện hữu của con người chỉ có thể biết được
nhờ phần tâm thức chủ động đặt tên. Vì vậy mà nói
sự vật chỉ là giả danh, không có chủ thể khách quan.
E.
Hỏi đáp
Hỏi.
Nói về pháp quán hơi thở, thân đi vào quá trình tan rã là
vì tính chất của thân là biến chuyển, đến một lúc nào
đó người tu chứng được cảnh luân chuyển liên tục của
mọi sự. Pháp quán Phật giáo mật tông nói sao về việc này?
Ðáp.
Quán
có hai loại, một là quán về hiện tượng qui ước, hai là
quán về tánh Không. Trong số những pháp quán hiện tượng
qui ước, có nơi lấy hơi thở làm đề mục, cũng có nơi
quán tưởng thân Phật, hiện ra từ mình rồi tan về lại
chính mình. Ngoài ra cũng có những loại thiền quán thế tục,
chuyên chú về khuyết điểm cõi dục giới và về ưu điểm
cõi sắc giới và vô sắc giới. Ðó là quán bằng sự so sánh.
Các pháp quán này có thể áp dụng vào đầu buổi thiền,
ngay phần phát nguyện.
Ví
dụ khi quán khổ đau luân hồi thì phải quán về thân [thứ
nhất trong tứ niệm xứ], chú tâm vào khía cạnh dơ bẩn và
tạm bợ của thân người. Tiếp theo phải quán về thọ [thứ
nhì trong tứ niệm xứ], rồi quán về tâm [thứ ba trong tứ
niệm xứ], rồi ra sẽ có lúc bước đến giai đoạn quán
về pháp [thứ tư trong tứ niệm xứ]. Trong suốt quá trình
thiền quán tứ niệm xứ, người tu có thể chú tâm vào hơi
thở. Pháp quán hơi thở luôn có chỗ đứng trong bất
cứ pháp tu nào.
Ngài
Vô Trước, một vị cao tăng Ấn độ, giải thích quán là
quan sát quán chiếu cho đến khi đạt đến một trạng thái
tâm thức vi tế. Dùng tâm định để phân tích quán chiếu
thì đạt được trạng thái tâm thức vi tế, tâm trở nên
nhu nhuyễn. Trạng thái tâm thức vi tế nhu nhuyễn này được
gọi là tì bát xá na, là tuệ. Còn xa-ma-ta là định, là trạng
thái tâm thức định tĩnh, có được nhờ thu nhiếp tâm thức
khi thiền chỉ.
Nói
chung khi người ta nói về quán, tôi nghĩ họ nghĩ đến quá
trình phân tích quán chiếu nói trên.
Hỏi.
Thưa ngài, ngài có nói về chú và tác dụng của chú. Có loại
giúp trí tuệ, có loại giúp định tâm. Tôi tự hỏi làm sao
một chuỗi âm thanh lại có thể có được tác dụng như vậy.
Ðáp.
Âm thanh lập đi lập lại của chú chỉ là mặt ngoài. Khi
đọc chú, cần nhớ ý nghĩa của chú chứ không thể chỉ
quan tâm đến âm thanh.
Làm
sao minh chú lại có thể tạo tác dụng, điều này rất khó
giải thích. Tôi cho rằng tụng minh chú đúng cách sẽ giúp
thu thập được nhiều công đức. Ngoài ra, đương nhiên còn
năng lực gia trì. Minh chú được truyền lại nhờ một số
năng lực nào đó, rồi với thời gian, nhiều người tụng
cùng một câu minh chú, qua đó minh chú tích lũy được nhiều
năng lực gia trì. Như lúc nãy tôi có nhắc đến, chỗ ngồi
thiền tích tụ năng lực gia trì nhờ trước đây có bậc
thánh nhân ngồi thiền nơi đó, rồi chỗ ngồi có thể truyền
năng lực gia trì này lại người đời sau. Minh chú cũng vậy.
Nếu
quí vị tu theo pháp tu vận khí du già, quán tưởng các luồng
khí vi tế trong cơ thể, có khi có thể vận dụng mối tương
quan chặt chẽ giữa minh chú và công phu vận khí du già. Loại
công phu này không phải là chủ đề chính của buổi nói chuyện
hôm nay, vì vậy tôi xin miễn đi vào chi tiết. Công phu tụng
chú chỉ thật sự có tác dụng khi tu theo Mật tông Tối thượng
Du già, ở đó minh chú tác động tới khí vi tế, giọt tinh
khí và khí mạch.
Hỏi.
Xin ngài nói thêm về niết bàn.
Ðáp.
Trước hết, hãy đợi tôi thành tựu niết bàn trước đã
(đức Ðạt-lai Lạt-ma ra dáng ráo riết ngồi thiền, cử tọa
ồ cười).
Thật
sự là khi đạt tới thành quả cao nhất, thái độ của chúng
ta về thế giới hiện tượng sẽ thay đổi hoàn toàn. Hiện
giờ tâm chúng ta tràn đầy tham lam, ghét bỏ, sợ sệt, chứa
đủ loại tâm lý bất thiện, đủ loại cảm giác, tình cảm.
Vì ý nghĩ bất thiện mà chúng ta không thể thấy được chân
tướng của thực tại. Tựa như nhận thức bị nhuộm màu,
khiến chúng ta không thể đơn giản nhìn vào thật tướng
của sự vật.
Vì
vô minh chấp có tự tánh, nên tất cả mọi sự hiện ra như
một thực tại độc lập. Một cảnh giới sừng sững chắc
thật hiện lên cùng với đối tượng của nhận thức, phóng
ảnh lên nhận thức.
Khi
đạt niết bàn, tất cả mọi trạng thái tâm thức hư vọng
méo mó nói trên đều tan biến hết. Ðiều này sẽ khiến
thái độ của chúng ta đối với thế giới hiện tượng sẽ
hoàn toàn thay đổi.
Hỏi.
Nhưng khi ấy có còn giao tiếp với thế giới hiện tượng
được không?
Ðáp.
Khi
ấy tốt xấu, thiện ác, vẫn không đồng, vì vậy chúng ta
vẫn sẽ thấy có cái tốt cái xấu.
Giác
ngộ có nhiều giai đoạn khác nhau. Cao nhất là thành Phật,
ở đó ngay cả hiện tướng của tự tánh cũng không còn.
Chúng ta có thể thấy đây là điều có thể thực hiện được.
Tâm chúng ta từ thời thơ ấu đến nay đã thay đổi biết
bao nhiêu, hiểu biết nhiều hơn, thái độ hành xử cũng theo
đó mà thay đổi. Tương tự như vậy, nếu kiên trì thiền
quán về tánh Không, sau vài năm chúng ta cũng sẽ có thể chứng
kiến sự lớn mạnh của tâm thức, giống như sự trưởng
thành trong đời sống thế tục. Càng lâu, càng cố gắng,
sẽ càng nhiều kinh nghiệm tâm linh, chắc chắn là như vậy.
Có
lần, tôi nghĩ vào khoảng những năm 60 hay 70, tôi thiền quán
rất miên mật về tánh Không. Một hôm tình cờ đọc được
một câu của Lạt-ma Tông Khách Ba [TsongKhapa] nói rằng: năm
hợp thể không phải là ngã, mà ngã cũng không phải là sự
liên tục của năm hợp thể." Khi đọc câu này, tôi giật
mình.
Ðó
là tinh túy của một trong những giáo thuyết của ngài Long
Thọ, một vị đại đạo sư Ấn độ:
Con
người không phải là đất
Không
phải là nước, lửa, gió.
Ðồng
thời cũng không có con người nào
Nằm
ngoài bốn thành phần đất nước lửa gió.
Sách
còn nói nếu dùng luận lý phân tích tìm xem vật thể là cái
gì, chắc chắn sẽ không tìm thấy. Ngay lúc ấy, tôi có được
chút chứng ngộ, những ngày tiếp theo tôi để ý thấy tâm
mình biến chuyển, cảm giác và thái độ đối với thế giới
xung quanh khác trước rất nhiều.
Hỏi.
Có thể nào không tu mà có được kinh nghiệm tâm linh? Tôi
muốn nói tới trường hợp ít ai biết tới là ông Younghusband.
Người này có kinh nghiệm rất sâu về Lhasa, khi mới khoảng
40 tuổi, và hãy còn là vị sĩ quan nhiều triển vọng nhất
của quân đội Anh. Ông ta bỏ quân đội, thiết lập một
tổ chức tên là Hội Giác Ngộ Tâm Linh, và cống hiến cuộc
đời còn lại cho tổ chức này.
Có
khi nào vì tâm nguyện riêng hay vì bị chấn động sao đó
mà đột nhiên có được khả năng thiền định miên mật,
không cần phải trải qua quá trình chuẩn bị sơ khởi?
Ðáp.
Ðiều này có thể xảy ra. Nhưng xét theo quan điểm Phật giáo,
đây không phải là kết quả của khả năng cá nhân, cũng
không phải vì hoàn cảnh bên ngoài, mà bên dưới còn nhiều
nguyên do khác. Trọn con đường chuẩn bị sơ khởi đã có
sẵn, chỉ đợi yếu tố tác động. Khi yếu tố tác động
xảy ra, tự nhiên sẽ trổ quả.
Hỏi.
Thưa ngài, thật ra mật tông là gì? mật tông có từ thời
của đức Phật hay đến sau?
Ðáp.
Có những hệ thống tín ngưỡng cho rằng toàn bộ đại thừa
không phải do Phật dạy. Cũng có nơi cho rằng mật tông là
những giáo phái phát triển sau thời Phật.
Nếu
không chấp nhận đại thừa là giáo pháp Phật dạy, vậy
chính quả vị Phật cũng thành chuyện đáng ngờ. Vì vậy
dù sao vẫn phải thấy rằng đại thừa là chánh pháp.
Sự
khác biệt giữ đại thừa và tiểu thừa nằm ở chỗ Phật
dạy đại thừa cho một số đệ tử chọn lọc, không phải
là giáo pháp dành cho đại chúng. Trong một thời gian dài,
giáo pháp đại thừa được giữ kín. Mật tông lại càng
được giữ gìn kín mật hơn nữa. Tùy vào duyên nghiệp của
người cần được giáo hóa, tùy khả năng tu học của cộng
đồng Phật tử mà những giáo pháp khác nhau được giữ kín
hay quảng bá rộng rãi. Sự xuất hiện của đại thừa và
mật thừa không chỉ giới hạn ở thời gian đức Phật lịch
sử còn tại thế. Ðại thừa nói rằng Phật Thích Ca nhập
diệt rồi vẫn như còn tại thế. Có nhiều trường hợp người
đời sau vẫn được Phật đích thân giáo hóa. Ðức Phật
lịch sử không từng sang Tây tạng, nhưng có một số Phật
tử Tây tạng có được kinh nghiệm thâm sâu, từ trong thiền
định thấy được đức Phật. Họ nhập định, được Phật
trực tiếp truyền thọ chánh pháp.
Vì
muốn hướng dẫn từng bước đi của chúng sinh trên con đường
tu chứng, Phật hóa hiện nhiều sắc tướng khác nhau để
giáo hóa đệ tử. Có khi Phật hiện tướng xuất gia, có khi
Phật hiện thân Phật Kim Cang Tát Đỏa, có khi lại hiện thành
nhiều vị thần và Phật trong các mạn đà la v.v...
Hỏi.
Tôi có một câu hỏi liên quan đến thuyết tánh Không Trung
quán. Có khi nào không cần phải quán mà vẫn trực chứng
tánh Không?
Ðáp.
Muốn phát triển tuệ giác tánh Không, thật ra không nhất
thiết phải quán, cũng không cần chỉ. Ðây là một vấn đề
hoàn toàn khác. Chỉ quán rất hữu ích, nhưng không phải là
phương pháp duy nhất.
Kinh
nghiệm về tánh Không lúc ban đầu, một thứ kinh nghiệm tươi
mát về tánh Không, phải đến từ lý luận. Không cần phải
lý luận giống như những gì tôi giải thích ở đây, nhưng
người tu phải đặt câu hỏi, chiêm nghiệm tư duy để có
được phần trí tuệ đến từ sự hiểu. Loại trí tuệ này
về sau sẽ dẫn vào tuệ giác trực nhận tánh Không.
Hỏi.
Câu hỏi của tôi cũng cùng một đề tài. Khách quan mà nói,
ngài nói rằng vô ngã có thật, nhưng lại nói sắc và chân
cảnh giới đều thuộc lãnh vực chủ quan. Tôi cảm thấy
như vậy mâu thuẫn, vì kinh nghiệm về ngã vẫn còn. Ngoài
ra, tôi cũng xin được hỏi trong trường hợp nào tâm thức
trong mơ gặp được cảnh sống thực tế?
Ðáp.
Tôi xin trả lời câu hỏi thứ nhì trước.
Nói
tới thân và tâm trong giấc mơ là nói tới một loại kinh
nghiệm rất khác. Loại thân này hoàn toàn tự chủ tự lập,
không dính gì tới thân thô lậu vật lý. Thân vật lý và
thân trong giấc mơ thuộc về hai lãnh vực hoạt động hoàn
toàn khác nhau. Thân trong mơ có thể thấy được việc xảy
ra hàng ngày. Khi là ngày thì thân trong mơ này thấy ngày, khi
đêm thì thân này thấy đêm.
Hỏi.
Vậy còn những giấc mơ tiên tri?
Ðáp.
Ðây không phải là chức năng duy nhất của thân trong mơ.
Thân trong mơ có thể tùy ý rời thân vật lý. Vì vậy thân
trong mơ có những tính năng rất đặc biệt.
Vài
năm trước, tôi có gặp một người có khả năng đặc biệt
này, không phải do tu tập mà là do nghiệp báo. Người ấy
cảm thấy rất lúng túng, hỏi tôi nên làm gì. Theo lời người
ấy nói, trong giấc ngủ người ấy thường du hành khắp mọi
nơi, thấy đủ mọi chuyện xảy ra trong đời sống bình thường,
có khi là việc xảy ra ở những nơi rất xa.
Trở
lại câu hỏi về thiền quán tánh Không. Khi nói tới tánh
Không, chúng ta hoàn toàn không phân biệt chủ thể và khách
thể. Cả hai đều không có tự tánh. Nếu tìm kiếm, sẽ không
thể tìm ra cái được nhận thức, và cái đang nhận thức.
Có thể lấy tâm làm đối cảnh của tâm. Trong trường hợp
này, tâm là khách thể. Truy tầm tâm khi tâm là khách thể,
cũng sẽ không thể tìm ra gì cả, giống như khi tìm về chủ
thể.
Lý
do rốt ráo khiến phải phủ nhận tự tánh, là vì khi truy
tìm sẽ không thể tìm thấy gì cả. Ðó là ý nghĩa rốt ráo.
Vì lý do này, trên phương diện qui ước, chúng ta phải đơn
giản chấp nhận sự việc là như vậy. Không thắc mắc gì
nhiều, chúng ta chấp nhận đây là cái hoa, kia là người đàn
ông; người này Ấn độ, người kia Tây tạng v.v... Chúng
ta đơn giản chấp nhận hiện tượng qui ước, điều này
không có vấn đề gì cả. Nhưng nếu tìm kiếm sâu xa hơn,
hỏi "tôi là ai? Thật sự con người là cái gì? Ngã là cái
gì?" nhìn theo khía cạnh này, sẽ không tìm thấy gì cả.
Hỏi.
Vậy còn tâm thức?
Ðáp.
Tâm thức là gì? Chúng ta cảm thấy có tâm thức, chúng ta
có được khái niệm về cái gọi là tâm thức. "Hôm nay tâm
tôi trì độn quá". "Hôm nay tâm tôi thật rõ ràng". Chúng ta
có thể nói như vậy, không thắc mắc gì nhiều, không tìm
kiếm sâu xa, và làm vậy mọi việc ổn thỏa. Nhưng nếu thật
sự muốn tìm thấy cái gì đích thật là tâm, sẽ không thể
tìm ra.
Ta
có thể nói "đây là ngón tay của tôi, hữu dụng lắm". Giống
như vầy (đức Ðạt-lai Lạt-ma đưa ngón tay lên khiến mọi
người cười ồ). Nói như vậy không ai có thể cãi được.
Nhưng "ngón tay" thật ra là cái gì? Là màu sắc? là da, là
xương, là máu? Ngón tay là cái gì? Nếu phân tích từng tế
bào, từng thành phần cấu tạo của ngón tay, sẽ không thể
tìm thấy có cái gì có thể gọi "ngón tay".
Duy
thức tông, một trong những tông pháp Phật giáo, nói rằng
trong cuộc truy tìm này, đối tượng bị tìm [ngón tay] là
điều không có thật, nhưng tâm thức người tìm lại có thật.
Hỏi.
Vì sao đức Quan Âm Tara lại liên quan đến pháp tu trường
thọ?
Ðáp.
Ðức Quan Tự Tại được xem là hiện thân của lòng từ bi
và đức Văn Thù Sư Lợi được xem là hiện thân của trí
tuệ, tương tự như vậy, đức Quan Âm Tara được xem là hiện
thân của một loại năng lực vi tế, gọi là khí.
Muốn
sống lâu quan trọng nhất phải duy trì sự liên tục của
nội khí. Tôi nghĩ sống lâu và nội khí có liên hệ mật
thiết với nhau, vì có những pháp tu luyện khí để kéo dài
tuổi thọ.
Hành
trì pháp tu Quan Âm Tara để chữa bịnh, đó là dựa theo chức
năng của năm vị đại Bồ tát mà nói như vậy. Còn nói chung
về phương pháp tu thiền để trị bịnh thì có đức Phật
Dược sư, vì chữa bịnh cho chúng sinh chính là đại nguyện
của Phật Dược sư.
Khi
quán tưởng ngài Quan Âm Tara, phải tưởng tượng minh chú
quay thành vòng tròn nơi tim ngài. Ánh sáng phóng ra từ vòng
tròn minh chú đó, tan vào trong thân thể của chúng ta. Rồi
tập trung mãnh liệt vào những nơi đang có bịnh. Có thể
tùy căn bịnh mà quán ánh sáng nóng hay lạnh.
Hỏi.
Có phải có nhiều vị Bồ tát như vậy là để tượng trưng
cho nhiều chức năng của Phật?
Ðáp.
Ở đây có hai cách hiểu. Một là thấy mỗi vị Bồ tát tượng
trưng cho một thiện đức của Phật. Hai là thấy mỗi vị
tượng trưng cho một phương pháp tu chứng, đồng thời cũng
là thành quả của pháp tu ấy. Tu theo pháp tu nào thì khi giác
ngộ sẽ trở thành vị Hộ Phật của pháp tu ấy. Nếu hiểu
theo cách này thì Quan Âm Tara hay Quan Tự Tại đều khác với
đức Thích Ca Mâu Ni. Còn nếu hiểu theo cách trước thì các
vị Bồ tát biểu hiện cho nhiều thiện đức của cùng một
vị Phật.
Hỏi.
Ngài nói với chúng tôi rằng chữ chú – mantra – có nghĩa
là bảo vệ tâm, vậy đây phải là điều tốt lành. Nhưng
có khi tôi lại nghe kể về chuyện dùng chú để hại người.
Ðiều này có thật không?
Ðáp.
Có thể lắm. Mật pháp vốn liên quan đến bốn tác dụng
huyền bí là hàng phục, tăng trưởng, quyền năng và oai thần.
Bốn điều này có khi bị lạm dụng.
Người
tu theo mật tông có rất nhiều loại, chắc chắn là có người
thiếu khả năng nhập định, thiếu bồ đề tâm, hay là thiếu
trí tuệ tánh Không. Có người lại thiếu cả ba. Vì vậy
trường hợp sa đọa lạm dụng mật pháp để hại người
có khi xảy ra. Nhưng quyền năng của chú trong trường hợp
này nói chung rất giới hạn.
Hỏi.
Vậy có nên dùng cùng chữ mantra cho trường hợp dùng chú
hại người hay không? Gọi như vậy không đánh mất ý nghĩa
chính của chữ này hay sao?
Ðáp.
Ðương nhiên trong trường hợp này chú không còn mang ý nghĩa
bảo vệ tâm.
Chú
được dùng trong rất nhiều pháp tu. Có rất nhiều loại chú.
Ví dụ có bộ minh chú của Phật Kim Cang Tát Đỏa truyền,
được ghi chép trong mật điển, lại có các bộ thần chú
do loài người nhận được từ các vị thần linh thuộc cõi
luân hồi thế tục.
Nói
chung rất khó phân biệt đâu là minh chú Phật giáo đâu là
thần chú ngoại đạo. Muốn phân biệt, cần xét xem có yếu
tố nào liên quan đến tuệ giác tánh Không và tâm bồ đề
(nghĩa là cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh) hay không.
Xét thẳng nơi chú rất khó nhìn ra. Phải xét xem chú ấy dựa
trên giáo pháp như thế nào mới có thể biết được. Các
loại thần linh, mạn đà la và chú dựa trên nền tảng thuyết
hữu ngã đều không phải là Phật giáo. Còn thần linh,
mạn đà la và chú dựa trên thuyết vô ngã, thì mới thuộc
về Phật giáo mật tông.
Hỏi.
Thưa ngài, tôi thấy thuyết tánh Không của Trung Quán thật
nguy hiểm. Thuyết này có thể khiến người ta nghĩ rằng "ở
đây thật sự chẳng có cái gì cả, cần gì phải cố gắng!"
Ðáp.
Như đã nói, trước hết cần phân biệt rõ ràng cảnh giới
không-tự-tánh và cảnh giới qui ước. Thử nói về duyên
sinh, có thể sẽ thấy câu trả lời.
Nói
chung, duyên sinh mang nghĩa lệ thuộc. Ðể hiểu rõ về vấn
đề này, cần hiểu rằng rằng độc lập và lệ thuộc là
hai trạng thái đối nghịch trực tiếp. Sự vật chỉ có thể
hoặc không lệ thuộc vào cái gì cả, hoặc là lệ thuộc
vào điều khác, không thể có trường hợp thứ ba.
Khi
nói về hoa và không-phải-hoa, tất cả mọi hiện tượng đều
hoặc là hoa, hoặc không phải hoa, ngoài hai trường hợp mâu
thuẫn trực tiếp này ra, hoàn toàn không có trường hợp thứ
ba. Nhưng nếu nói đến đóa hoa và cái bàn, mặc dù hai hiện
tượng này cũng mâu thuẫn, nhưng vẫn có trường hợp thứ
ba. Ngoài hoa và cái bàn ra, hãy còn trường hợp chính giữa,
không phải hoa cũng không phải cái bàn.
Nói
như vậy, lệ thuộc và độc lập là hai cực mâu thuẫn trực
tiếp. Hiện tượng nào đã tùy nhân duyên mà sinh ra, thì phải
lệ thuộc vào nhân duyên. Ðồng thời, nếu đã là tổng thể,
thì phải lệ thuộc vào các thành phần cấu tạo. Hiện tượng
vật lý có hình sắc luôn có thành phần phương hướng trong
không gian, hiện tượng tâm lý không hình sắc luôn có thành
phần phương hướng trong thời gian.
Thử
quán sát một hiện tượng gồm những thành phần cấu tạo.
Xét trên khía cạnh vật lý, chúng ta có thể phân tích nhỏ
ra, cho đến tận các phân tử cực vi không thể nhỏ hơn nữa.
Nhưng những thành phần cực vi này vẫn có phương hướng
trong không gian. Vì vậy không làm gì có cái gọi là "thành
phần bất khả phân".
Ví
như có một thành phần cực nhỏ không có cả phương hướng
trong không gian, thành phần như vậy sẽ không thể gom lại
thành vật thể lớn hơn. Nếu không có thành phần phương
hướng trong không gian thì mặt quay về hướng tây cũng là
mặt quay về hướng đông, do đó không làm sao thể kết tụ
lại thành vật thể lớn hơn.
Trung
Quán phủ nhận thuyết chấp nhận sự có mặt của những
hiện tượng bất khả phân. Ngược lại, Trung quán nói rằng
mọi hiện tượng đều hiện hữu qua các thành phần cấu
tạo.
Ðó
là mức độ thứ nhất của duyên khởi. Ngoài ra, duyên khởi
còn nói rằng khi tìm xem vật thể thật sự là cái gì, sẽ
không thể tìm ra. Sự vật tùy thuộc vào tánh Không.
Nếu
hài lòng với sắc tướng qui ước thì tất cả đều ổn
thỏa. Nhưng nếu không hài lòng với sắc tướng qui ước
mà muốn tìm xem cơ sở của sắc tướng là gì, muốn kiếm
tính chất cố định nơi đối cảnh, sẽ không thể tìm thấy.
Một
khi hiểu được rằng không thể tìm ra điều gì cả, lúc
ấy sẽ dấy lên thắc mắc có phải sự việc vốn rỗng rang
không có gì hiện hữu? Nếu cho rằng sự việc không có gì
hiện hữu, kết luận như vậy là đi ngược với kinh nghiệm
bản thân, vì rõ ràng có một người đi tìm sự vật mà tìm
không ra, ngược lại chỉ tìm thấy sự không-thể-tìm-thấy
của sự vật. Thấy có người đi tìm sự vật và tìm ra sự
không-thể-tìm-thấy, cái thấy như vậy là nhận thức đúng
đắn, hoàn toàn trái ngược với câu kết luận sự vật không
hiện hữu.
Vậy
sự vật tuy có đó, nhưng không thể tìm thấy. Sự vật tuy
có thật, nhưng chỉ có tùy theo tên gọi và khái niệm: sự
vật là giả danh.
Bất
kể nhìn sự vật qua khía cạnh nào cũng chỉ thấy tính chất
lệ thuộc của nó. Sự vật tùy thuộc vào nhân duyên, tùy
vào thành phần cấu tạo, hay tùy vào khái niệm đặt tên.
Ðó là ba mức độ duyên sinh.
Phải
quán sát sắc tướng của sự vật. Tự hỏi "hiện tượng
này thật sự là cái gì, hiện ra trong nhận thức của tôi
như thế nào?” Hỏi rồi lại xét xem sự vật hiện ra trong
trí mình có trung thực với thực tại hay không, có khoảng
cách nào cách ngăn giữa sự-vật-như-thật và ảnh hiện của
vật ấy trong tâm của mình hay không. Rồi sẽ thấy sự-vật-như-thật
so với điều mình nhận thấy thật ra cách nhau rất xa.
Tâm
thức có hai mặt, thiện và bất thiện. Bất thiện là loại
tâm thức đến từ sự khẳng định có tự tánh. Nói cách
khác, để khởi hiện, loại tâm này cần dựa trên sự khẳng
định của tướng hiện, có thể là bị ảnh hưởng bởi
tâm giận dữ hay tham đắm. Ngay thời điểm chúng ta cảm thấy
tham đắm hay giận dữ, không những có đối tượng hiện
ra rõ ràng mà còn đi kèm với một loại khẳng định: chúng
ta tin chắc đối tượng 100% tốt lành vì vậy cảm thấy ưa
thích, hoặc là 100% tồi tệ, nên cảm thấy khó ưa.
Nếu
kẻ thù 100% là thù, vậy chắc chắn phải là kẻ thù của
tất cả mọi người. Nhưng kẻ thù của tôi có khi lại là
người bạn tốt nhất của một ai khác. Kẻ thù không hẳn
100% tồi tệ. Ðây chỉ là phóng ảnh của tâm giận dữ ghét
bỏ. Mọi tâm lý bất thiện đều cần dựa trên một loại
khẳng định tương tự. Trong khi tâm lý thiện lại không cần
như vậy.
Tánh
Không không thể chỉ nghe giải thích mà hiểu được. Không
phải như cái xe, một khi trỏ ra là ai khác cũng có thể thấy
biết. Tánh Không là đề tài mà hiểu biết trí thức và kinh
nghiệm trực chứng phải đi đôi với nhau.
Vì
vậy con đường này đòi hỏi rất nhiều thời gian. Không
thể chỉ tu vài ngày vài tuần mà có được kinh nghiệm trực
chứng. Phải kiên trì nhiều năm thiền quán chứng nghiệm,
họa may mới có kết quả. Dù sao, với thời gian, tánh Không
sẽ trở nên càng lúc càng rõ ràng hơn.
[Hết
phần giảng pháp
của
đức Đạt-lai Lạt-ma]
(1)Avatamsaka
Sutra.
(2)
The Perfection of Wisdom Sutra, Phạn:Prajna-paramita-sutra.
(3)
Akshobhya.
(4)
Tứ Pháp Ấn: các hành vô thường, các hành khổ não, các
pháp vô ngã, tịch diệt niết bàn.
(5)
The diamond slivers of reasoning.
(6)
The king of reasonings.
(7)
observes the absence of singularity and plurality.
(8)
ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Phụ Lục 1.
Pháp
Thiền Mật Tông Đơn Giản
dành
cho Phật Tử Nhập Môn
Tenzin
Gyatso, đức Ðạt-lai Lạt-ma đời thứ 14
biên
soạn
________________________________________
A.
Chuẩn bị chỗ thiền
Chỗ
ngồi thiền phải là nơi thanh tịnh. Nếu ở trong nhà, quí
vị nên chọn nơi yên tĩnh trang nghiêm nhất. Bắt đầu buổi
thiền bằng cách chuyên tâm quét dọn chỗ ngồi cho thật sạch.
Bàn
thờ nên xếp đặt hình tượng Phật và ba vị đại Bồ tát
hiện thân cho ba thiện đức của Phật, là đại Bồ tát Quan
Tự Tại (từ bi); đại Bồ tát Văn Thù Sư Lợi (trí tuệ);
và đại Bồ tát Kim Cang Thủ (năng lực) [dũng], cùng với
hình tượng của ngài Quan Âm Tara, thân nữ của Bồ tát Quan
Tự Tại, hiện thân cho thiện hạnh của mười phương Phật
đà. Tất cả những hình tượng này tượng trưng cho Thân
Phật.
Bên
phải Phật và chư Bồ tát nên đặt vài cuốn kinh, nhất là
kinh thuộc hệ Bát Nhã. Kinh sách tượng trưng cho Miệng Phật.
Bên trái Phật và Bồ tát, nên đặt một bảo tháp nhỏ, tượng
trưng cho Ý Phật. Nếu tìm không ra kinh sách thuộc hệ Bát
nhã, có thể thay thế bằng bất cứ bộ kinh Phật nào khác.
Hình tượng cũng vậy, nếu khó kiếm, chỉ một tấm hình
hay bức tượng của Phật thôi cũng đủ. Thật ra ngay cả
hình tượng Phật cũng không bắt buộc phải có. Ðiều quan
trọng nhất là giữ trạng thái tâm thức sao cho thật thích
hợp.
Tiếp
theo, quí vị nên bày biện phẩm vật cúng dường. Nên cúng
nước, hoa, hương, đèn, thực phẩm và âm nhạc. Bày biện
phẩm vật sao cho trang nghiêm đẹp đẽ để bày tỏ tấm lòng
tôn kính ngưỡng mộ.
Bày
biện phẩm vật cúng dường xong, ngồi xuống gối, mặt xoay
về hướng Ðông, chân xếp theo tư thế kiết già [hai chân
xếp lên đùi, hai lòng bàn chân ngửa lên trên] hay bán kiết
già [một chân xếp lên đùi, một chân để dưới]. Nếu cả
hai tư thế này đều khó, nên chịu khó ngồi như vậy một
lúc, sau đó có thể chuyển sang thế ngồi khác thoải mái
hơn.
B.
Hành thiền sơ khởi
Bây
giờ quí vị suy nghĩ như sau: hành động của thân này là
tốt, xấu, hay trung tính, tất cả đều tùy nơi ý. Vậy điều
quan trọng nhất là phải thuần hóa tâm thức. Trong hiện tại,
chúng ta may mắn được sinh ra làm người, có nhiều quyền
năng hơn bất cứ loài chúng sinh nào khác. Nếu chỉ cố gắng
đạt đến hạnh phúc của một kiếp này thôi thì thật quá
phí phạm.
Nếu
cố gắng như vậy mà tìm được niềm an lạc vĩnh cữu thì
nhiều người trong thế giới này với rất biết bao là quyền
năng, sức khỏe, bạn bè, chắc chắn đã đạt tới hạnh
phúc vĩnh cữu từ lâu. Nhưng thực tế không phải vậy. Mặc
dù trong đời sống vẫn có người sướng kẻ khổ, nhưng
nói chung ai cũng phải chịu đủ loại bức bách khổ đau thể
xác tinh thần, dù là vua, là dân, là người giàu kẻ nghèo.
Hãy
suy nghiệm cho tận tường, nhìn vào chính mình, tìm thử xem
đâu là nguyên nhân mang lại khổ đau, và đâu là nguyên nhân
mang lại hạnh phúc. Bao giờ hiểu được rõ hơn về nguyên
nhân tạo khổ, sẽ thấy ra chính tâm mình mới thật là thủ
phạm gây khổ, đồng thời cũng có nhiều yếu tố phụ làm
tăng giảm độ ô nhiễm của tâm. Tính chất ô nhiễm này
có thể được gạn bỏ hoàn toàn. Bao giờ tâm định tĩnh
vững vàng, chừng đó khả năng tách lìa ô nhiễm sẽ càng
lúc càng tăng, tâm chúng sinh nhất định sẽ chuyển thành
tâm Phật đà.
Suy
nghiệm như vậy một lúc, phát khởi lòng tin, thấy sự việc
quả là như vậy.
Khẩn
thiết nhất là đoạn diệt mọi nguyên nhân tạo khổ, tích
lũy mọi nguyên nhân tạo an lạc. Ðể thực hiện hai việc
này, phải biết nguyên nhân tạo khổ đau hay hạnh phúc là
gì. Cần tin tưởng tuyệt đối vào Phật pháp, với lòng tin
không mù quáng, mà càng lúc càng mãnh liệt tự tín vì lòng
tin này dựa trên căn bản của lý trí, dựa trên ánh sáng
của quá trình tìm tòi suy nghiệm.
C.
Qui y Tam bảo
Tiếp
theo khởi tâm qui y, đọc những dòng sau đây:
Nguyện
qui y Phật,
là
bậc toàn giác / là đại đạo sư
giáo
hóa chúng sinh / bằng với chánh pháp
trong
sáng chân thật / đến từ trí tuệ
chứng
ngộ viên mãn.
Nguyện
qui y Pháp,
là
đường giải thoát / toàn bộ khổ đau
mang
lại cội nguồn / an lạc chân chính.
Pháp
là giữ gìn / trong sáng ba cửa
thân
miệng và ý / nhờ đó tách lìa
tất
cả chướng ngại / đồng thời viên thành
tất
cả thiện đức.
Nguyện
qui y Tăng
Tăng
là đoàn thể / những bậc chân tu
đôi
chân trụ vững / trên đường giác ngộ.
Tín
tâm con đặt / ở nơi Tăng bảo
sẽ
không đổi dời / vì đây là chốn
nương
dựa chở che / con luôn cần có.
D.
Quán tưởng
Ở
khoảng không trước mặt, từ trong quán tưởng hiện ra một
ngai báu lộng lẫy. Trên đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
ngồi xếp chân theo tư thế kiết già. Tay phải Phật bắt
ấn “mời đất chứng giám”, lòng bàn tay úp xuống, đầu
ngón tay chạm chỗ ngồi. Tay trái Phật để ngang tầm bụng,
cầm bình bát chứa nước cam lồ trí tuệ.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni hiện ra lớn hơn các vị khác một chút.
Thân Phật toả ánh sáng vàng tươi chói rạng.
Trước
mặt Phật là hai vị đại đệ tử, tôn giả Xá Lợi Phất
và tôn giả Mục Kiền Liên. Hai vị tay phải cầm trượng
sắt, tay trái cầm bình bát. Phật Thích Ca và hai vị đại
đệ tử đều hiện tướng tỷ kheo, mặc áo xuất gia.
Ngồi
trên tòa sen bên phải đức Phật là Bồ tát Quan Tự Tại,
toàn thân tỏa ánh sáng trắng, hai tay chắp trước ngực ngang
tim.
Ngồi
trên tòa sen bên trái đức Phật là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi,
toàn thân tỏa ánh sáng vàng, tay phải cầm kiếm trí tuệ,
tay trái cầm pho kinh.
Ngồi
trên tòa sen trước mặt đức Phật là Bồ tát Kim Cang Thủ,
toàn thân tỏa ánh sáng xanh đen, tay phải cầm chày kim cang,
tay trái bắt ấn "chinh phục".
Ngồi
trên tòa sen sau lưng đức Phật là ngài Quan Âm Tara, toàn thân
tỏa ánh sáng ngọc xanh lá, tay phải bắt ấn “truyền năng
lực gia trì”, tay trái cầm đóa sen màu xanh dương, hiển
lộ ấn “chở che”.
Bốn
vị đại Bồ tát trong quán tưởng đều ngồi trên tòa sen,
khoát áo lụa thanh thoát với nhiều trang sức quí báu. Thân
tỏa đầy năng lực ánh sáng.
Bên
phải cảnh vân tập nhiệm mầu này là bồ kinh điển chứa
đựng toàn bộ tinh túy của Phật pháp, tượng trưng cho con
đường giác ngộ chân chính và sự tận diệt chân chính của
khổ đau.
Bên
trái cảnh vân tập nhiệm mầu này là tòa bảo tháp huy hoàng,
tượng trưng cho trí giác tối thượng của mười phương Phật
đà.
Khởi
tâm tin tưởng toàn bộ cảnh Phật hiện trong quán tưởng
là tinh túy của mọi nẻo qui y.
Bây
giờ hãy quán tưởng phía bên phải của mình là người cha
đời này, cùng thân quyến, bằng hữu, kể cả những người
đã chết, thuộc nam phái; phía bên phải của mình là người
mẹ đời này cùng thân quyến, bằng hữu, thuộc nữ
phái. Trước mặt là những người mình thù ghét. Sau lưng
là những người mình tôn kính. Vây quanh là chúng sinh trong
toàn cõi luân hồi, tất cả đều cùng mang hình dáng loài
người.
Trong
tâm, thấy toàn thể chúng sinh cùng mình cất tiếng đọc lời
qui y.
Quán
niệm mọi đức tính tốt lành của Thân Miệng Ý của Phật
hiện trong quán tưởng, ánh sáng lớn phóng từ cảnh quán
tưởng nhiệm mầu, rót chan hòa xuống mình và tất cả chúng
sinh. Khởi tâm tin chắc ánh sáng này đang thanh lọc mọi chướng
ngại, mọi ác nghiệp, của mình và của tất cả.
Rồi
thành khẩn đọc hai mươi mốt lần, hay càng nhiều càng tốt,
câu tụng sau đây:
Nam
mô Phật [Namo Buddhaya],
Nam
mô Pháp [Namo Dharmaya],
Nam
mô Tăng [Namo Sanghaya].
Bây
giờ Phật tử hướng tâm về chúng sinh xung quanh, thấy họ
cũng như mình, cũng mong được hạnh phúc nhưng lại không
biết tích lũy nguyên nhân tạo hạnh phúc, cũng mong rời khổ
đau bất tận, nhưng không biết cách vất bỏ nguyên nhân tạo
khổ đau.
Hiểu
cho thật rõ, rằng khổ đau sẽ không chấm dứt nếu nguyên
nhân tạo khổ vẫn còn. Khổ đau sẽ không giảm mà cứ tăng
mãi, cho đến bao giờ chính mình chịu xả bỏ toàn bộ nguyên
nhân tạo khổ.
Con
đường hủy diệt nguyên nhân tạo khổ không dễ tìm ra. Tuy
vậy, bây giờ Phật tử đã bắt đầu tiến một bước, biết
truy tìm xem điều gì nên giữ, điều gì nên bỏ.
Phật
tử phải khéo siêng năng tu tập, khéo tiến bộ, cho đến
khi thấy ra trọn vẹn con đường giải thoát, vô cùng cần
thiết cho niềm an lạc của chúng sinh, chúng sinh mà Phật tử
đã cố gắng luyện cho tâm mình biết quí giá giữ gìn, không
phân biệt.
Khởi
những luồng sóng suy tưởng như vậy trong biển rộng tâm
thức, đọc những dòng sau đây:
Con
về nương dựa Phật
nương
dựa Pháp và Tăng
cho
đến khi giác ngộ.
Với
năng lực gia trì
sáu
hạnh ba la mật
nguyện
trọn thành Phật đạo
vì
lợi ích chúng sinh.
Sau
đó, hướng tâm về cảnh Phật nhiệm mầu trong quán tưởng
trước mặt, là đối tượng của tâm qui y. Thấy Phật và
Bồ tát đang hiện diện trước mắt, Phật tử thành tâm cúng
dường bảy hạnh nguyện Phổ hiền.
Hạnh
nguyện thứ nhất là đảnh lễ tán dương Tam bảo.
Ở đây, Phật tử đối trước Tam bảo trong quán tưởng,
quì lạy để bày tỏ lòng kính ngưỡng. Có ba cách lạy. Một
là trán, hai tay và toàn thân phủ mặt đất; hai là trán, nửa
cánh tay từ khủy trở xuống, đầu gối và ngón chân chạm
mặt đất; ba là giản dị chắp tay trước ngực. Giữ tâm
thấm nhuần an định trong lòng kính ngưỡng, đọc những dòng
sau đây:
Ðối
trước chư Phật
mười
phương ba thời
cùng
Pháp và Tăng
con
quì đảnh lễ,
thành
kính tán dương
bằng
trọn tấm lòng
chân
thành hoan hỉ.
Hạnh
nguyện thứ hai là cúng dường Tam bảo. Quán tưởng
các món cúng dường vật chất, cùng mọi cảnh tượng tươi
sáng đẹp đẽ trên cõi thế. Mang tất cả về trong tâm, cúng
dường lên Tam bảo trong quán tưởng, đọc những dòng sau
đây:
Bồ
tát Văn Thù
cùng
chư bồ tát
cúng
dường chư Phật
mười
phương ba thời
với
lượng cúng phẩm
không
thể nghĩ bàn.
Nay
con nguyện làm
đúng
theo như vậy,
mang
hết cúng phẩm
dâng
lên chư Phật
cùng
chư bồ tát.
Hạnh
nguyện thứ ba là sám hối. Sám hối là nhìn nhận những
việc sai quấy đã làm trong đời này và trong mọi kiếp tái
sinh vô lượng về trước.
Hãy
suy nghĩ về nguyên nhân tạo khổ, là ác nghiệp và phiền
não. Trong hai thứ này, phiền não là kẻ thù đáng sợ hơn,
vì phiền não là yếu tố tác động ác nghiệp, từ đó tạo
ra biết bao khổ não cho chúng sinh hữu tình. Phiền não nhiễm
tâm là nguyên nhân mang lại nhiều tai họa đáng sợ, đây
mới đích thật là kẻ thù chân chính của tất cả chúng
sinh hữu tình.
Chúng
ta đã chịu sự tác động của kẻ thù này từ vô lượng
kiếp, chắc chắn đã từng gieo vô số hạt giống ác nghiệp.
Nếu không áp dụng phương pháp đối trị, hạt giống ác
nghiệp sẽ thành trái đắng khổ đau, vì hạt giống này tự
nó không có khả năng thu giảm lại hay tan biến đi.
Bây
giờ là lúc đối trước Tam bảo trong quán tưởng, nhìn nhận
tất cả những hạt giống ác nghiệp đã gieo, trong kiếp này
và trong mọi kiếp đã qua, khởi tâm sám hối, nhất quyết
sẽ không tái phạm, dù là trong giấc ngủ.
Nuôi
ý nghĩ như vậy, đọc những dòng sau đây:
Từ
vô lượng kiếp
tái
sinh luân hồi
con
gieo ác nghiệp
nhiều
không kể xiết
bỏ
mặc tâm mình
loạn
giữa vô minh
phạm
đầy việc ác
mà
lòng vui vẻ
thắt
ngược mê lầm.
Ngày
nay con xin
đối
trước Tam bảo
khởi
tâm khiêm nhượng
sám
hối chân thành.
Hạnh
nguyện thứ tư là tùy hỉ công đức. Tùy hỉ công
đức có nghĩa là vui với việc thiện công đức của mình
và của mọi người.
Nguyên
nhân tạo an lạc là tâm địa tốt lành. Tâm địa này vừa
đem lại lợi lạc tức thì, vừa gieo nguồn năng lực công
đức tạo lợi lạc cho tương lai về sau. Tùy hỉ công đức
là nhập vào nguồn năng lực công đức vĩ đại của mình
và của tất cả chúng sinh. Năng lực công đức này là người
bạn hiền, là chốn chở che chân chính của toàn thể chúng
sinh.
Nuôi
ý nghĩ như vậy, đọc những dòng sau đây:
Khởi
tâm bồ đề
soi
rạng chúng sinh
mang
hết lợi lạc
về
cho tất cả.
Tâm
con hoan hỉ
kính
ngưỡng sâu dầy
vui
với bồ đề
vui
cùng chánh pháp
là
biển hạnh phúc
tràn
đầy an lạc
dành
cho chúng sinh.
Hạnh
nguyện thứ năm là cầu Phật chuyển bánh xe chánh pháp.
Phật tử khẩn cầu các bậc giác ngộ thành tựu trí tuệ
viên mãn, hãy vì lợi ích của chúng sinh mà chuyển đẩy bánh
xe chánh pháp. Khởi tâm như vậy, đọc những dòng sau đây:
Chắp
tay khẩn nguyện
mười
phương Phật đà
hãy
vì chúng sinh
lạc
trong biển khổ
mà
làm ngọn đèn
chánh
pháp tỏa rạng
soi
khắp thế gian.
Hạnh
nguyện thứ sáu là xin Phật ở đời. Phật tử khẩn
cầu đấng đại đạo sư đừng nhập niết bàn, vĩnh viễn
lưu lại cõi thế để hướng dẫn chở che cho toàn thể chúng
sinh. Khởi tâm như vậy, đọc những dòng sau đây:
Chắp
tay khẩn nguyện
mười
phương Phật đà
đừng
nhập niết bàn
đừng
rời cõi thế
cho
đời đừng trôi
vào
lòng bóng tối.
Hạnh
nguyện thứ bảy là hồi hướng công đức. Phật tử
nguyện đem công đức đến từ công phu tu tập này, cùng tất
cả mọi năng lực công đức của mình và của toàn thể chúng
sinh, hướng về tất cả chúng sinh, nguyện tất cả thành
tựu giác ngộ viên mãn, đạt niềm an lạc chân chính. Khởi
tâm như vậy, đọc những dòng sau đây:
Nguyện
đem công đức
từ
lời nguyện này
hướng
về chúng sinh.
Nguyện
giống hữu tình
mau
chóng thành tựu
tuệ
giác vô thượng
vĩnh
viễn trú trong
niềm
vui chân chính.
E.
Tụng chú
Hướng
tâm về đức Phật và cảnh vân tập nhiệm mầu trong quán
tưởng, an trụ nơi ấy một lúc. Bao giờ hình ảnh trong quán
tưởng hiện lên rõ nét, hãy quán tưởng trong tim mỗi vị
một đài ánh sáng, trên mỗi đài có ghi một chủng tự, là
hạt giống chân ngôn. Chữ MUM trong tim Phật; chữ HRIH
trong tim ngài Quan Tự Tại; chữ DHIH trong tim ngài Văn
Thù Sư Lợi; chữ HUM trong tim ngài Kim Cang Thủ; và chữ
TAM
trong tim ngài Quan Âm Tara.
Quanh
mỗi chủng tự là chuỗi minh chú. Có tất cả năm câu minh
chú. Ngang đây, Phật tử tùy ý tụng mỗi câu minh chú bảy
lần, hai mươi mốt lần, một trăm lẻ tám lần, hoặc càng
nhiều càng tốt.
Minh
chú như sau:
Minh
chú Phật:
Om
muni muni maha muni ye svaha
[ôm
mâu-ni mâu-ni ma-ha mâu-ni-dê xoa-ha]
Minh
chú ngài Quan Tự Tại:
Om
mani padme hum [ôm ma-ni pê-mê hùm]
Minh
chú ngài Văn Thù Sư Lợi:
Om
wagi shvari mum [ôm wa-ghi soa-ri mâm]
Minh
chú ngài Kim Cang Thủ:
Om
vajra pani hum [ôm vai-ra pa-ni hùm]
Minh
chú ngài Quan Âm Tara:
Om
tara tuttare ture svaha
[ôm
ta-ra tu-ta-rê tu-rê xoa-ha]
Ðể
biểu hiện tánh Không của thế giới hiện tượng khách quan,
hãy quán tưởng như sau:
Ngài
Quan Tự Tại từ từ tan thành ánh sáng, nhập vào đầu của
đức Phật. Ngài Văn Thù Sư Lợi tan thành ánh sáng, nhập
vào yết hầu (cuống họng) của đức Phật. Ngài Kim Cang Thủ
tan nhập vào ngực của đức Phật. Ngài Quan Âm Tara tan nhập
vào rốn Phật. Hai vị đại đệ tử nhập vào hai bên thân
mình đức Phật.
Giữ
lại hình ảnh một mình đức Phật trong quán tưởng cho thật
rõ ràng, ráng an định nơi ấy càng lâu càng tốt, đọc những
dòng sau đây:
Om
muni muni maha muniye svaha MUM
Om
mani padme hum HRIH
Om
wagi shvari mum DHIH
Om
vajra pani hum HUM
Om
tara tuttare ture svaha TAM
Sau
đó, đức Phật từ từ tan thành ánh sáng trong suốt, từ
trên tan xuống và từ dưới tan lên, rút dần về đài ánh
sáng ngay giữa trái tim. Đài ánh sáng này tan vào chuỗi minh
chú, minh chú tan vào chủng tự nằm chính giữa.
Rồi
chủng tự tan thành ánh sáng, chỉ còn lại chóp nhọn trên
đầu chữ. Rồi chóp nhọn cũng tan, chỉ còn lại ánh sáng
chân như không hình sắc.
An
trú trong tánh Không của thế giới hiện tượng ít lâu. Tiếp
theo, để thể hiện sự khởi hiện từ tánh Không của thế
giới hiện tượng, quán tưởng toàn bộ cảnh Phật nhiệm
mầu lại hiện ra như trước, nơi khoảng không trước mặt.
Kết thúc buổi thiền với tinh thần phấn chấn sảng khoái.
Khi
rời chỗ ngồi thiền, bước vào đời sống với công việc
hàng ngày, quí vị nên giữ cảnh Phật sống động trong tâm,
chứa chan trong từng hành động.
Khi
ăn cơm, dành một phần bữa ăn cúng dường Phật và chư Bồ
tát để tự nhắc nhở là mình đang bước trên đường tu
giác ngộ. Tối trước khi ngủ, tưởng tượng mình an lành
đặt đầu vào lòng Phật. Cứ như vậy, bất cứ việc làm
nào cũng nhờ Phật chứng giám, luôn mang hết thân miệng ý
ra sống một cách tích cực và sáng tạo.
Mỗi
ngày ngồi thiền như vậy một lần, hai lần (sáng chiều),
hay bốn lần (sáng trưa chiều tối). Lúc đầu nên ngồi thiền
trong thời gian ngắn. Dần dần định lực mạnh hơn, quí vị
sẽ có thể ngồi thiền lâu hơn. Cứ kiên nhẫn hành trì như
vậy, chắn chắn sẽ có lúc gặt hái kết quả khả quan.
Sarva
Mangalam !
[Hết
bài Pháp Thiền Mật Tông
Đơn
Giản dành cho Phật Tử Nhập Môn
do
đức Đạt-lai Lạt-ma soạn]
Phụ Lục 2.
Tám
Bài Kệ Chuyển Hóa Tâm
Geshe
Langri Thangpa (thế kỷ thứ 12)
Bản
tiếng Việt
Tám
Bài Kệ Chuyển Hóa Tâm
1.
Với quyết tâm thành tựu
Lợi
lạc lớn lao nhất
Nhờ
tất cả chúng sinh,
Tôi
nguyện luôn giữ gìn
Chúng
sinh trong đáy tim,
Vì
chúng sinh quí hơn
Cả
bảo châu như ý.
2.
Khi gặp gỡ tiếp xúc
Với
bất kỳ một ai,
Nguyện
tôi luôn thấy mình
Là
kẻ thấp kém nhất,
Từ
đáy lòng chân thật
Luôn
tôn kính mọi người
Như
kính bậc tối cao.
3.
Nguyện trong từng hành động
Tôi
luôn tự xét mình,
Phiền
não vừa dấy lên,
Ðe
dọa mình và người,
Nguyện
tức thì nhận diện,
Và
tức thì dẹp tan.
4.
Khi gặp người hiểm ác
&