THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC
CẢM NIỆM NGÀY PHẬT ĐẢN
Hạnh Đoan 

Đêm nay, thơ thẩn dạo quanh ngôi tự viện nhỏ nằm ven ngoại ô, tôi dừng lại ngắm hồ sen loang loáng ánh trăng. Đứng trên thành hồ nhìn nền trời xanh in dưới nước, tôi bâng khuâng không biết mình đang đứng trên mặt đất hay chơi vơi giữa hư không, vì trên đầu là trời xanh và dưới chân cũng có trời xanh. Con trăng đầu hạ nằm chênh chếch sau mấy dãy lầu cao, trở nên lu mờ bên những cột đèn sáng rỡ. Phía xa một góc trời, mây đen đang từ từ giăng kín, báo hiệu một cơn mưa tầm tã. Mưa đầu mùa tháng Tư.

Thời tiết tháng Tư là vậy, cái nắng, nóng, và mưa luôn hoà quyện lấy nhau, vần xoay lưu diễn. Mưa và nắng đều cần cho nhân gian. Giữa những xô bồ tạp nham của dòng đời vẫn lẫn khuất sự yên tĩnh bên trong. Khi những ồn náo cuồng loạn ngừng bặt thì tịch nhiên hiện diện. Giống như chốn bùn nhơ sản sinh hoa sen tinh khiết, giữa cõi đời ô trược có được Bậc Thánh bi trí đản sinh – không phải vào mùa Xuân ấm áp hay mùa Thu trong thanh – mà là mùa đầy côn trùng lúc nhúc, mùa nắng mưa đan xen, một thời tiết không lấy gì làm thơ mộng nhưng có thể biểu trưng cho nét mịt mù của trần thế.

Ngày nhỏ, mỗi lần học sử Phật, tôi thường phàn nàn thầm, “sao ngài không giáng sinh ở nước Việt Nam để tôi được hãnh diện, hỉnh mũi đôi chút, để tôi tự hào rằng mình sinh ra ở đất Phật, hay Phật sinh ra ở đất mình (?). Nhưng rồi tôi lại bật cười khi nghĩ lại, cách đây mấy ngàn năm, nghĩa là lúc Phật đản sinh, nào biết lúc đó tôi đang mang hình hài, thân phận gì? Quốc tịch, màu da ra sao? Trong bao nước đang hiện diện trên thế giới này, biết tôi thuộc về xứ sở nào? Hay vẫn chưa làm người và đang chìm đắm đoạ lạc ở tận đẩu tận đâu? Thôi thì bây giờ cứ đồng cảm, chia sẻ với bốn câu thơ của cổ nhân:

Phật tại thế thời ngã trầm luân
Kim đắc nhân thân, Phật diệt độ
Ái não thử thân đa nghiệp chướng
Bất kiến Như Lai kim sắc thân

(Lúc Phật trụ thế, con trầm luân
Giờ được thân người Phật diệt độ
Buồn tủi phận con nhiều nghiệp chướng
Chẳng được thấy chân thân Như Lai)

Thán oán vậy, chứ đối với Phật, Ngài nào có phân biệt chủng tộc quốc gia? Hễ đất nước nào có khổ đau, bất công nhiều, thì Ngài giáng sinh nơi đó…

Quả tình xã hội Ấu thời bấy giờ sự phân chia giai cấp, kỳ thị rất tàn độc. Ngoài hàng Bà la môn và Sát để lợi được xếp vào thành phần tôn quý thì giai cấp tiện dân Thủ đà la là bất hạnh đáng thương nhất. Trong chương 8 điều 270 và 277 của Bộ luật Manu (luật pháp thời đó) quy định: “Nếu hàng tiện dân dám buông lời xúc phạm các giáo sĩ Bà la môn hay hàng quý tộc thì sẽ bị cắt lưỡi, nếu dám gọi tên họ thì sẽ bị dùi sắt nung đỏ đâm vào cổ, còn nếu hàng quý tộc phán lịnh mà họ không nghe thì sẽ bị nấu đồng sôi đổ vào tai, vào miệng”… Có lẽ chưa có đất nước nào lại sản sinh bộ luật khắc nghiệt tàn độc với con người như vậy. Chỉ liệt kê sơ sơ cũng đủ hình dung được những thống khổ ngút trời rồi. Ấn Độ là một nước đông dân, đa tôn giáo, đến độ vào năm 1944 ông Krishamurti từng nhận xét: “Đất nước này có hơn sáu trăm tôn giáo nhưng đau khổ, bất công vẫn còn dẫy đầy”… Có tìm hiểu tỉ mỉ thì mới thấy Phật giáng sinh vào quốc gia này quả rất cần thiết và hợp lý.

Chúng ta chỉ nghe kể và biết đến quang cảnh tưng bừng khi Phật đản sinh: có chư Thiên rải hoa, có nhạc trời trổi vang lừng, có nước trời tuôn xuống tắm gội và Ngài đi bảy bước trên hoa sen… song chúng ta không để ý nên chẳng hiểu thấu được nhiệm vụ, trọng trách, sứ mệnh gian nan cực cùng của Phật khi Ngài sinh vào đất nước đầy dẫy thần quyền, áp bức và bất công này. Dù Phật sinh vào hoàng tộc, song trí tuệ và lòng bi vô bờ đã thúc dẩy Ngài rũ bỏ hư vinh của vương vị lẫn chức quyền để lìa cung vàng tìm lối thoát cho mình và nhân loại mong đem lại phúc lạc cho tất cả chúng sinh, Ngài quyết xoá sạch tệ nạn phân chia giai cấp thâm độc, mang đến an vui vĩnh hằng cho tất cả.

Có thể nói Phật là một nhà cách mạng đầy nhiệt huyết, hùng tâm và lý tưởng: Dùng từ cảm hoá, dùng trí độ người. Cuộc cách mạng của Ngài xem ra rất tuyệt vời vì không có bóng dáng của bạo lực, không hề gây đổ máu, song gieo ảnh hưởng cực kỳ rộng lớn, vang mãi đến ngàn sau, pháp nhũ của Ngài đến giờ vẫn không ngừng giúp ích cho đời sống của nhân loại.

Khi Phật tuyên bố (mọi người đều bình đẳng) là đã xác nhận Nhân quyền, mà còn xác nhận Phật quyền: (ai cũng có khả năng giác ngộ, Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành)… Những lời tuyên bố này vào thời bây giờ không khó nghe, song vào thuở ấy thì chẳng khác nào sấm nổ giữa trời quang. Vì giới quý tộc quen nắm quyền sinh sát trong tay, dù họ có đổ đồng sôi hay cắt lưỡi hàng tiện dân cũng chẳng có luật pháp nào kết án xử tội họ. Đã vậy, Phật còn thâu nhận giai cấp tiện dân vào Tăng đoàn, việc làm này tất nhiên gây chấn động khắp nước và gieo bất bình khủng khiếp cho giới thượng lưu vốn quen kỳ thị.

Song, kết quả minh chứng thật hùng hồn: Ưu Ba Ly là thợ hớt tóc thuộc hàng tiện dân, sau khi xuất gia không lâu đã chứng Thánh quả và nổi danh trong hàng Thập đại đệ tử Phật. Cả cô gái hạ tiện Ma Đăng Già từng xỉu lên xỉu xuống vì tình khi trót phải lòng Tôn giả A Nan, sau khi xuất gia cũng đã sớm chứng quả A la hán, một quả vị mà ngài A Nan mãi đến Phật nhập Niết bàn rồi mới với tới.

Vào thời điểm xa xưa ấy, sự xuất hiện của Phật giống như vầng dương chói lọi xua tan bao u ám, tối tăm, Ngài đã cứu rỗi biết bao mảnh đời đau khổ trên thế gian này. Ngài không hề dùng uy quyền, vương vị hay đặt ra luật lệ bất công để ép buộc người ta tuân theo, Ngài dân chủ cực kỳ khi tuyên bố: “Đến để nghe Ta nói chứ không phải để tin. Tin mà không hiểu là phỉ báng Ta”. Ngài còn khuyên: “Đừng tin bất cứ điều gì dù nó được thốt ra từ kinh điển, từ các bậc Thánh hay trong phong văn, nếu chưa trải qua sự phán xét của trí tuệ và sự thực nghiệm của bản thân…”. Phật đã làm cuộc cách mạng của mình với hành trang cực kỳ giản dị: một bát bay lang thang khắp Ấn Độ,  tuyên chiến với mọi bất công và đau khổ, bằng tấm lòng từ ái thiết tha và trí tuệ uyên thâm như biển, Ngài hành xử rất ôn nhu nhưng không kém phần dũng cảm và kiên quyết, giúp tháo gỡ rối rắm, bôi xoá khổ đau, đánh đổ tà kiến, dẫn dắt chúng sinh vào nẻo hạnh phúc chân thực.

Khi nghiên cứu sử và thấu hiểu được nỗi khổ của dân Ấn Độ thời ấy, tôi đã không còn ghen tị hay so bì rằng họ sướng, họ được sinh vào thời Phật nữa, vì hiện tại tôi đang ở trên một đất nước hoà bình, kinh pháp có đủ, được hoằng truyền bằng phương thức tối ưu hơn hẳn mấy ngàn năm xưa. Giáo pháp Phật giờ đây được lưu truyền không chỉ trong nước Ấn mà đi khắp các quốc gia, tới đâu cũng tô bồi củng cố, làm sáng thêm nền văn hoá bản địa, con người nhờ đấy mà biết cải thiện bản thân, biết tạo hướng sống an lành cho mình, thăng hoa thần trí…

Cho dù “Bất kiến Như Lai kim sắc thân”… tôi vẫn thấy an ủi khi nhớ câu Phật đã từng dạy “Người làm theo lời Ta là gần Ta nhất”. Xin cảm ơn những chiếc xe hoa, những cờ, những đèn lồng đủ sắc màu treo giăng rực rỡ, được tôn tạo từ những tấm lòng tận tuỵ kính thành mừng Phật đản của bao người con Phật, nhắc tôi nhớ rằng mình còn quá nhiều diễm phúc, được tận mắt nhìn thấy sự chuẩn bị chu đáo, đón mừng đại lễ thật công phu và trang nghiêm, nhắc tôi nhớ rằng mình đang hiện diện trên một đất nước thanh bình, tự do tín ngưỡng. Thật hạnh phúc biết bao!

Hạnh Đoan 
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)


CHẮP TAY NGUYỆN CẦU ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH
Thích Nguyên Hùng 

Nhắc tới Phật đản, người ta nghĩ ngay đến vườn Lâm Tỳ Ni, cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, vào một buổi sáng đẹp trời, chim ca rộn rã, hoa nở muôn nơi, hương sen thơm ngát, trong vườn ngự uyển, hoàng hậu Maya đang từng bước nhàn du thưởng hoa, khi đến cội Vô ưu, thì Đản sinh thái tử. 

Đó là Tất Đạt Đa, người mà sau này, khi tròn mười chín tuổi xuân đã làm nên một sự kiện trọng đại trong lịch sử tư tưởng triết học và tôn giáo thời bấy giờ: từ bỏ cung vàng điện ngọc, địa vị quyền lực cao sang để ra đi tìm chân lý, và mười một năm sau đó đã trở thành Bậc Đạo sư vĩ đại sau khi khám phá ra con đường giác ngộ Vô thượng Chính đẳng Chính giác, mà hôm nay chúng ta đang tôn thờ và từng bước noi theo.

Nhưng, hai chữ Phật đản vốn có nghĩa là một vị Phật ra đời – hay thị hiện cũng được. Mà Phật có nghĩa là giác ngộ và tỉnh thức. Vậy đáng lý ra, khi nhắc đến Phật đản, chúng ta nghĩ đến một chúng sinh vừa giác ngộ, tỉnh thức. Phật đản như vậy thì không nhất thiết ở vườn Lâm Tỳ Ni hay ở bất cứ một nơi nào mà chúng ta cần phải khảo cổ hay xử lý văn bản gì đó để tìm ra một Đức Phật gọi là lịch sử! Mà nơi nào, ở đâu có một chúng sinh sống trong tỉnh thức và giác ngộ thì ở đó có một vị Phật ra đời.

Thật vậy, Phật đản đích thực không phải tại vườn Lâm Tỳ Ni vào năm 624 trước Tây lịch, mà đã Đản sinh vào một kiếp thật lâu xa trước đó rất nhiều. Kinh A Hàm ghi lại rằng, vào một kiếp xa xôi, xa lắm, khi Đức Phật còn là một con người bình thường, chưa biết tu tập là gì. Trong kiếp đó, Ngài làm một người con bất hiếu với cha mẹ. Vì nhân ấy, sau khi chết. Ngài thọ quả báo bị đoạ vào địa ngục Vô gián, trên đầu phải đội vòng lửa đỏ, hừng hực lửa cháy, đau khổ đến tận cùng. Khi ấy, Ngài hỏi viên cai ngục rằng mình phải chịu nỗi khổ đau này đến bao giờ. Viên cai ngục trả lời, chừng nào trên trần gian có một người con bất hiếu bằng hoặc hơn Ngài bị đoạ vào đây để thay thế cho Ngài. Nghe vậy, Ngài liền khởi niệm mong cho trên trần gian có thêm nhiều người bất hiếu để nhanh chóng bị đoạ vào đây thay thế chỗ mình. Nhưng oan nghiệt thay, niệm ấy vừa khởi, vòng lửa dữ bỗng nhiên siết chặt vào đầu Ngài hơn nữa là lửa cháy càng khốc liệt, khiến cho Ngài không thể nào chịu nổi, toàn thân rã rời tưởng chừng như tan thành tro bụi. Ngay lúc đó, Ngài cảm thấy hối hận và thấm thía nỗi khổ đau của cái quả báo làm con bất hiếu, tự trong sâu thẳm tâm thức Ngài bỗng khởi lên tâm niệm nguyện cầu cho tất cả mọi người trên thế gian đừng ai trở thành người con bất hiếu nữa và nếu như có ai lỡ dại trót làm điều bất hiếu thì Ngài xin chịu thay cho người đó. Mầu nhiệm thay, khi tâm niệm ấy vừa khởi thì Ngài thoát khỏi địa ngục và sinh lên cõi trời! Kể từ đó, Ngài tinh tấn tu tập, hành Bồ tát đạo, vun bồi công đức, thành tựu Thánh giới, trải qua vô số kiếp, đầy đủ tám vạn bốn ngàn oai nghi tế hạnh, công viên quả mãn, phạm hạnh đã thành, Ngài thành Phật quả.

Rõ ràng, Phật đã Đản sinh ngay từ lúc phát khởi tâm niệm nguyện thay thế cho tất cả chúng sinh đang chịu khổ đau (Nguyện đại chúng sinh thọ vô lượng khổ), và thành Phật khi có thể khiến cho tất cả chúng sinh đạt được an vui hạnh phúc, giải thoát chân thật (Linh chư chúng sinh tất cánh đại lạc). Chính vì ý nghĩa này mà kinh điển Đại thừa nói rằng Đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp, và sự kiện lịch sử Đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni, sinh bên hông phải, bước đi bảy bước trên hoa sen và tuyên ngôn “Thiên thượng thiên hạ…” là sự thị hiện.

Mùa Phật đản năm nay lại về. Trong không khí hân hoan của muôn triệu người con Phật, chúng ta thành kính chắp tay nguyện cầu cho tất cả mọi người đều phát khởi tâm niệm nghĩ đến nhau, quan tâm và giúp đỡ cho nhau thoát khỏi những nỗi khổ, niềm đau, đó là chúng ta đang nguyện cầu cho nhiều vị Phật đản sinh và thành Phật trong tương lai. Vì rằng, Phật, trong ý nghĩa đích thực của từ này, được làm bằng chất liệu hay yếu tố từ bi và trí tuệ, là phước trí nhị nghiêm. Cho nên, khi nào và ở đâu có một chúng sinh phát triển được những yếu tố đó, thì ở đó có một vị Phật ra đời.

Thích Nguyên Hùng
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)


THIÊN NHÂN SƯ

Ngày Phật đản được xem là ngày Tết của những người con Phật, bởi vì đây là thời khắc lịch sử đánh dấu sự ra đời của một Bậc Siêu nhân - Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni. Tất cả chúng ta nhân dịp này, dù bằng hình thức nào, cũng muốn dâng lên Ngài lòng biết ơn, sự kính ngưỡng của mình đối với một cuộc đời vô cùng thanh cao đẹp đẽ.

Kinh Pháp Cú 387 dạy rằng:

Mặt trời sáng ban ngày
Mặt trăng sáng ban đêm
Khí giới sáng Sát lợi
Thiền định sáng Phạm chí
Hào quang Đức Phật chói sáng thường hằng.

Mặt trời đem lại ánh sáng và sự sống cho muôn loài, nhưng chỉ hạn cuộc vào ban ngày và trong Thái dương hệ. Mặt trăng chỉ soi sáng trái đất vào những đêm có trăng. Dòng vua chúa Sát-đế-lợi dùng khí giới biểu hiện quyền uy, củng cố địa vị. Phạm chí Bà-la-môn tu tập thiền định, nhờ đạo lực hướng dẫn tinh thần cho tín đồ. Tất cả công năng ấy đều có tính cách tương đối, giới hạn về đối tượng và không gian, thời gian. Chỉ có hào quang Đức Phật là chói sáng miên viễn, vượt mọi tưởng tượng và hiểu biết của con người.

Hào quang ấy không phải là một thực thể có hình tướng, mà chính là trí tuệ siêu tuyệt của một Bậc Đại giác. Trí tuệ Đức Phật không do học hỏi vay mượn từ những kiến thức bên ngoài, mà là tánh giác thường hằng sẵn đủ. Vắng bặt mọi suy tư biện biệt của ý thức, buông sạch mọi dính mắc căn-trần, soi rọi tận cùng sâu thẳm của nội tâm, Ngài thể nhập chân tánh, phát khởi trí Vô sư sau 49 ngày đêm thiền định. Những điều Đức Phật dạy về nhân sinh và vũ trụ đều do Ngài đã thấy đã chứng, nên đó là những sự thật tuyệt đối. Các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới đã vô cùng kinh ngạc khi biết rằng, trong lúc họ phải dùng những dụng cụ hiện đại để khảo sát các sự vật hiện tượng ở tầng vĩ mô và vi mô, thì từ 25 thế kỷ trước, Đức Phật đã từng diễn tả vô cùng chính xác mà không cần thiết bị hỗ trợ nào. Khoa học càng tiến bộ, càng chứng minh những lời dạy của Ngài là nguyên lý bất di dịch, đến nỗi một nhà bác học lừng danh thế kỷ XX đã thốt lên “Điểm tận cùng của khoa học chỉ là điểm khởi đầu của Phật giáo!”. Vô hình trung, các vị công nhận rằng, Đức Phật là nhà đại khoa học và hơn thế nữa, một nhà SIÊU KHOA HỌC.

Về phương diện xã hội, Ấn Độ ngày xưa chia làm bốn giai cấp. Chỉ có Đức Phật, với câu nói bất hủ “Không có giai cấp khi mọi dòng máu cùng đỏ, không có giai cấp khi mọi nước mắt cùng mặn”, đã làm một cuộc cách mạng toàn triệt, phá bỏ tường thành phân biệt đẳng cấp lâu đời. Lại nữa, bằng lời tuyên bố dõng dạc “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, Đức Phật đã đưa con người và mọi loài chúng sinh trở về bản vị. Ai cũng có Phật tánh, ở Thánh chẳng thêm nơi phàm chẳng bớt. Chỉ vì quên tánh giác mà chúng sinh tạo nghiệp rồi thọ khổ, đắm chìm trong sinh tử. Nếu quay về, nhận ra và sống cùng tánh giác, có ngày chúng sinh bình đẳng với chư Phật mười phương. Sự bình đẳng tuyệt đối giữa giáo chủ với môn đồ, giữa con người với muôn vật chỉ được tuyên thuyết và đề cao trong đạo Phật. Điều này giải thích tại sao chúng ta tôn xưng Ngài là nhà ĐẠI CÁCH MẠNG.

Bằng trí tuệ Vô sư, Đức Phật thấy rõ mọi nỗi khổ của con người, trong đó bệnh tật là nỗi khổ tái diễn nhiều lần và đa dạng nhất. Một thầy thuốc giỏi suốt đời tận tuỵ, cũng chỉ chữa trị được một số bệnh nào đó. Y học ngày nay, được chuyên môn hoá như các ngành khoa học khác, nên mỗi thầy thuốc lại càng chuyên sâu vào chỉ một lĩnh vực của mình. Đại tài như Hoa Đà, Biển Thước cũng khó giải quyết những vấn đề phát sinh từ sự ô nhiễm môi trường, từ cuộc sống hối hả đua chen, từ sự bất cẩn gây tại nạn và từ những vũ khí giết người hàng loạt. Vì sao nói như thế?

- Bởi vì, thầy thuốc chỉ điều trị ngọn ngành mà không biết và không thể chữa căn nguyên của bệnh tật, là Tham-Sân-Si, như Đức Phật đã thấy rõ. Ngài không những hiểu tường tận nguyên nhân gây bệnh, Ngài còn tuỳ bệnh cho thuốc. Ngài không những điều trị cho con người, Ngài còn dạy bảo vệ môi trường sống. Ngài không những chữa trị thân tâm một đời, Ngài còn dạy nhiều phương pháp thoát ly sinh tử vĩnh kiếp. Tất cả thầy thuốc trên thế giới, nếu biết được đối tượng, phương pháp và kết quả điều trị của Ngài, chắc không ai không cúi đầu bái phục. Cho nên, chúng ta không hề khoa trương mà tôn Đức Phật là bậc VÔ THƯỢNG Y VƯƠNG!

Bên cạnh trí tuệ tuyệt vời, Đức Phật còn phát Đại Từ bi tâm giáo hoá muôn loài. Theo ý nghĩa trong đạo Phật, Giáo là dạy bảo, nhờ trí tuệ; Hoá là làm đối tượng cảm phục để chuyển hoá, nhờ từ bi. Trong suốt 45 năm hành đạo, Đức Phật đã chỉ dạy về Bản phận làm người, về cách đối nhân xử thế, cách trị quốc an dân. Hơn thế nữa, Ngài còn hướng dẫn nhiều phương pháp đưa con người tiến lên bậc Hiền Thánh. Ngài là vị thầy dẫn đường của Trời Người và tất cả chúng sinh, xứng đáng được tôn vinh là nhà ĐẠI GIÁO DỤC.

Một nhà bác học với trí thông minh hơn người, với sức tập trung cao độ, với khả năng làm việc phi thường, với tâm huyết phụng sự nhân loại đến độ quên cả bản thân, chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình trước vị ấy. Đôi khi chỉ cần thành tựu một công trình nghiên cứu, nhà bác học đã được tôn là bậc vĩ nhân, là cứu tinh của nhân loại. Tuy nhiên, những bậc vĩ nhân - ân nhân ấy dù sao cũng chỉ có sự hiểu biết hạn chế vào lĩnh vực chuyên môn của mình, và cũng chỉ cứu sống tấm thân tứ đại nay còn mai mất. Chính bản thân các vị cũng không tránh được phiền não bệnh tật, và cuối cùng, không thoát khỏi sinh tử vô thường.

Đức Phật chúng ta không khảo sát sự vật hiện tượng qua thức tri tưởng tri-sản phẩm của ý thức phân biệt. Ngài nhìn sâu vào tận cùng bản thể các pháp, tuệ tri, liễu tri, thắng tri mọi vật nên vừa hiểu rõ tất cả sự lý thế gian, vừa thâm nhập các pháp xuất thế; vừa tự mình thoát ly phiền não sinh tử, vừa tuỳ duyên dạy người những phương tiện liễu sinh thoát tử. Nếu nói về sự quyết tâm, sự cần khổ kiên trì, sự tập trung đã đạt mục đích tối hậu, thì trong 5 năm tìm đạo và 6 năm khổ hạnh nơi rừng sâu, Ngài thể hiện ý chí siêu phàm. Nói về sự quên mình vì hạnh phúc đích thực của tha nhân, thì cuộc đời Ngài là cả một sự hy sinh vĩ đại: Khi chưa thấy đạo, Ngài sẵn sàng từ bỏ tất cả quyền lực vật chất và những ràng buộc tình cảm thế gian. Khi trở thành Đấng Giáo chủ được Trời người kính ngưỡng, Ngài cũng vẫn bay một bát, đôi chân trần đi khắp cõi Ấn Độ vì lợi ích vĩnh cửu cho chúng sinh. Như thế, dù chúng ta tôn Đức Phật là bậc ĐẠI BÁC HỌC, ĐẠI VĨ NHÂN, ĐẠI ÂN NHÂN hay bất cứ danh xưng nào khác, thiết tưởng cũng không thể xứng với tầm vóc và ơn đức của Ngài!

Ngày Phật đản là dịp ôn lại những công hạnh cao cả của Đức Phật. Chúng ta nhớ gương Ngài để nhìn lại bản thân, xem đã làm được gì có ích cho mình cho người, đã tiến bao nhiêu bước trên lộ trình tâm linh, có xứng đáng là con của Bậc Đại giác? Ngày Phật đản cũng là cơ hội cho ta nhớ đến vị Phật sơ sinh hiện diện ngay chính bản thân, mà mỗi giây phút ta phải nâng niu, phải luôn lớn. Được chút ít kết quả trên đường tu, chúng ta chia sẻ cho mọi người mọi vật chung quanh, để tất cả đều được sống trong hào quang miên viễn của chư Phật. Có như thế, chúng ta mới thật sự đón mừng ngày Phật đản một cách trọn vẹn và đầy đủ ý nghĩa nhất.

(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)
 



COM XIN LÀM SEN NHỎ VÀ NÂNG GÓT HÀI
Lê Đàn 

Ở cái xóm nhỏ này, ai cũng biết bác Thanh, hoạ sĩ Đặng Bá Đức và tôi là ba người bạn vong niên, tuy mỗi người một nghề nghiệp, một cảnh nhà khác nhau, nhưng cả ba chúng tôi đều có điểm chung: cùng là Phật tử đã quy y giữ năm giới, không rượu chè, cờ bạc, thuốc lá; thi thoảng ngồi lại với nhau uống chén trà đàm đạo hát hò cho vui vẻ cửa nhà. Đặc biệt đám trẻ rất mến yêu chúng tôi.

Người ta nói chơi ba người là bộ tam, xui lắm! Nhưng ba chúng tôi sống với nhau hoà thuận hơn ba mươi năm. Y nguyên như bát nước đầy, chưa hề chao chọng! Bác Thanh và tôi, quê quán ở đây; bác may mắn có được người vợ tuyệt vời, buôn bán giỏi giang, bác chỉ phụ giúp thôi nên có rất nhiều thời gian rảnh rỗi; trong xóm có việc hiếu hỷ, ma chay tương tế đều có sự đóng góp công sức của bác.

Còn tôi chỉ là anh thợ sửa xe đạp lấm lem dầu mỡ, suốt ngày bên cái quán cóc nhỏ hẹp, khách hàng hết phân nửa là những em học sinh thơ ngây nghịch ngợm. Đây là xóm nghèo, sửa xe đạp cho các em, có em không có tiền cũng phải giúp; thế rồi những khi vắng khách, tôi lại quay sang cái chọ đá, loay hoay với bút lông mực xạ, tranh thủ hoàn thành một tác phẩm thư hoạ trên đá, hay còn gọi cho oai theo kiểu các vị sành điệu ở Đà Nẵng là nghệ thuật thạch thư.

Một hôm, tình cờ tìm được một viên đá cuội có hình trái tim, tôi nhặt về rửa sạch, viết lên đá chữ tâm. Ôi! Viên đá đẹp lắm! Tâm hồn tôi bay Bảng, chợt thấy viên đá có hồn như rung lên nhịp đập, tim tôi rộn rã niềm vui. Tôi và đá cuội bắt đầu cuộc dạo chơi, tiếp xúc sâu sắc với cuộc sống nhiệm mầu. Một ngày mới khởi đầu: có ánh dương hồng chói loà buổi ban mai, có cỏ hoa thơm thoảng hương trong gió sớm, có bầy chim sẻ chuyền cành ca hát líu lo…

Viên đá thứ hai tôi nhặt được, có hình chiếc hài màu vàng rất đẹp! Phải viết câu gì vào đây cho có ý nghĩa? Trong lúc tôi đang cố lục tìm trong trí nhớ, bỗng đâu bác Thanh và hoạ sĩ Đức xuất hiện, thay vì câu chào, anh Đức cười nhìn bác Thanh và hát: Em đi qua chuyến đò. Ối a! Ông Thanh còn trẻ. Ông Thanh đâu có ngờ, ngày kia sông sẽ già… Em đi qua chốn này. Ối a! Sao em đành vội. Tôi xin làm đá cuội và… lăn theo gót hài (Biết đâu nguồn cội – Trịnh Công Sơn). Một câu hát có chế lời để trêu chọc bác Thanh, không ngờ lại cho tôi một ý tưởng hay. Tác phẩm thạch thư: chiếc hài đá hoàn thiện tuyệt trần với dòng chữ thư pháp chưa ráo mực. Cả ba chúng tôi cùng ngắm tác phẩm mới một cách say sưa và cùng vui cười hát lui hát tới dòng chữ trên chiếc hài đá ấy: Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài.

Còn hoạ sĩ Đức là người gốc Huế, cha mẹ mất sớm, anh giao lại căn nhà từ đường cho người em trai, rồi ra thị xã này lập nghiệp từ lúc tuổi mới hai mươi tư.

Anh hoạ sĩ Phật tử này để râu tóc dài, dân nghệ sĩ mà! Trông bề ngoài dữ dằn nhưng khi trò chuyện với anh vài lần mới thấy anh rất hiền, vẫn còn độc thân vui tính, ngủ chùa nhiều hơn ngủ nhà; có lẽ vì còn nặng nợ cõi Ta bà, nên chưa thể xuất gia tầm sư học đạo. Anh là hoạ sĩ lang thang chuyên sống bằng nghề vẽ, ai kêu vẽ gì anh cũng đáp ứng được ngay; từ chân dung cho đến phong cảnh: vẽ Đức Phật, vẽ Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma hoặc có những ngôi nhà theo kiểu cổ ở những vùng nông thôn còn giữ chút bản sắc văn hoá xưa, vẫn thích anh trang trí cái mốt cũ, có đôi hạc hai bên, thêm chút phong cảnh điểm tô ở bức tường gian thờ làm phông, chính là là chữ Phước màu đỏ, anh viết bằng chữ Nho khá to theo kiểu chữ thảo, làm mê mẩn những con người nông thôn chất phác. Vẽ một phông như vậy mất vài ba ngày, anh ở lại nhà người ta cơm nước ngủ nghỉ qua đêm, họ không phiền mà ngược lại rất muốn anh nán lại vài bữa nữa để được nghe tiếng đàn guitar réo rắt xao động cả tâm hồn. Âm nhạc của anh đem đến cho họ một cảm giác rất lạ không sao hiểu nổi khi nghe những bản độc tấu gồm nhạc Việt như Hoài cảm, Hạ trắng… và nhạc của Chopin, Beethoven… như Tristesse Chopin, Lettre à Élisé…, trên khuôn mặt họ hiện rõ một niềm vui.

Một cây đàn guitar có bao da hẳn hoi; một túi cọ, màu bột, sơn dầu; nếu đi độ năm ba ngày thì anh thêm ít áo quần. Tất cả nằm gọn trên chiếc xe cuộc cà tàng, anh đạp túc tắc trên con đường làng có bóng tre im mát, miệng huýt sáo vang bài ca anh yêu thích nhất: Rong chơi cuối trời quên lãng, mỗi câu hát đem lại cho anh cảm giác khoẻ khoắn yêu đời:

Ta đi rong chơi, bên bờ suối theo bầy nai, đi tìm quên cơn mê này… Xin một sáng trong mùa Xuân, trên cỏ êm ta ngồi hát. Hoa nở ngát. Ôi thần tiên! Ta ngồi yên mỉm môi cười.

Tôi hỏi anh, đây là bài hát của ai? Anh cười: “Những bài hát hay thường là những bài quên tên tác giả, có nhiều chỗ quên lời, ta tạm thời chế lời của mình vô đó, nếu không thì cứ là lá la… quê bỏ xừ”. Tôi đã rất nhiều lần nghe anh hát bài này bằng cái giọng Huế nam trầm (bass) của anh, bài này tôi cũng có biết, nghe đôi chỗ rất lạ, dù lời khác nhưng nghe cũng êm tai không đến nỗi gì, tôi và bác Thanh rất thích hai câu cuối mà anh chàng hoạ sĩ đã chế lời: Xin một sáng trong mùa Xuân, trên cỏ êm ta ngồi hát. Hoa nở ngát. Ôi thần tiên! Ta ngồi yên mỉm môi cười. Bác Thanh vỗ vai, khen anh khen một câu phổng mũi: Chú mi khá thiệt đó! Nghệ sĩ chỉ uống nước trà thôi! Không thuốc không rượu mà vẫn lấy được cảm hứng sáng tác những bức chân dung Đạt Ma Tổ sư, Đức Phật đản sinh. Mỗi lần làm lễ đài, khi cầm ngay chỗ hoa sen để nâng bức tượng Đức Phật lên, bác cũng phải ngắm nghía một lúc, cảm xúc dâng trào, buột miệng bắt chước chú mi hát một câu chế lời: “Con xin làm sen nhỏ. Và nâng đôi gót hài”.

Ở tỉnh này, không Phật tử nào là không biết bác Thanh, ông đã qua cái tuổi U70 rồi nhưng vẫn còn khoẻ, thường xuyên đến nhiều chùa để làm công quả. Lễ đài Phật đản của những chùa như Châu Quang, Ngọc Hà, đều có bàn tay ông đóng góp và chỉ huy con cháu cùng làm; có năm ông vào làm cả lễ đài chùa Sắc Tứ nữa.

Tượng Đức Phật Thích Ca đản sinh trên các lễ đài đa phần đều do hoạ sĩ Đặng Bá Đức vẽ cúng dàng. Anh đã vẽ rất nhiều chân dung Phật với cái tâm kính ngưỡng. Có lần cả ba chúng tôi đang ngắm bức tượng Phật đản sinh mà anh Đức vừa mới hoàn thành. Bác Thanh đố tôi và anh Đức: Đức Phật, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài muốn nói gì? Chúng tôi im lặng nghe bác giảng: Sau khi Đản sinh thì Ngài một tay chỉ trời, một tay chỉ đất mà nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Có nghĩa là trên trời dưới đất không ai tôn quý bằng Ta”. Có phải Đức Phật hết sức tự cao ngã mạn? Tôi không phải là luật sư biện hộ cho Phật, nhưng Đức Phật đích thực là người xứng đáng được mang danh hiệu như vậy. Đây là bác nói theo sách Khai thị, tập II, của Hoà thượng Tuyên Hoá đó. Anh hoạ sĩ và tôi cúi đầu bái phục bá phụ.

Lại một mùa Phật đản nữa sắp về, giống như những năm trước, tôi đem tượng Đức Bản Sư Thích Ca đản sinh ra lau sạch, mua cờ xí đèn lồng trang hoàng ngoài ngõ. Tôi cảm thấy bùi ngùi, bất giác thở dài nhìn bức thư hoạ: Cát bụi – Chợt một chiều tóc trắng như vôi – Trịnh Công Sơn. Nhớ lại câu trêu chọc của hoạ sĩ: Ông Thanh đâu có ngờ. Ngày kia ông sẽ già. Bác Thanh đã ra đi ở tuổi bảy lăm vào mùa Đông năm ngoái, để lại cho chúng tôi muôn vàn tiếc thương! Và hoạ sĩ Đặng Bá Đức vẫn còn độc thân ở cái tuổi năm mươi lăm, cũng đã giã từ cái xóm nhỏ thân thương, trở về nguồn cội quê hương. Chỉ còn lại mình tôi nhớ nhung, hoài niệm, ngồi đây mà quán chiếu, nhớ hai người bạn vong niên như loài cỏ thảo xót xa, thương cảm đưa tiễn những đoá hoa úa tàn về nơi miên viễn. Tất cả rồi sẽ xa, chỉ còn lại tiếng cười khóc giữa cuộc đời, cõi tạm huyễn hoặc vô thường.

Tôi lặng yên ngắm nhìn bàn chân, gót hài Đức Phật bước trên đài sen. Kính cẩn chiêm bái Đức Từ Phụ đang mỉm cười và tôi cũng mỉm cười khẽ hát vừa đủ cho Ngài nghe câu hát trên chiếc hài bằng đá mà bác Thanh đã chế lời: Con xin làm sen nhỏ, và nâng đôi gót hài. Tôi tin chắc rằng hai người bạn vong niên của tôi, một ở phố Tây phương Cực lạc, một ở xứ Thần kinh cố đô Huế mộng mơ; nhân mùa Phật đản cũng cầu xin Ngài, kiếp sau xin được làm đoá sen hồng bé nhỏ, nâng đôi gót hài ngà ngọc Như Lai.

Lê Đàn
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)


QUAN ĐIỂM VỀ HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH
Ở NƯỚC TA THỜI PHẬT GIÁO DU NHẬP
Thích Phước Đạt

Theo các nhà nghiên cứu Phật học, kể từ khi đạo Phật được truyền vào nước ta những năm đầu thế kỷ thứ I TL, quá trình tiếp biến đạo Phật luôn xảy ra liên tục để thích hợp và thể nhập vào đời sống sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh người dân nước Việt. Hay nói cách khác, quá trình tiếp biến ấy diễn tiến theo xu hướng “bản địa hoá” đạo Phật của cộng đồng người Việt đang sinh sống theo từng thời kỳ phát triển của xã hội Việt Nam qua mỗi giai đoạn lịch sử.

Thế nên, ngay trong tác phẩm Lý hoặc luận (Những luận lý để xử lý các mối nghi hoặc, sai lầm về Phật giáo) của Mâu Tử cũng cho ta một cái nhìn khá đầy đủ quan niệm của nhân dân ta về hình ảnh Đức Phật như thế nào, để từ đó thấy được diện mạo và đặc trưng của đạo Phật thời đó, thông qua tình hình sinh hoạt và phát triển tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng người Việt được ghi nhận vào tác phẩm.

Cụ thể, nội dung của tác phẩm Lý hoặc luận bao gồm 37 điều, vì quan điểm của tác giả cho rằng “xem Phật kinh chi yếu có 37 phẩm, Đạo Đức kinh có 37 thiên” cho phù hợp với thực tiễn. Trong đó có 3 điều khởi đầu trình bày về các quan niệm Phật giáo và 9 điều dành cho việc phê phán Đạo giáo, cộng với điều kết thúc cuối cùng, còn lại 25 điều hoàn toàn dành cho việc xử lý những thắc mắc về quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo. Theo Nguyễn Lang ghi nhận trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì tác phẩm được bảo lưu trong bộ Hoằng Minh tập do Tăng Hựu sưu tập, ấn hành vào đầu thế kỷ VI. Các sách Tuỳ chí và Đường chí đều có nói đến sách này của Mâu Tử 1.

Điểm đáng nói là thông qua nội dung ở các điều 1 và 2 của Lý hoặc luận, chúng ta thấy hình ảnh Đức Phật theo quan niệm của người Việt thời du nhập được minh hoạ khá rõ ràng và cụ thể, phù hợp với tâm thức tín ngưỡng tâm linh của dân ta thời đó. Ngay ở điều 1, Mâu Tử đã trả lời cội nguồn về Đức Phật đản sinh và xuất gia thành đạo, sau đó thuyết pháp độ sinh như sau:

“Có người hỏi:

- Phật tử đâu sinh ra? Có tổ tiên và làng nước gì không? Đã làm được gì, giống loại người nào?

Mâu Tử đáp:

- Giàu thay câu hỏi! Xin đem dốt nát nói qua điểm chính. Bởi nghe công trạng giáo hoá của Phật, tích chứa đạo đức, hàng ngàn ức đời, không sao ghi chép. Nhưng khi sắp thành Phật, thì sinh ở Thiên Trúc, mượn hình nơi vợ vua Bạch Tĩnh. Bà ngủ ngày, mộng thấy cưỡi voi trắng, thân có sáu ngà, hớn hở thích thú, bèn xúc cảm mà có thai. Đến tháng Tư mồng tám, Phật theo sườn bên phải của mẹ mà sinh, đặt chân xuống đất, đi bảy bước giơ tay phải lên, nói: “Trên trời dưới trời khong có gì hơn Ta!”. Bấy giờ trời đất rung mạnh, trong cung sáng ngời. Hôm ấy, người ở cung vua cũng sinh ra một đứa con, trong tàu ngựa trắng cũng cho ngựa con bú; đầy tớ Xa Nặc, ngựa tên là Kiền Trắc. Thái tử có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, mình cao trượng sáu, thân đều sắc vàng, đỉnh đầu có nhục kế, má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có ngàn xoáy, cổ sáng chiếu vàng dặm. Đây là nói qua tướng Phật. Năm 17 tuổi, vua cha bắt lấy công chúa nước láng giềng làm vợ. Thái tử ngồi thì dời chỗ, nằm thì riêng giường. Đạo trời rộng sáng mà âm dương thông đồng. Bà có mang con trai, sáu năm mới sinh. Vua cha trân quý thái tử, dựng cho cung điện, kỹ nữ, đồ chơi châu báu, đều bày trước mắt. Thái tử không ham thú vui ở đời, muốn giữ đạo đức. Năm 19 tuổi, ngày mồng tám tháng Tư, nửa đêm gọi Xa Nặc đóng yên Kiền Trắc vượt thành. Quỷ thần nâng đỡ, bay ra khỏi cung. Hôm sau không biết ở đâu. Vua cùng quan dân thảy đều sụt sùi, đuổi tới cánh đồng. Vua bảo: “Khi chưa có con, cha cầu xin thần, nay đã có con, như ngọc như trân, nên nối ngôi tước, chứ bỏ đi đâu?

Thái tử tâu: Muôn vật vô thường, có rồi phải mất. Nay muốn học đạo, độ thoát mười phương.

Vua biết thái tử đã kiên quyết, bèn đứng lên về. Thái tử đi thẳng, suy tư về đạo, sáu năm thì thành Phật. Sở dĩ Ngài sinh vào tháng Tư mùa Hạ, đó là lúc không nóng, không lạnh, cây cỏ đơm hoa, cởi áo lông chồn, mặc áo thưa mỏng, là biết trung lữ vậy. Sở dĩ Phật sinh ở Thiên Trúc là chỗ trung hoà trong trời đất vậy. Kinh do Phật viết gồm đến 12 bộ hợp tám ức bốn ngàn vạn quyển. Quyển lớn vạn lời trở xuống, quyển nhỏ ngàn lời trở lên. Phật dạy thiên hạ, cứu vớt giải thoát nhân dân. Nhân ngày 15 tháng 2 nhập tịch mà đi. Kinh điển và giới luật tiếp tục tồn tại, noi theo mà làm, cũng đạt vô vi, phúc đến đời sau. Kẻ giữ năm giới, một tháng sáu ngày trai. Ngày trai giới thì chuyên tâm vào một ý, hối lỗi mà tự đổi mới. Sa môn giữ 250 giới, hàng ngày trai giới. Giới ấy không phải cho Ưu bà tắc được nghe vậy. Oai nghi đi đứng cùng điền lễ ngày xưa không khác. Suốt ngày thâu đêm giảng đạo tụng kinh, không tham dự việc đời” 2.

Rõ ràng, ngay điều đầu tiên trong 37 điều của tác phẩm Lý hoặc luận, Mâu Tử đã xác định hình ảnh Đức Phật Thích Ca đản sinh từ trong huyền sử Phật giáo Ấn Độ được khắc hoạ lại bằng hình ảnh Đức Phật lịch sử, hiện thân của một con người thật có mặt trong cuộc đời. Từ địa vị thái tử, nhờ công phu tự thân tu tập, tự thân hành trì, tự thân chứng ngộ, Ngài trở thành Bậc Giác ngộ giữa đời, được ghi nhận và mô tả theo tâm thức của người Việt Nam bấy giờ. Các yếu tố mang tính huyền sử có mặt, chỉ nhằm tô điểm khắc sâu vào tâm thức như báo hiệu một sự kiện hy hữu là Phật ra đời với nhân cách lớn mà không có bất kỳ người bình thường nào mang đặc trưng đó. Điều đáng nói các yếu tố huyền sử được tiếp biến bằng những hình ảnh, chi tiết sống động, được mô tả thật ấn tượng và diễn đạt theo cách tư duy tín ngưỡng dân gian của quần chúng người Việt. Hình ảnh, chi tiết “Mượn hình nơi vợ vua Bạch Tĩnh. Bà ngủ ngày, mộng thấy cưỡi voi trắng, thân có sáu ngà, hớn hở thích thú, bèn xúc cảm mà có thai”; “mình cao trượng sáu, thân đều sắc vàng, đỉnh đầu có nhục kế, má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có ngàn xoáy, cổ sáng chiếu vàng dặm”; “Bà có mang con trai, sáu năm mới sinh”; “Quỷ thần nâng đỡ, bay ra khỏi cung”; “Khi chưa có con, cha cầu xin thần, nay đã có con, như ngọc như trân, nên nối ngôi tước, chứ bỏ đi đâu?”. Chính những hình ảnh và chi tiết mô tả xung quanh sự kiện hy hữu Phật đản sinh ở đời khi đọc lên, khiến chúng ta có ấn tượng đây là hình ảnh Đức Phật thị hiện được ghi lại trong các huyền thoại, huyền sử thuộc Kho tàng cổ tích Việt Nam mà bất cứ người dân nào cũng được mẹ hiền kể chuyện thần tiên khi còn trong nôi, mẹ ru à…ơ… cho con ngủ. Bằng cách này, người Việt sẽ nhìn nhận và thấy hình ảnh Đức Phật thật gần gũi và thân thương biết chừng nào! Và như thế, Đức Phật trong tâm thức người Việt cứ theo lời ru của mẹ mà đi suốt cả cuộc đời từ khi được cha mẹ sinh ra, lớn lên, trưởng thành mà đóng góp cho đời, cho đạo. Bởi vì:

Dù cho đi hết cuộc đời,
Vẫn không đi hết những lời mẹ ru”.

Trên hết, toàn bộ nội dung của điều 1 trong 37 điều của tác phẩm không chỉ giới thiệu cuộc đời của Đức Phật từ khi đản sinh, cho đến sự quyết tâm tu hành, chuyển hoá thân tâm, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, để lại cho đời 12 bộ kinh, thực hành giới định tụê mà còn là cơ sở để thiết lập Phật thể quan thật hiện thực từ trong đời sống được diễn tiến hàng ngày hàng phút của xã hội Việt Nam bấy giờ được ghi trong điều 2 của tác phẩm Lý hoặc luận, khi có người hỏi Phật có nghĩa là gì và được Mâu Tử lý giải và khẳng định:

“… Phật là nguyên tổ của đạo đức, đầu mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là giác, biến hoá nhanh chóng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được, lớn được, tròn được, vuông được, già được, trẻ được, ẩn được, vuông được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau, ở dơ không bẩn, gặp hoạ không mắc, muốn đi thì đi, ngồi thì loé sáng, nên gọi là Phật” 3.

Một quan điểm về Phật thể như thế sẽ tác động mạnh mẽ vào tâm thức con người trong chiều hướng thăng tiến, được xây dựng trên nền tảng của nguyên lý đạo đức của con người, là đầu mối của thần minh, chứ không phải gì khác ngoài hiện thực con người đang sống. Hay nói cách khác, xuất phát điểm từ con người, vì con người mà sống theo nguyên lý đạo đức của con người thiết lập mà chuyển hoá thân tâm, sống tốt đời đẹp đạo. Chính xuất phát từ nhận thức như thế, mà tự thân mỗi con người luôn nỗ lực nhiệt tâm tự giác sống đúng luật nghi, phòng hộ các căn, tẩy rửa thân tâm, tỉnh thức để thiết lập các mối quan hệ giữa người với người, giữa người với môi trường sống của xã hội. Cụ thể là sống theo nếp sống đạo, trên nền tảng xây dựng đạo đức cuộc sống như điều 1 của Lý hoặc luận vạch định:

“Ngày trai giới thì chuyên tâm vào một ý, hối lỗi mà tự đổi mới. Sa môn giữ 250 giới, hàng ngày trai giới. Giới ấy không phải cho Ưu bà tắc được nghe vậy. Oai nghi đi đứng cùng điển lễ ngày xưa không khác…”.

Một người sống theo nguyên lý đạo đức thì hoá hiện những phẩm chất cao thượng, sau đó đi đến sự an định trong tâm thức và thăng tiến trí tuệ, đó là Giác. Một người đã làm hoá hiện tính giác thì khả năng sáng tạo vô cùng to lớn và có thể làm nhiều điều kỳ diệu cho chính mình, cho mọi người và cho cả cuộc đời. Do đó, hình ảnh Đức Phật được Mâu Tử ghi nhận là một con người với vẻ đẹp toàn bích của đạo đức và các phẩm chất năng lực siêu việt với cách diễn đạt và đầy quyền năng như là một khát vọng sống. Mục đích là để con người vượt qua những chướng duyên và khó khăn từ trong cuộc đời. Và như thế, Phật cũng trở thành nhân vật lý tưởng, một mục tiêu hướng tới mà bất kỳ người nào sống trên cõi trần này đều có khả năng vươn tới và thành tựu.

Thực tế, nguyên uỷ của nghĩa Phật là Giác, là tỉnh thức về sự thật con người và thế giới hiện hữu quanh ta. Có điều, Mâu Tử vào thời đó, ngoài việc nêu Phật là nguyên tổ đạo đức, đầu mối thần linh, còn triển khai ý nghĩa “Giác” qua một số yếu tính khác nữa hết sức quyền năng và thần thông như chứng tỏ khả năng vô hạn của con người là có thể khi “trí tuệ bừng khởi” và soi sáng cho đời từ trong hiện thực khổ đau cần phải vượt thoát: “biến hoá nhanh chóng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được, lớn được, tròn được, vuông được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau, ở dơ không bẩn, gặp hoạ không mắc, muốn đi thì đi, ngồi thì loé sáng”. Một người Phật tử khi làm được điều này là có nghĩa thực hiện được mục đích cao cả mà Phật giáo thời đó đề ra như điều 1, Lý hoặc luận ghi: “Phật dạy thiên hạ, cứu vớt giải thoát nhân dân”.

Thế là Phật giáo thời du nhập ở nước ta cho chúng ta cái nhìn hiện thực, nó tạo sức sống mới để tạo ra mẫu người Phật tử tự tin về chính bản thân mình. Con người tự nương tựa vào chính mình mà hoàn thiện bản thân, thành tựu nhân cách, an trú trong sự bình an nội tại mà thăng tiến trí tuệ. Đó là bản chất của đạo Phật mà Mâu Tử đề xuất trong Lý hoặc luận được ghi trong điều 3 và 4. Cụ thể là “… Nhìn không có hình, nghe không có tiếng. Bốn phương là lớn, nó vượt ra ngoài, tơ hào là nhỏ, nó lọt vào trong” và “… Đạo làm ra muôn vật, ở nhà có thể dùng thờ cha mẹ, làm chủ nước có thể dùng trị dân, đứng một mình có thể làm dùng để sửa thân…”. Điều này khẳng định, mục đích tối hậu mà đạo Phật có mặt ở đời không ngoài ý nghĩa giải quyết các vấn đề khổ đau từ hiện thực cuộc sống mà con người luôn giáp mặt. Trên hết, đạo Phật luôn đòi hỏi mọi người Phật tử không chỉ lo hoàn thiện đạo đức bản thân, mà còn biết sống tốt với những người thân trong gia đình và tham gia tích cực đóng góp cho đời trong một trọng trách cao quý là “trị nước an dân”.

Kết quả, Phật giáo thời du nhập nước ta đã góp phần cùng dân tộc tạo ra diện mạo và đặc trưng đạo Phật của cộng đồng người Việt mà chúng ta có thể nhận diện qua toàn bộ tác phẩm Lý hoặc luận. Từ một Phật thể quan về Đức Phật đản sinh mà Mâu Tử, đại diện cho giới Phật tử Việt Nam thời bấy giờ đề xuất, nó đã được nhân dân ta chung lòng, kề vai sát cánh làm nên kỳ tích lịch sử dân tộc. Đó là mở ra thời kỳ độc lập tự chủ không chỉ trên biên cương lãnh thổ mà trên các lĩnh vực khác, kể cả tín ngưỡng tâm linh mà sử sách ghi nhận qua các triều đại khởi đầu từ chiến thắng Bạch Đằng lịch sử khai sáng ra triều Ngô, kế đến là Đinh Lê Lý Trần và tiếp nối mãi cho đến hôm nay.

Và điều cuối cùng mà chúng tôi muốn nói, với quan điểm về hình ảnh Phật đản sinh như thế, chắc chắn chúng ta sẽ tạo nên những kỳ tích mới mà đạo Phật có thể cùng với dân tộc tham gia tích cực đóng góp cho xã hội thêm phồn thịnh, nhân dân ngày càng hạnh phúc, trong bối cảnh đất nước hội nhập thế giới.

1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận (I, II, III) tái bản, NXB Văn Học, Hà Nội, 2000, tr.51.
2. Lê Mạnh Thái, Nghiên cứu về Mâu Tử, tập II, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr.510.
3. Sđd, tr.510.

Thích Phước Đạt
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)


BẦY BƯỚC ĐI SEN NỞ
Huỳnh Ngọc Trảng 

Tuy là Bậc Đạo sư sáng lập Phật giáo, song các kỳ tích của Phật Thích Ca Mâu Ni đã vượt khỏi khuôn khổ của một vị Phật lịch sử để trở thành những biểu tượng kỳ vĩ hàm chứa nhiều tầng ngữ nghĩa vừa phổ quát vừa riêng biệt. Ở bài viết này, chúng ta thử tìm hiểu một tình tiết của kỳ tích Phật đản sinh: Bảy bước đi sen nở.

Trong các ghi chép về sự kiện này, có lẽ nội dung đoạn văn trong kinh Dirghagama (Trường A Hàm) là đáng chú ý nhất: Thái tử Sakyamuni Gautama, khi vừa sinh ra đã đi bảy bước về mỗi phía trong bốn phương và chỉ tay phải lên trời, tay trái xuống đất, tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Dưới mỗi bước chân của thái tử, đất nẻ ra, mọc lên một đoá sen… Ở đây có hai biểu trưng cần xem xét trước tiên: hoa sen và con số 7.

Sen và các biểu trưng của sen

1. Sen (Nelumbo Nucifera) là một loại thực vật thuộc họ “túc căn thảo” (loại cây nảy mầm từ rễ củ), màu sắc đẹp đẽ, nở vào mùa Hạ, mọc từ bùn lầy mà tinh khiết, thơm tho. Do đó, sen được mọi người, mọi dân tộc ưa chuộng, kể cả người Việt:

Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhuỵ vàng.
Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Rõ ràng, sắc tướng toàn mỹ trội bật “trong đầm gì đẹp bằng sen” là hiệu quả trực quan khiến sen chiếm được mỹ cảm của thế nhân, nhưng chính tính vô nhiễm “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” đã làm sen trở thành loài hoa đệ nhất hạng. Sen mọc từ bùn nước nở thành đoá hoa xinh đẹp cực kỳ: những sức mạnh của sự sống có thể biến đổi bùn lầy của tồn tại vật chất ấy thành Cực lạc, Niết bàn. Hoa sen – Phật Thích Ca Mâu Ni ngự trên đó – là bản thể Đức Phật, không bị bùn lầy samsàra tác động.

Chính Phật là Bậc Tự Tại (Svayambhu) nên đài toạ hoa sen biểu thị sự thiêng liêng tôn kính này. Nhiếp Thừa Luận Thích, 15, có giảng rằng: Hoa sen có 4 đức: hương (thơm), tịnh (sạch), nhu nhuyễn (mềm mại) và khả ái (đáng yêu). Đó là bốn đức Chân như, biểu trưng của Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Lại nữa, Hoa Nghiêm thám huyền ký, quyển 1, chỉ rõ các ý nghĩa tượng trưng của hoa sen: 1/ Vi diệu nghĩa (chỉ Đức Phật rời khỏi tầm thường nên nói hoa là nghiêm); 2/ Khai phu nghĩa (chỉ hạnh mở giác bày thù thắng); 3/ Đoan chính nghĩa (chỉ tướng viên mãn); 4/ Phân hinh nghĩa (chỉ đức thơm tho, tự phát lộ thơm ngát); 5/ Thích duyệt nghĩa (chỉ cái đức thắng vượt tạo nên niềm hoan lạc không dứt); 6/ Xảo thành nghĩa (chỉ đức tướng đã tu thành rất khéo đẹp); 7/ Quang tịnh nghĩa (chỉ việc dứt lìa chướng nghiệp mà được thanh tịnh); 8/ Trang sức nghĩa (tuỳ theo bản tánh mà làm tăng vẻ đẹp); 9/ Dẫu quả nghĩa (chỉ việc sinh ra nhân để tạo quả của Phật); và 10/ Bất nhiễm nghĩa (chỉ việc ở trần thế mà không bị tiêm nhiễm như sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”).

2. Ngoài ý nghĩa biểu trưng bản thể Đức Phật, sen cũng biểu thị tầng ngữ nghĩa phổ quát hơn. Xuất hiện từ bùn nước của sen, chính sự hiển hách trong bối cảnh đó, sen biểu hiện sự sống xuất hiện đầu tiên trong khoảng mênh mang không rõ sắc màu của những vùng nước khởi nguyên; đó là biểu trưng sự sinh tạo, tái sinh, phục sinh… Như vậy, hoa sen, trước hết là bộ phận sinh tạo, bảo đảm cho các cuộc sinh thành và tái sinh truyền lưu mãi mãi (I, 800).

Ý nghĩa biểu trưng này thấy trong truyền thống Ấn Độ cổ đại, sen được coi là sinh ra từ bóng tối và bừng nở ngoài ánh sáng, biểu thị sự thăng hoa tinh thần. Ở đó, nước là trạng thái bất phân nguyên sơ, sen biểu thị sự hiển hiện phát ra từ đó, sen nở trên bề mặt như một quả trứng thế giới: Nụ hoa biểu trưng quả trứng, hoa nở chỉ cho trứng nở; nó thực hiện khả năng hàm tàng mầm mống ban đầu. Một minh dụ cụ thể là thần thoại khai sinh vũ trụ Hindu, được thể hiện trong khoa tranh tượng Ấn giáo: Vishnu ngự trên mặt đại dương nhân quả và từ rốn của Vishnu nhô lên một đoá sen nở chứa đựng thần Sáng tạo Brahma, khởi nguyên xu hướng khai mở (rajas). Ở đây, hoa sen (mọc từ rún Vishnu) biểu thị ngọc châu Mani – của đất và mặt khác cũng biểu trưng cho nước và sự sáng tạo (II,2). Thần thoại thiên địa khai tịch Hindu nói trên của phái Vishnu đưa ra một cảnh giới có mối tương đồng với thế giới trang nghiêm thanh tịnh “Liên hoa tạng” của Đại Tỳ Lô Giá Na trong kinh Hoa Nghiêm và thế giới “Liên hoa hải tạng” ở kinh Phạm Võng.

Hoa sen không những có vai trò quan trọng trong điện thờ Hindu mà cả trong Phật giáo. Nó biểu trưng cho sự tự thân sáng tạo. Điều này giải thích tại sao thần Brahma của đạo Hindu ngồi trên hoa sen và chư Phật, Bồ tát đều lấy hoa sen làm đài toạ. Các Phật A Đề (Adi Buddha) đều tự xuất khởi từ ngọn lửa phát lên từ hoa sen.

Việc hoa sen biểu thị như quả trứng thế giới (với nụ / búp là trứng; hoa khai là trứng nở, khai mở) đã nêu trên đây có thể thấy trong các biểu dụ của tông Tịnh Độ: 1) Thai cung: Nơi vãng sinh của các bậc hạ phẩm hạ sinh. Hành giả tu các công đức với tâm nghi hoặc, tuy vãng sinh về Tịnh độ Di Đà, nhưng lại ở trong búp sen chứ không được ra, trong 500 năm không được thấy Phật, nghe pháp, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng. Giống như nằm trong thai mẹ tối tăm, nhưng hành giả vẫn cho là nằm trong cung điện nên gọi là Thai cung. Hội vô lượng thọ / kinh Đại Bảo Tích, 18: “Các chúng sinh ấy ở trong búp sen…” (III7546); 2) Liên thai: Người niệm Phật vãng sinh Tịnh độ đều từ hoa sen hoá sinh như trong thai mẹ nên gọi là liên thai. Liên tông bảo giám: “Khi vãng sinh Tịnh độ, vào liên thai kia, thọ hưởng các sự sung sướng” (III,3717). Nói rộng hơn, hoa sen biểu thị cho nguyên lý nữ tính, điều này Kim Cang thừa trình bày những biểu trưng của hoa sen cụ thể và chi tiết hơn (II,2).

Bảy bước đi sen nở

1. Cũng như bộ năm (ngũ) truyền thống Trung Quốc (bắt nguồn từ việc quy toàn bộ mọi thứ vào Ngũ hành: Ngũ kim, ngũ vị, ngũ tạng, ngũ cốc, ngũ luân…), bộ bảy (thất) là biểu trưng cho một tổng thể hoàn chỉnh. Bộ bảy / con số 7 xuất hiện phổ biến trong hầu hết các nền văn hoá, các tôn giáo: từ đạo Cơ Đốc (7 xuất hiện 40 lần trong Khải huyền, 77 lần trong Cựu ước và Phúc âm: 7 tuần lễ, 7 phép lạ, 7 xác nhận của Chúa Kitô… [I,71-72] đến đạo Hồi (7 tầng trời, 7 tầng đất, 7 biển, 7 ngàn địa ngục, 7 cửa, đi 7 vòng quanh K’aba là nghi lễ bắt buộc của tín đồ hành hương đến La Mecque… [I, 72]), đạo Vệ đà, thuật Yoga (Ấn Độ)… Đối với Phật giáo, bộ bảy cực kỳ phong phú: thất bảo (thất bảo chúc [7 loại cháo cúng Phật], thất bảo hoa, thất bảo tháp, thất bảo ngục…), thất bất khả tị (7 điều không tránh được), thất bất thiện luật nghi (7 ác giới), thất cảnh giới, thất cấu, thất cú đáp, thất chân như, thất chi, thất chi luận pháp, thất chúng, thất chủng biện, thất chuyển thức, thất tri (7 thiện pháp), thất uế hạnh, thất xứ thuyết, thất xứ trưng tâm v.v…

Bộ bảy biểu trưng cho một tổng thể hoàn chỉnh, không chỉ giới hạn ở việc định lượng một tập hợp tối đa mà còn có nghĩa là một chu kỳ toàn hảo, viên mãn, một sự hoàn thiện năng động… Trạng thái quá độ sau khi chết kéo dài 49 ngày (7x7) mà chúng ta thấy trong kinh Địa Tạng là một chu kỳ “trọn vẹn của thời gian” chuyển đổi từ cái này đến cái khác: một sự đổi mới. Ví dụ khác: Mỗi kỳ mặt trăng kéo dài 7 ngày và 4 kỳ trăng khép lại một chu kỳ (7x4=28). Ở đó, số 7 chỉ chiều hướng của một sự thay đổi sau một chu kỳ đã hoàn thành và của chu kỳ mới; các chu kỳ kế tiếp chuyển đổi / miên viễn. Theo Tom Chetwynd: “Giống như mười hai (3x4), bảy (3+4) là đơn vị thời gian cơ bản và thời gian là chiều kích của tinh thần và là thành phần chính yếu cần thiết cho sự thay đổi hay biến đổi. Vì vậy nó là biểu trưng cho năng lượng và sự vận động, đối lập với vật chất và vật liệu; hay nói rộng hơn, đây là kết hợp thể của hình vuông (4 góc) của thực tại tĩnh và nguyên lý động của tam giác (3 góc), hệt như lửa làm chuyển hoá các nguyên tố khác (giống như Ngọc châu trong đoá sen – Om Mani Padme hum – là vũ trụ chứa đựng pháp / dharma đoạn trừ ảo ảnh Màya để chuyển thành Niết bàn – HNT). Số bảy thường là bước/ chặng cuối cùng trước khi hoàn thành, từ không đến vô tận” (IV, 287-288). Những dữ liệu nêu trên ít nhiều đã cung cấp cho chúng ta những căn cứ để hiểu một khía cạnh của bảy bước đi sen nở.

2. Trong Kinh tạng, hoa sen với nhiều dạng thứ đặc dị xuất hiện khá nhiều, tích hợp thêm các tinh nghĩa phong phú. Kinh Đại bát nhã có nhắc đến “Thiên diệp liên hoa” (hoa sen nghìn cánh), luận Đại trí độ lại phân làm 3 loại hoa sen: Nhân hoa (hơn 10 cánh), Thiên hoa (100 cánh), Bồ tát hoa (1.000 cánh); lại nữa, trong kinh Đại thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán đề cập đến các thần Phật ngồi trên hoa sen trăm cánh giảng bách pháp minh môn, ngồi trên sen ngàn cánh giảng thiên pháp minh môn, ngồi trên sen vạn cánh giảng vạn pháp minh môn cho các hạng Bồ tát. Còn đài sen mà Phật Lô Xá Na ngồi (kinh Phạm Võng), chung quanh có ngàn cánh thị hiện hàng ngàn Đức Thích Ca, ngồi dưới cội bồ đề, cùng lúc thành đạo…

Trong các dạng thức của hoa sen, chúng ta cần lưu ý đến dạng hoa sen phổ biến nhất là sen tám cánh (bát diệp) mà Phật ngồi ở chính giữa (trung toà) trong đồ hình gọi là Cửu tự mạn đà la. Ở đây, tám cánh hoa biểu thị không gian tám hướng và sen, như vậy, còn là biểu tượng cho sự hài hoà vũ trụ. Ý nghĩa này thể hiện trong các đồ hình Mạn đà la cũng như các Yantra. Tám hướng biểu thị cho tổng thể không gian. Tám ở đây là 4 phương chính và 4 phương bàng; giản lược lại, bốn phương chính cũng đủ để biểu thị cho tổng thể không gian. Đó là điều mà đoạn trích dẫn trong kinh Trường A Hàm nêu ở đầu bài viết đã chỉ rõ: Thái tử Sakyamuni Gautama, khi vừa sinh ra, đã đi 7 bước về mỗi phía trong bốn phương.

3. Ở chiều kích khác, số bảy biểu thị 6 hướng không gian cộng với 1 trung tâm. Một thần thoại Hindu giáo gắn cho Mặt trời 7 tia sáng, ứng với sáu hướng không gian, tia sáng thứ 7 ở trung tâm. Tương tự cầu vồng không có 7 sắc mà chỉ có 6: màu thứ 7 là màu trắng, tổng hợp của 6 màu kia. Cũng vậy, vũ trụ luận Ấn Độ cổ đại mà Phật giáo đã thừa kế cũng cho rằng trong lớp biển mặn Hàm hải, mỗi châu (lục địa: divìpa) nằm giữa 7 lớp núi vàng (luân vi) là một đại thiết vi. Lại nữa, ngọn núi trung tâm của vũ trụ luận Phật giáo là Tu Di sơn (Someru) có “thất bảo giai đạo”, hai đường giai đạo có 7 lớp tường báu, 7 lớp lan can, 7 lớp mành lưới, 7 lớp hàng cây… (III, 6913-6914). Điều này chỉ ra con số bảy là biểu thị cho một tổng thể không gian toàn hảo, một tối đa không còn gì hơn được về lượng lẫn chất.

Trở lại sự kiện “bảy bước về bốn hướng và dưới mỗi bước nở một đoá sen”, chúng ta thấy 7 là tổng số 6+1. Đây là biểu tượng cho sáu hướng không gian và một trung tâm (duy ngã độc tôn); 6 hướng ở đây là 4 phương (Đông Tây Nam Bắc) và hai hướng của trục vũ trụ thẳng đứng (thiên thượng: tay phải chỉ trời và thiên hạ: tay trái chỉ đất). Đó là toàn bộ vũ trụ, hiểu theo nghĩa: “Bốn phương trên dưới là vũ, xưa qua nay lại là trụ” [Đào Duy Anh: Hán Việt từ điển giản yếu, Trường Thi xb, S.1957, tr.567]. Như vậy, nói rộng hơn 6+1 biểu thị cho một tổng thể không gian và tổng thể thời gian. Ở đó, biểu lộ cái bí mật của con số 7: sự trở về với trung tâm, với bản nguyên với kết cục của bộ sáu, hoàn thành ở bộ bảy. Đến đây, chúng ta thấy rõ sự tương hợp giữa sự kiện “đi 7 bước sen nở” về 4 hướng và tư thế/ cử chỉ của Phật đản sinh tạo thành một biểu tượng tổng hợp đa nghĩa mà chúng ta còn phải tiếp tục truy tìm.

Huỳnh Ngọc Trảng
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)
 
 


GÕ CỬA NHÂN GIAN
Hạnh Chiếu

Rất tĩnh lặng. Rất một mình. Phật gõ cửa nhân gian. Như Lai đến với chúng sinh bằng trái tim trinh nguyên. Trong và sạch vô ngần.

Rất tĩnh lặng. Rất một mình. Phật gõ cửa nhân gian. Như Lai đến với chúng sinh bằng trái tim trinh nguyên. Trong và sạch vô ngần.

Canh năm đêm thứ bốn mươi chín, khi sao Mai vừa mọc, Thế Tôn hùng dũng nhổ bật cái gốc rễ cuối cùng đã cắm sâu vào cuộc tử sinh dòng luân hồi vô thuỷ. Vô minh vụn vỡ. Ngã ái được khai quật tan hoang. Sương rừng say khướt toà cỏ, long lanh ngấn lệ. Uy linh chấn động tam thiên, thế gian tràn ngập ánh hào quang giác ngộ, mừng Đấng Vô thượng Điều ngự sư ra đời.

Ngày ấy đến bây giờ vẫn huy hoàng trí tụê, vẫn rạt rào suối nguồn từ bi. Đức Phật cho rất nhiều, mà chẳng hề đòi lại dù bao nhiêu. Thế Tôn sống đời tự tại, không toan tính muộn phiền, không lo lắng ưu tư. Làm gì cho chúng sinh được an vui hạnh phúc thì không hề hồi tiếc ăn năn, dù phải xả bỏ thân mạng. Người có tâm tham lam, Như Lai gõ cửa để mở tâm tham lam. Người có tâm sân giận, Như Lai gõ cửa để mở tâm sân giận. Người có tâm kiêu mạn, tật đố, si mê… Như Lai gõ cửa để mở các tâm ấy ra cho họ. Cứ thế Như Lai gõ cửa từng nhà, từng chúng sinh hữu duyên. Vì thế Như Lai ngự trị trọn vẹn trong trái tim của muôn loài.

Đề Bà Đạt Đa suốt một đời rượt đuổi theo Thế Tôn muốn lấy hết, cướp hết những gì Đức Phật có. Như Lai câu nệ làm chi. Cho hết. Đáng tiếc người đệ tử mà cũng là người anh em, không thể nhận được gia sản nhà mình. Tâm chân thật là nguồn Thánh bảo vô tận, không phải của mình, không có thần dụng, đột nhập vào được sao? Thua Phật. Ông không chịu quày đầu, không chịu tu tỉnh mà còn điên loạn thả voi say giết Phật, lăn đá trên đỉnh núi xuống cho Phật nát thây, cấu kết với vua A Xà Thế lật đổ Thế Tôn… nhiều chuyện lắm. Cuối cùng mưu sự không thành, quỳ dưới chân đấng Điều Ngự. Ông khóc. Đức Phật thương quá, sẵn lòng bỏ qua tất cả, đưa tay kéo ông lên. Thế Tôn kéo Đề Bà Đạt Đa lên từ hố thẳm của lòng tham lam thù hận, từ vô minh khát ái, từ cuồng vọng si mê, đưa người anh em trở lại ánh sáng, thọ ký cho ác hữu mai này sẽ thành Phật. Kết cuộc thật có hậu. Đức Phật sống đối xử với chúng đệ tử, với chúng sinh luôn luôn như thế. Bởi vì Thế Tôn có Tứ vô lượng tâm: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm. Nên Thế Tôn là bậc trí lực, diệu lực nan tư nghì.

Chúng ta thương người bình thường với mình đã là khó rồi, nói gì đến chuyện thương người ghét mình, đối xử tệ với mình. Chuyện đó thật cay. Học Phật ta ngưỡng mộ Phật, nể Phật hết lòng, nhưng làm điều Phật làm, nói lời Phật nói, thật tình ta chưa làm nổi. Tại vì ta chưa nhập được tâm Phật. Tâm Phật ở đâu? Phật bảo ở trong tâm ta. Tâm ta ở đâu? Phật bảo ở trong tâm Phật. Ô hay! Té ra Phật và mình chưa hề rời nhau.

Thế nhưng cả thế gian này loanh quanh lẩn quẩn đi tìm Phật từ hồi đó cho tới bây giờ. Lạ chưa? Lẽ ra đâu có chúng sinh, lẽ ra đâu có Phật. Đâu có Ta bà khổ, đâu có Phật thị hiện ra nơi đời để cứu khổ chúng sinh. Cũng tại cái mê vọng loanh quanh lẩn quản mà ra, rồi sơn hà đại địa theo đó huyễn sinh huyễn diệt trong thể tánh chơn thường, vô số chúng sinh nhiêu động kêu cứu trong ấy. Thật là thế gian này có mà như chưa từng có, quả nhiên không mà như chưa từng không.

Chư Tổ nói bản tâm không một vật, không xưa không nay, mênh mông bất tận, diệu dụng vô cùng. Phật bảo chỉ có dừng lại mọi vọng tưởng đảo điên mới trở về được với tâm chân thật này. Ta chưa dừng được vọng tưởng, nên chưa thể hành xử như Phật, như Tổ. Chưa thể thôi, chứ không phải là không thể. Rất là có thể. Phật bảo tình sinh thì trí cách, tình sạch thì trí sinh. Thế thôi.

Nếu đem tâm thương ghét của thế gian đong đếm cân phân thì con sâu cái kiến cũng không có chỗ dung trong lòng ta, nói gì đến chuyện đem tình thương này chia đều cho người ta thương và người chưa thương? Một khi trí tuệ chưa khai phát thì tình yêu thương rất dễ rơi vào cạm bẫy của sự luyến ái buộc ràng. Đã sụp vào bẫy này thì thua. Cho nên Phật dạy chúng ta trước lo tu cái đã, những việc khác làm theo chẳng vội. Như vậy sẽ yên ổn hơn, vững vàng hơn. Như Lai cũng thế. Ngài tu xong rồi mới gõ cửa nhân gian. Đã là người tu, phải thật cẩn thận. Một bước phiêu linh là muôn kiếp phù trầm.

Gốc rễ vô minh rất dễ sợ. Vì vô minh nên ái ngã. Vì ái ngã nên ta cố bám víu vào thân tâm này thật cứng chắc. Sợ mất thân, mất những gì của thân. Suốt một đời sống trong sợ hãi và lo toan cho tấm thân huyễn mộng. Bám theo cái giả tạm thì có khác gì gởi đời mình vào chùm bọt nước. Thế mà ta vẫn cứ bám. Đức Phật thiền định dưới cội bồ đề đã giải quyết xong việc này. Giải quyết tận căn để. Thế Tôn dùng trí tuệ phá tan vô minh, vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử, chấm dứt vòng luân hồi. Ngài hết sợ. Là đệ tử Phật, nối gót Như Lai đi vào đời, nhưng chúng ta chẳng dám gõ cửa nhà ai. Tại vì mình còn sợ. Phải mở được cửa bản tâm thì mới dám gõ cửa nhân gian. Ta chưa mở được cánh cửa tâm làm sao dám động tới cả toà tam giới. Thật là tệ hại quá đi.

Hôm nay kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, lại một lần nữa chúng ta cảm nhận uy vũ của Thế Tôn dưới cội bồ đề hơn hai nghìn năm trăm năm trước cho tới bây giờ vẫn còn vang rền, làm chấn động cung ma. Phật đã dùng cung thiền định, kiếm trí tuệ vung lên chặt hết mê tình từ vô thuỷ kiếp, hùng dũng tung ra khỏi vạn trùng lưới vô minh, đưa chúng sinh vượt thoát bể khổ trầm luân. Thật không gì có thể nói hết được về Đấng chí tôn. Bậc trí lực, hùng lực, vạn đức từ dung, siêu xuất thế gian. Cao khiết vô nhiễm nhưng lại rất gần. Vì Phật luôn có mặt trong từng chúng sinh. Toàn thể chúng hàm linh xin được nép mình quy ngưỡng.

Chúng con nguyện suốt đời và nhiều đời sau, đem thân tâm này noi gương hạnh Phật, mở cho được cánh cửa tâm chân thật của mình và tiếp tục nối bước hành hoá của Như Lai… Gõ cửa nhân gian.

Hạnh Chiếu 
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)


 



PHẬT ĐẢN 1964 TRONG KÝ ỨC NGƯỜI DÂN SAIGON
Nguyên Ly 

Sau Pháp nạn năm 1963, Phật đản 1964 đã đi vào lòng người với một không khí lễ hội hoành tráng. Ký ức về Đại lễ Phật đản 1964 như mãi vang vọng không chỉ những người con Phật mà cả trong lòng dân chúng Sài Gòn thời bấy giờ. Trong những ngày này, không khí lễ hội Phật đản như tràn ngập mọi nẻo đường góc phố, từ Khánh Hội, Vĩnh Hội qua ngã tư Bảy Hiền, từ Phú Lâm về tới Thị Nghè, toàn thể Sài Gòn như ngập tràn không khí lễ hội Phật đản, cờ phướn tung bay, đâu đâu cũng thấy lễ đài Phật đản, người dân Sài Gòn dường như bừng tỉnh dưới ánh đạo từ bi.

Trên nhiều phương diện, Đại lễ Phật đản 2508 có một màu sắc đặc biệt mà trước hay sau nó đều không thể tìm thấy. Nét nổi bật không phải chỉ riêng ở cảnh cờ bay rợp trời, đèn sáng ngời phố, hay ở lễ đài to, xe hoa nhiều mà còn ở cái nhẹ nhàng mà hàng triệu triệu tâm hồn cảm thấy, như người bán hàng rong trú được gánh nặng trên vai. Như một lẽ tất nhiên, sau những biến động lịch sử của mùa Pháp nạn 1963 và kết thúc là sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm, nhu cầu tổ chức một Đại lễ Phật đản quy mô, xứng tầm là một ước nguyện của nhiều Tăng Ni và đồng bào Phật tử.

Để thực hiện nguyện vọng đó, sau ngày khai mạc Đại hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại chùa Xá Lợi, Đại hội đã thống nhất tổ chức một Đại lễ Phật đản thật quy mô để cúng dàng Đức Từ Tôn sau những ngày Pháp nạn, đồng thời để kỷ niệm và tri ân các vị Thánh tử đạo. Từ đây, một Đại lễ Phật đản hoành tráng được lên kế hoạch do TT.Thích Thiện Minh làm Trưởng ban Tổ chức và TT.Thích Minh Châu làm Phó ban. Việc chuẩn bị cho Đại lễ Phật đản khởi động từ đầu tháng 4-1964 và được thông báo rộng rãi trên các báo đài tới toàn thể Phật tử và đồng bào các giới trong cả nước.

Đại lễ Phật đản PL.2508 đã được tổ chức vô cùng long trọng trong khắp cả nước. Giữa Huế và Sài Gòn gần như có sự tranh đua hào hứng. Nếu nói về phạm vi rộng, Sài Gòn không bì nổi với Huế về cảnh tưng bừng cờ đèn khắp nơi. Ai ai cũng công nhận rằng đây là lần đầu tiên mà sự tham gia kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh được đông gia đình và đông người tham gia nhất. Những nét độc đáo của cuộc lễ ở Sài Gòn là Phòng triển lãm văn nghệ Phật giáo (500.000 người đến tham quan), lễ đài rất mỹ thuật và vĩ đại ở bến Bạch Đằng với trụ cao gần 40 thước, toàn bằng sắt, trên có hình Phật sơ sinh và chót vót là đoá hoa Ưu đàm khổng lồ do đèn ống, đèn màu kết thành, 2 lần cộ xe hoa ban đêm thâu hút hàng triệu công chúng và cuộc lễ lộ thiên, sáng rằm tiếp theo có cuộc diễu hành của cả trăm ngàn Phật tử các giới các tuổi. Đặc biệt nhất có lẽ là cuộc biểu diễn xe hoa (trên 40 chiếc) màu sắc lộng lẫy, đèn đuốc sáng choang, hàm súc nhiều ý nghĩa”. (Từ Quang, số ra tháng 5-1964).

Theo ký tức của những người đã từng tham dự Đại lễ Phật đản PL.2508 – DL.1964, tất cả đều khẳng định rằng: “Đó là một Đại lễ Phật đản lớn nhất từ trước đến nay”. Bởi lễ đài Phật đản năm 1964 được dựng trước đó cả tháng tại bến Bạch Đằng do Tăng Ni Phật tử cùng với sự hỗ trợ của quân nhân và máy móc. Theo các chứng nhân từng tham dự Đại lễ Phật đản này kể lại, một lễ đài Phật đản mang tính sáng tạo được kiến thiết công phu theo hình hoa sen. Bệ lễ đài là một toà sen toả cánh chiếm trọn một công viên, trụ là một đại kỳ Phật giáo cao chót vót, giống như trụ đá của vua Asoka đánh dấu nơi Đức Thế Tôn đản sinh tại thành Ca Tỳ La Vệ, trên cùng bừng nở một đoá hoa Ưu đàm kim loại lấp lánh trong nắng như ánh sao sa. Tượng Đản sinh cao 8m, nặng 3 tấn được tôn trí ngay trên trụ dưới đoá hoa Ưu đàm, ngự trị cả một khoảng trời Bạch Đằng. Sự hiện diện sừng sững của lễ đài Phật đản khiến cho những toà nhà chọc trời xung quanh bỗng nhỏ lại, thấp xuống. Ban đêm, lễ đài rực rỡ trong biển đèn, chiếu át ánh đèn trong những cửa hiệu buôn bán ở khu trung tâm.

Mặc dù theo thông báo, Đại lễ Phật đản diễn ra một tuần kể từ ngày mồng 8 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch, nhưng không khí Phật đản đã tưng bừng nhộn nhịp ngay từ đầu tháng Tư âm lịch. Khắp nơi, từ đại lộ tới hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu cũng tràn ngập không khí lễ hội Phật đản. Khi ấy, nhà nhà treo đèn Phật đản, người người kết hoa Phật đản, mỗi đầu phố, mỗi con hẻm đều được thiết bàn thờ hay cổng chào Phật đản, cờ bay rợp trời, đèn sáng ngợp phố.

Khai mạc Tuần lễ Phật đản 2508 là lễ khai kinh lúc 8 giờ sáng mồng 8 tháng 4 âm lịch tại chùa Ấn Quang. Hàng vạn Tăng Ni, Phật tử đã tham gia khoá lễ cầu quốc thái dân an và truy niệm toàn thể Tăng Ni Phật tử đã hy sinh cho đạo pháp. Tiếp theo là buổi thuyết giảng nhân mùa Đại lễ, sau đó là lễ khai mạc Phòng triển lãm văn mỹ nghệ phẩm vào lúc 18 giờ 30 cùng ngày tai Viên đình Tao Đàn. Hơn 200 tác phẩm được tuyển chọn trong số 700 tác phẩm gửi tới gồm đủ các loại tranh sơn dầu, lụa, thuỷ mạc, tranh tàu, điêu khắc, kiến trúc, nhiếp ảnh và các mỹ nghệ phẩm kỷ niệm, nội dung phản ảnh cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ Pháp nạn. Đề tài tự thiêu và chân dung Bồ tát Quảng Đức được thể hiện trong suốt 100 tác phẩm đủ loại. Các tác phẩm được trưng bày có chữ ký của rất nhiều danh hoạ tên tuổi. Ngoài ra, thi sĩ Đông Hồ còn trưng bày một phòng thư pháp gồm những câu đối phảng phất đạo vị với những đường nét hào hoa, phóng khoáng. Phòng triển lãm mở cửa suốt tuần và mỗi ngày đón tiếp khoảng 3.000 khách tham quan triển lãm. Một kỷ lục triển lãm chưa từng thấy trên đất Sài thành.

Tại rạp Thống Nhất, giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã thuyết trình về đề tài: “Phật giáo với văn nghệ Việt Nam và thế giới” vào lúc 10 giờ sáng mồng 9 tháng 4 âm lịch. Tại đây, thi sĩ Đông Hồ cũng đã thuyết trình về đề tài “Thiền vị, đạo vị, thi vị trong văn chương Việt Nam” và TT.Thích Minh Châu với đề tài “Giáo dục Phật giáo”. Cả ba buổi thuyết trình đều đã thu hút rất đông giới trí thức và văn nghệ sĩ cũng như quần chúng Phật tử.

Đại lễ Phật đản 2508 không chỉ dành riêng cho các Phật tử, văn sĩ, trí thức mà còn là ngày đại lễ của những con người đau khổ, của các bệnh nhân, tù nhân, trẻ em cơ nhỡ và người già neo đơn. Trong tuần đại lễ này, Xã hội vụ đã phát động chương trình uỷ lạo phát quà cho các bệnh nhân trong các bệnh viện, tù nhân trong lao xá, người già trong viện dưỡng lão và cô nhi trong các nhà tình thương, v.v…

Ngày Phật đản còn là ngày của tuổi trẻ, ngày của thế hệ tương lai. Ngày 10 tháng 4, từ sáng tinh sương đã có hơn 10.000 thanh niên thuộc Tổng vụ Thanh niên gồm sinh viên, học sinh, thanh niên, Gia đình Phật tử, và hướng đạo Phật giáo đã có mặt tại sân vận động Hoa Lư. Dưới sự chủ toạ của TT.Thích Thiện Minh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên kiêm Trưởng ban Tổ chức Đại lễ Phật đản 2508, buổi lễ Phật đã diễn ra trong không khí vô cùng trang nghiêm. Hàng vạn đôi mắt ngời sáng nhìn lên, hàng vạn bàn tay búp sen chắp lại. Tiếng niệm Phật dâng lên rạt rào như hải triều âm và ngân vang mãi mãi.

Đỉnh điểm của Đại lễ Phật đản là hai ngày 14 và 15 tháng 4 âm lịch. Tối 14, hàng chục vạn người tràn ngập khắp các ngả đường đón rước Lễ hội ánh sáng. Lễ hội rước ánh sáng với hàng chục xe hoa từ các chùa và các Gia đình Phật tử lần lượt trẩy qua các con đường Trần Quốc Toản, Lê Văn Duyệt, Hồng Thập Tự, Hàm Nghi, Lê Lợi rồi tập kết tại lễ đài chính và sau đó toả ra diễu hành khắp các ngả đường để đón mừng Phật đản và tung rải niềm hân hoan khắp bốn phương. Bà con Phật tử suốt đêm không ngủ, rừng người đứng kín hai bên đường, tay cầm cờ vẫy chào mỗi khi đoàn xe hoa chạy ngang qua. Sau khi đã diễu hành khắp các ngả đường, con phố, xe hoa nào về chùa đó và tối hôm sau lại tiếp tục cuộc diễu hành.

Từ tinh mơ sáng rằm tháng Tư, bến Bạch Đằng từ trên cao nhìn xuống như một tấm thảm khổng lồ sặc sỡ màu sắc, màu của cờ, màu của hoa, màu của bong bóng, màu của các sắc áo vàng, lam, xanh đậm, xanh lợt… Trước Lễ đài là một rừng cờ và biểu ngữ ca ngợi ngày Khánh đản, ca ngợi Phật giáo, tri ân chư vị Thánh tử đạo, cảm tạ nhân dân thế giới. Bên trái lễ đài là ban hợp xướng và ban đại nhạc gồm hơn 200 nhạc công. Trước lễ đài, dọc theo bến Bạch Đằng là hàng hàng lớp lớp chư Tăng Ni một màu vàng rực rỡ và đoàn nhu đạo Phật tử Quang Trung gần 2.000 người trong võ phục thêu hoa sen. Bên phải lễ đài là đoàn phụ nữ Phật tử trong trang phục áo dài trắng tinh và đoàn thiếu nữ Phật tử trong bộ đồng phục màu lam thanh thoát.

Buổi lễ được cử hành vô cùng trang nghiêm và trọng thể dưới sự chứng minh tối cao của Đức Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cùng với sự tham dự của quan chức chính quyền thời bấy giờ và hàng triệu Tăng Ni Phật tử, học sinh sinh viên Phật tử, quân nhân v.v… trong bầu không khí trang nghiêm, bầu trời như xanh hơn, cao hơn, mây như ngừng trôi, gió như ngừng thổi để cùng thể nhập trong giây phút chào Phật kỳ và truy niệm các Thánh tử đạo. Một sự im lặng làm rung chuyển trong sâu thẳm tâm hồn của những người đang hiện diện trong buổi lễ. Sau nghi thức Phật đản là lễ rước tượng Bồ tát Quảng Đức và các Thánh tử đạo. Đoàn rước đi qua các con đường Tự Do, Lê Lợi, Phạm Hồng Thái rồi tới ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng (nay là CMT8 – Nguyễn Đình Chiểu), nơi Hoà thượng Quảng Đức đã tự thiêu thân cúng dàng Chính pháp, để làm lễ truy niệm chư vị Thánh tử đạo.

Để có được một mùa Phật đản hoành tráng như thế, Phật giáo đã phải trải qua một cuộc tranh đấu xương máu mà rất nhiều Tăng Ni Phật tử đã phải thiêu thân để bảo vệ Chính pháp. Trong Thông điệp Phật đản 2508, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đã tuyên bố rằng: “Tôi thành thật gợi lại hình ảnh hy sinh của các phật tử và sự tự thiêu của liệt vị Tăng Ni, đặt cao ngôi vị Bồ tát của các ngài trong tâm khảm Phật giáo đồ Việt Nam. Tôi tập hợp tất cả sự hy sinh và nỗ lực của Phật giáo đồ Việt Nam hiến dâng lên Đức Điều Ngự nhân ngày kỷ niệm Ngài lần thứ 2508 trở về với dân tộc Việt Nam đau khổ”. (Theo tạp chí Hải Triều Âm, số 2, ra ngày thứ Năm, 30-4-1964).

Đại lễ Phật đản 2508-1964 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng và mở ra một trang sử mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Với tất cả tâm tư tình cảm của người con Phật hướng về Đại lễ, Phật Đản 2508-1964 đã khẳng định vai trò quan trọng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của dân tộc, và một lần nữa khẳng định truyền thống gắn bó máu thịt của Phật giáo trong cuộc đồng hành cùng dân tộc.

Nguyên Ly 
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)

05-30-2007 12:30:13
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap