|
c
Thăng
Trầm Của Phật Giáo Tại A-Phú-Hãn
Đặng
Tấn Hậu
(Bài viết
này được thực hiện vào tháng 08 năm 2001)
Gần đây dư luận thế giới
chấn động về tin quân đội Taliban, xứ A-phú-hãn, tiêu hủy
các tượng Phật cổ và di tích Phật giáo vô giá trong xứ
họ. Tuy 90% dân A-phú-hãn theo đạo Hồi và không tới 1% dân
chúng theo đạo Phật, điều đáng ngạc nhiên là xứ A-phú-hãn
có nhiều di tích chùa chiền, tượng Phật, bảo tháp nhất
trên thế giới. Thí dụ, thành phố Bamiyan có hai tượng Phật
điêu khắc tuyệt đẹp bên sườn đồi, cao 55m và 35m ; nơi
đây có hơn 20,000 (hai chục ngàn) ngôi chùa và tu viện Phật
giáọ Bài viết này thử tìm hiểu Phật giáo đã được truyền
thừa qua xứ này như thế nào, và mai một qua thời gian ra
sao.
A-phú-hãn
A-phú-hãn phiên âm từ chữ
Afghanistan; danh từ Afghan do ông Alberuni (973-1084) đặt ra để
gọi một trong các sắc dân tại nơi đâỵ Xứ A-phú-hãn có
trên 13 sắc tộc như Afghan, Tazik, Baluchi, Turk, Mongol, Aryan,
v.v., riêng sắc tộc Afghan cai trị xứ này qua nhiều thế kỷ
nên đặt tên cho xứ là Afghanistan từ thế kỷ thứ 18.
Ngày nay, xứ A-phú-hãn có
diện tích khoảng 650,000 cây số vuông, lớn hơn VN 2 lần,
nhưng dân số chỉ có 15 triệu, bằng 1/5 dân số VN. A-phú-hãn
là quốc gia nghèo nhất trên thế giới với tổng sản lượng
mỗi năm trên mỗi đầu người là $US 200. Quốc kỳ A-phú-hãn
gồm có 2 mầu : mầu đen tượng trưng cho truyền thống dân
tộc và mầu xanh lá cây tượng trưng cho Hồi giáo vì Hồi
giáo hiện là quốc giáo của họ.
A-phú-hãn nằm trên đường
giao thông giữa các quốc gia Ấn Độ, Trung Hoa, Nga Sô và Iran.
Phía bắc giáp với Nga Sô, phía tây với Iran, phía đông-bắc
với Trung Hoa, phía nam và đông-nam với Pakistan (trước năm
1948, Pakistan làm một trong các tiểu bang của xứ Ấn Độ).
A-phú-hãn có nhiều ngọn núi cao ; ngọn núi Hindu-Kush cao trên
4,000m. Khí hậu rất lạnh vào ban đêm, ban ngày rất nóng,
có khi lên đến 45 độ C. Các thung lũng phía bắc có thể
trồng trọt nên một số người hành nghề nông, nuôi trừu
lấy lông. Phía nam là vùng sa mạc chiếm trên ¼ diện tích
quốc gia; những người sống ở miền nam sống đời du mục,
chăn nuôi dê và ngựạ Đa số dân chúng A-phú-hãn làm nghề
lái buôn (satthavaha), mua hàng hóa từ nơi này và bán đi nơi
khác. Họ thường trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia như
Trung Hoa, Nga Sô, Iran và Ấn Đô Phương tiện di chuyển là
xe đò, ngựa, lạc đà vì trong xứ không có tàu hỏạ
Các thành phố chính của A-phú-hãn
là Balkh, Kunduz ở miền tây-bắc; Bamiyan, Kapisa (Begram) ở miền
trung, Kandakar ở miền nam, Kabul, Jalalabad, Hađa, Udyana ở miền
đông. Các nơi này đã một thời là trung tâm Phật giáo nên
có hàng chục ngàn ngôi chùa, bảo tháp và tượng Phật. Ngày
xưa, người Ấn Độ gọi miền đông A-phú-hãn là xứ Udyana
(hay Ođiyana), miền trung là xứ Kapisa và miền tây là xứ Balhika
(Balkh).
Thế kỷ thứ 7 trước tây
lịch, A-phú-hãn theo đạo thần lửa (Zoroastrianism). Vua Alexandre
đại đế xâm chiếm A-phú-hãn vào năm 329 trước tây lịch.
Triều đại Kusana trị vì A-phú-hãn từ thế kỷ thứ nhất
cho đến khi giặc Hung Nô xâm chiếm vào thế kỷ thứ năm
; cuối cùng là người Ả-rập cai trị quốc gia này từ năm
651. Thành Cát Tư Hãn, vua Mông Cổ, đánh A-phú-hãn trong khoãng
thời gian đầu thế kỷ 13. Marco Polo có đi ngang qua A-phú-hãn
vào năm 1273. Vua Aman Allah Khan tuyên bố A-phú-hãn độc lập
và được hai cường quốc Nga Sô và Anh Quốc công nhận vào
năm 1921. Nhà vua bị lật đổ năm 1929. Ông Zacher Chah lên ngôi
năm 1933, hoàng tử Daoud lên làm thủ tướng năm 1953 và tạo
thế cân bằng giữa hai lực lượng Anh Quốc và Nga Sộ Sau
đó, thủ tướng Daoud đảo chánh, lật đổ chế độ quân
chủ và thành lập chế độ cộng hòa năm 1973 ; ông chủ trương
hiện đại hóa và mở mang xứ sở nhưng chẳng may, ông bị
nhóm thân cộng sản Nga Sô ám sát năm 1978. A-phú-hãn bị đặt
dưới quyền đô hộ của CS Nga Sô với vị tổng thống được
đào tạo tại Nga là Najibullah. Các kháng chiến quân Mujahideen
ra đời và chống lại chế độ cộng sản Nga Sộ Trước
sự chống đối mãnh liệt của kháng chiến quân A-phú-hãn,
chính phủ CS Nga Sô bắt buộc ký hiệp ước hòa bình tại
Genève năm 1987 và rút quân có trật tự ra khỏi A-phú-hãn
từ tháng 4 năm 1988 đến 15 tháng 2 năm 1989. Kháng chiến quân
Mujahideen đánh bại CS Nga Sô và bầu ông Rabbani lên làm thủ
tướng để thành lập quốc gia Hồi giáọ. Quân đội
Hồi giáo Taliban được đào tạo tại Pakistan và trở thành
đảng Hồi giáo Taliban vào năm 1994 ; họ lật đổ chính phủ
Rabbani và giết chết cựu thủ tướng tay sai CS Najibullah. Năm
1998, chính phủ Hồi giáo Taliban bắt đầu chiến dịch tàn
sát người dân vô tội nhất là sắc dân Hazarạ Năm 1998/99,
thiên tai động đất xảy tại A-phú-hãn, làm chết trên 4,000
người và 30,000 người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.
Năm 2001, chính phủ Taliban buôn ma túy để mua súng ống nhằm
mục đích tiêu diệt dân Hazaras và phá hủy các tượng Phật,
chùa chiền trong xự Ngày nay, A-phú-hãn bị đặt dưới chế
độ độc tài Hồi giáo trị.
Phật Giáo
Dựa theo kinh sách Phật giáo
và tài liệu của hai vị cao tăng Trung Hoa là ngài Pháp Hiển
(thế kỷ thứ 5) và Huyền Trang (thế kỷ thứ 7) ghi chép trên
đường đi thỉnh kinh bên Tây Trúc (Ấn Độ), Phật giáo được
truyền bá sang A-phú-hãn qua 4 thời kỳ và đã một thời là
quốc giáo của xứ nàỵ Bốn thời kỳ là :
thời kỳ Đức Phật còn tại
thế
thời kỳ kết tập lần thứ
hai;
thời kỳ kết tập lần thứ
ba ;
thời kỳ kết tập lần thứ
tự
Thời Kỳ Đức Phật Còn
Tại Thế
Hai anh em Tapissu & Bhallika
Tám tuần lễ sau khi Đức Phật
đắc đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng vào ngày rằm năm 588
trước tây lịch, hai anh em lái buôn Tapissu (anh) và Bhallika
(em) trên đường về xứ Uttara (một trong các tỉnh của xứ
A-phú-hãn ngày nay) đã dâng cúng Đức Phật bánh bột trộn
với mật ong (Madhugolaka). Sau khi Đức Phật thọ thực xong,
hai người xin Đức Phật làm lễ quy y nhị bảo (xin nương
về Phật, Pháp vì lúc đó chưa có Tăng). Đó là hai người
cư sĩ Phật giáo đầu tiên trên thế giớị.
Trước khi từ giã, hai người
xin Đức Phật tặng cho vật gì để làm kỷ niệm, Đức Phật
cắt tám sợi tóc và móng tay tặng cho hai ông. Khi về đến
quê nhà, hai người xây bảo tháp để tôn thờ tại Asitanjana
là thủ đô của tỉnh Kamsa thuộc xứ Uttarạ. Ngài Huyền
Trang kể lại có đến nơi đây để đảnh lễ xá lợi và
thấy bảo tháp phát ra hào quang mầu xanh dương vào ngày rằm
thọ giới (Uposatha). Không bao lâu, hai anh em Tapissu và Bhallika
trở lại Ấn Độ để nghe Đức Phật thuyết pháp tại thành
Vương Xá (Rajagaha); người anh Tapissu chứng đắc Nhất Lai,
người em Bhallika xuất gia và đắc thành đạo quả A-la-hán.
Kế đó, hai người trở lại quê nhà và tạo dựng ngôi chùa
phật giáo đầu tiên tại thành phố Ballika (Balkh), xứ A-phú-hãn,
để truyền bá đạo pháp. A-phú-hãn là quốc gia duy nhất
được biết đến Phật pháp do chính người dân bản xứ
mang về chứ không do chư tăng Ấn Độ truyền sang.
Ngài Huyền Trang có ghi cách
thành phố Balkh khoảng 50 dặm (50 lí) về hướng tây-bắc
có thành phố Ti-wei (là nơi ngài Tapassu cư ngụ) và khoảng
40 dặm về hướng bắc có thành phố Po-li, (là nơi ngài Bhallika
ở). Mỗi nơi đều có bảo tháp thờ xá lợị Tên của
ngài Bhallika lấy từ tên của thành phố Ballika (Balkh). Có
nơi ghi ỡ đạo Phật đã đến Miến Điện trong thời Đức
Phật còn tại thế, do hai thương nhân (Tapissu và Bhallika) từ
Ấn Độ mang tớị Những vị này mang theo cả tóc Phật, ngày
nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun Tự (Chân Nguyên
Nguyễn Tường Bách, Từ Điển Phật Học, Nhà Xuất Bản Thuận
Hóa, Huế, 1999, tr. 327). Điều này cho thấy có thể hai vị
này đã tặng một vài sợi tóc Phật cho xứ Miến Điện trên
đường đi buôn và cũng có thể hoàng gia Miến Điện đã
cung thỉnh các sợi tóc để thờ sau nàỵ
Thời Kỳ Dòng Họ Thích
Ca Lánh Nạn
Vua Ba-tư-nặc (Prasenajit) của
xứ Kosala có một hoàng tử tên Viruddhaka, về sau nổi loạn
chống lại ông. Mẹ của vị hoàng tử là con gái của Mahanama
dòng Thích Ca và bà ngoại của hoàng tử là một nô tỳ.
Khi cưới bà mẹ của Viruddhaka, vua Ba-tư-nặc không biết bà
là con của một nô tỳ. Đến lúc lớn lên, nghe người trong
thân tộc Thích Ca nói lại thì lấy làm tức giận, hoàng tử
Viruddhaka mới quyết định trả thù bằng cách đem quân tiêu
diệt hoàng thân quốc thích dòng họ Thích Ca. Một số người
chạy lên xứ A-phú-hãn để lánh nạn. Một trong những người
này lên làm vua tại Udyana (Jalalabad), con của vị này là hoàng
tử Uttarasena có mang theo xá lợi Phật (xương sọ), nên nhà
vua mới cho xây bảo tháp để tôn thờ nơi đâỵ Vào thế
kỷ thứ 7, ngài Huyền Trang có đến nơi đây để đảnh lễ.
Ngài Huyền Trang có gặp một vị vua tại Bamiyan, một trong
các con cháu của dòng họ Thích Ca, tiếp đón ngài rất trọng
thể. (Kinh đô có thể đã dời từ Udyana đến Bamiyan trong
khoảng đầu thế kỷ tây lịch). Các nhà khảo cổ đã tìm
thấy nhiều bình đựng xá lợi Phật tại Hadda, gần Jalalabad.
Như vậy, Ballika là nơi đầu tiên đã tiếp nhận Phật giáo
; kế đó là Udyana (hay Jalalabad).
Thời Kỳ Kết Tập Lần
Thứ Hai
Ba tháng sau khi Đức Phật
nhập diệt tại Câu-thi-na (Kusinara) ở Ấn Độ, vì sợ giáo
pháp bị mai một qua thời gian nên 500 vị trưởng lão (thánh
tăng) tập họp tại thành Vương Xá (Rajagaha) để trùng tụng
lời Phật dạỵ Đây là kỳ kết tập lần thứ nhất dưới
sự chủ tọa của ngài Ma-ha Ca-diếp. Ngài Ananda lập lại
lời Phật dạy về tục đế, ngài Upali về giới luật, ngài
Ma-ha Ca-diếp về chân đế. Một trăm năm sau, chư tăng tập
họp tại thành Tỳ-xá-lị (Vesali) ở Ấn Độ để tổ chức
kỳ kết tập lần thứ haị Lần này, sự tranh chấp về 10
điểm giữa đại đa số chư tăng trẻ và chư vị trưởng
lão bắt đầu manh nha nhưng chưa trầm trọng nhờ tài khéo
léo dàn xếp của thánh tăng Sambhuta Sanavasi. Ngài là vị sư
rất lớn tuổi cũng là đệ tử của ngài Ananda. (Sana là dây
gai, ngài có tên này vì y của ngài may bằng dây gaị Ngài
Huyền Trang có thấy áo cà sa 9 mảnh của ngài Sambhuta Sanavasi
được tôn thờ tại Bamiyan).
Mười điểm tranh chấp về
giới luật gồm có : không được trữ thức ăn từ ngày này
qua ngày khác ; phải ăn đúng ngọ ; ăn rồi, đã đứng dậy
không được ngồi lại ăn nữa ; khi đi qua các làng mạc,
có người dâng cúng các thứ vật dụng, nếu ăn rồi không
được nhận, mà có nhận thì phải đem cho kẻ khó ; quá trưa,
thì không dùng gì cả dù là sữa hay mật ong cũng vậy ; không
được uống rượu ; chăn, màn phải có kích thước nhất
định, không được hẹp quá hay rộng quá ; đã xuất gia,
không được đàm thoại đến những việc thế tục ; khi ban
bố điều gì, phải có sự thỏa thuận của toàn thể Tăng
già mới được thi hành ; không được tích trữ tiền bạc.
Chư vị trưởng lão gìn giữ 10 giới trên đã được nghị
quyết trong kỳ kết tập lần thứ nhất và lập thành trưởng
lão bộ. Đại đa số chư tăng trẻ chủ trương cải tiến,
không y theo 10 giới đã định và lập thành đại chúng bộ
(có tên đại chúng vì chư tăng trẻ đông hơn các vị trưởng
lão). Mặc dù có sự phân phái trong Phật giáo nhưng chư
tăng giữa các tông phái sống rất hòa hợp ; mỗi nhóm tự
chọn và tu học theo giáo lý thích hợp với căn cơ của mình.
Chư tăng đại chúng bộ bắt đầu đi lên miền bắc (A-phú-hãn)
để truyền bá Phật pháp và sống hòa hợp cùng với một
vài tông phái trưởng lão bộ đã đến nơi đây từ thời
Đức Phật còn tại thế.
Thời Kỳ Kết Tập Lần
Thứ Ba
Hai trăm năm sau khi Đức Phật
nhập diệt (năm 274 trước tây lịch), vua A Dục (269-232 trước
tây lịch) tổ chức kỳ kết tập lần thứ ba tại Pataliputta
(Patna ngày nay) dưới sự chủ tọa của thánh tăng Mục-kiền-liên-tu-đề
(Moggaliputta). Lần này, lời trùng tụng được ghi chép bằng
tiếng nam Phạn (Pali) gồm có ba tạng kinh: tạng kinh (tục
đế), tạng luật (giới), tạng luận (chân đế).
Vua A Dục ủng hộ trưởng
lão bộ, ngài đã cho quân đội bảo vệ chư tăng trưởng
lão bộ đi lên miền bắc để truyền bá đạo pháp. Ngày
nay, cách thành phố Kandahar (A-phú-hãn) 20 km, có nơi gọi là
Danda tức là quân đội, hay Skandhavara tức là nơi đóng quân
của vua A Dục.
Kinh sách kể lại hai vị thánh
tăng Majjhantika và Maharakkshita thuộc trưởng lão bộ đã lên
tận miền đông (Udyana) và miền trung (Yona) A-phú-hãn để
truyền bá giáo pháp. Vua Aravala đã xin quy y Tam Bảo sau khi
nghe ngài Majjhantika thuyết pháp. Hơn 170,000 người xin quy y
Tam Bảo và 10,000 người xin xuất gia cùng với thánh tăng Maharakkshitạ
Ngài Yona Dhammarakkhita, người A-phú-hãn, đã làm lễ xuất
gia cho trên 37,000 người dân bản xự Lịch sử cho biết trưởng
lão bộ phát triển tại các nơi như Balkh, Kandahar và Kapisa
(thủ đô của vua Ca-uy-sắc-ca).
Thời Kỳ Kết Tập Lần
Thứ Tư
Sáu trăm năm sau khi Đức Phật
nhập diệt (thế kỷ thứ nhất tây lịch), vua Ca-uy-sắc-ca
(Kaniska) của xứ A-phú-hãn noi theo vua A Dục tổ chức kỳ
kếp tập lần thứ tự Vì sự bất đồng trầm trọng giữa
chư tăng trưởng lão bộ và đại chúng bộ, nhất là vua Ca-uy-sắc-ca
chịu ảnh hưởng của đại chúng bộ nên ngài cho phép chư
tăng đại chúng bộ được phép tổ chức riêng tại Kundalavana
ở Kasmir. Vì tông phái Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada) đã
có mặt ở nơi đây từ trước nên lần này kinh điển của
Nhất thiết hữu bộ và đại chúng bộ cùng được ghi chép
bằng tiếng bắc Phạn (Sanskrit). Vì kinh điển Nhất thiết
hữu bộ là nền tảng của kinh điển đại chúng bộ nên
sự diễn dịch kinh điển nam Phạn (Pali) và bắc Phạn (Sanskrit)
có phần hơi khác.
Thí dụ, tạng Luận Bắc Phạn
thuộc Nhất thiết hữu bộ gồm có 7 bộ kinh đều do chư
vị thánh tăng thuyết.
Dị môn túc luận do ngài Xá-lợi-phất
thuyết ;
Pháp uẩn túc luận do ngài
Mục-kiền-liên thuyết ;
Thi thiết túc luận do ngài
Đại-ca-diễn-na thuyết ;
Thức thân túc luận do ngài
Đề-bà-thiết-ma thuyết khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt
;
Giới thân túc luận do ngài
Thế-hữu thuyết khoảng 500 năm sau khi Phật nhập diệt ;
Phẩm loại túc luận do ngài
Thế-hữu thuyết khoảng 500 năm sau Phật nhập diệt ;
Trí phát luận do ngài Ca-đa-diễn-ni-tử
sáng tác sau khi Phật diệt độ 400 năm và Đại tỳ bà sa
luận do 500 thánh chúng thảo luận sau khi Phật diệt độ khoảng
600 năm.
Vào thế kỷ thứ 4 tây lịch,
bồ tát Thế Thân (Vasubandhu) nghiên cứu nghĩa lý Tạng Luận
Sankrit lập thành bộ kinh A-tỳ-đạt-ma Câu Xá Luận (Abhidharmakosa
Sastra). Bộ kinh này trở thành hệ thống căn bản của Duy
Thức Học, còn được gọi là Pháp Tướng Tông hay Duy Thức
Tông (Cittamatra).
Tạng Luận Nam Phạn thuộc
trưởng lão bộ gồm có 6 bộ kinh ghi chép lời Phật dạy
và bộ Kathavatthu (Điểm tranh luận) do ngài Mục-kiền-liên-tu-đề
thuyết trong kỳ kết tập lần thứ ba tại Pataliputta.
Pháp tụ ;
Phân biệt các pháp ;
Giới luận ;
Chỉ danh cá tính ;
Điểm tranh luận ;
Song luận ;
Duyên hê
Tam tạng kinh đại chúng bộ
còn được biết dưới danh từ đại tạng kinh và được
phân chia theo 12 đề tài (thập nhị bộ phận giáo) :
Tu-đa-là (Sustram) : Khế kinh
;
Kỳ-dạ (Geyam) : Ứng tụng;
Hòa-già-la-na (Vyakaranam) : Thọ
ký ;
Già-đà (Gatham) : Lối kệ
;
Ưu-đà-la (Udanam) : Tự thuyết
;
Ni-đà-na (Nidana) : Lý nhân
duyên ;
A-ba-đà-na (Avadanam) : Thí dụ
;
Y-đế-mục-đa-gia (Itivrttakam):
Bản sự (Chứng quả);
Xa-đà-gia (Jatakam): Túc sanh
truyện;
Tỳ-phật-lược (Vaipulyam)
: kinh Phương Quảng (Lý thâm sâu) ;
A-phù-đà-đạt-ma (Ađhutadharmah)
: Vị tằng hữu, Thần lực ;
Ưu-bà-đề-xá (Upadsah) : Luận
nghi
Vào thế kỷ thứ 2 tây lịch,
Phật giáo trưởng lão bộ có bộ kinh ghi lại lời đối thoại
về chân đế giữa vua Mehinda, xứ Udyana (A-phú-hãn) và tỳ
khưu Na-tiên (Nagasana) tại thủ đô Sahkot, gần biên giới A-phú-hãn
và Pakistan ; đó là kinh Na-tiên Vấn Đáp mà hầu hết các
nhà học Phật đều biết đến.
Các bộ kinh đại tạng bằng
tiếng bắc Phạn (Sanskrit) đã bị người Hồi tiêu hủy từ
thế kỷ thứ 7. Nhờ các dịch giả, cao tăng đã dịch đại
tạng kinh từ bắc Phạn sang tiếng Trung Hoa, Tây Tạng, v.v...
nên ngày nay, chúng ta chỉ có đại tạng kinh bằng tiếng Trung
Hoa, Tây Tạng v.v... Điều đáng tiếc là Phật giáo VN chưa
có đại tạng kinh được dịch ra tiếng Việt.
Vì các quốc gia nằm ở phương
nam Ấn Độ như Tích Lan, Thái Lan v.v... theo trưởng lão
bộ nên có danh từ nam tông ; các quốc gia nằm ở phương
bắc Ấn Độ như Tây Tạng, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản
v.v. theo đại chúng bộ nên có danh từ bắc tông. Vì
trưởng lão bộ y theo kinh điển của kỳ kết tập lần đầu
nên có tên là Phật Giáo Nguyên Thủy; giáo lý đại chúng
bộ đặt trọng tâm trên bồ đề tâm (lòng từ bi) nên có
tên đại thừa ; chiếc xe lớn cứu khổ chúng sanh (thuyền
từ một lá vơi vơi, bể trần chở hết mấy người trầm
luân).
Mặc dù đạo Phật là quốc
giáo của xứ A-phú-hãn nhưng với tinh thần từ bi và trí
tuệ, y theo vua A Dục (Ấn Độ), vua Ca-uy-sắc-ca (A-phú-hãn)
đã ban hành các đạo luật bình đẳng tôn giáo và trừng
trị những người giết hại những người khác tôn giáo của
mình. Phật giáo được triều đại Kusana bảo vệ tại A-phú-hãn
cho đến thế kỷ 5, sau đó bị người Ả-rạp theo đạo Hồi
tiêu diệt ; lớp bị giết, lớp bị cải đạo nên ngày nay
không còn vị sư nào tại A-phú-hãn.
Tóm lại, Jalalabad là trung tâm
đại chúng bộ (Mahasanghikas), Kabul là một trong các trung tâm
Nhứt thiết hữu bộ (Sarvastivada), Kapisa (Begram) là thủ đô
vua Ca-uy-sắc-ca (Kaniska), Bamiyan có hai tượng Phật tuyệt đẹp
khắc bên sườn đồi và là trung tâm tu viện của Thuyết
xuất thế bộ (Lokuttaravadins), Kandahar là nơi đóng quân của
vua A Dục nhằm mục đích bảo vệ chư tăng thuộc trưởng
lão tọa bộ đi truyền pháp ở phương bắc. A-phú-hãn đã
một thời là trung tâm của Phật giáo thuộc tất cả các
tông phái trưởng lão bộ và đại chúng bô Thí dụ, đại
chúng bộ (Mahasaghikas) có 5 bộ phái chánh tại Udyana là :
Ekavyavaharika (Nhất thiết bộ)
;
Kaukulika (Kế dẫn bộ) ;
Bahusrutiya (Đa văn bộ) ;
Prajnaptivadin (Thuyết giả bộ)
;
Lokuttaravadin (Thuyết xuất
thế bộ) ; và trưởng lão bộ có 4 bộ phái chánh cũng tại
nơi đây như:
Sarvastivadins (Nhất thiết hữu
bộ) ;
Mahisasakas (Hóa địa bộ) ;
Dharmaguptas (Pháp tạng bộ)
;
Kasyapiyas (Ẩm quang bộ).
Ngài Huyền Trang có viếng thăm
Bamiyan và cho biết tông phái Thuyết xuất thế bộ (Lokuttaravadin)
rất thịnh hành tại nơi đâỵ Ngài có viếng thăm hai tượng
Phật khắc bên sườn đồị Tượng Phật Thích Ca cao 35m được
tạc vào thế kỷ thứ nhất tây lịch, thân sắc vàng, có
pha lẫn mầu xanh dương tuyệt đẹp. Tượng Phật Tỳ-lô-giá-na
(Varocana) cao 55m được điêu khắc vào thế kỷ thứ 5. Cả
hai tượng Phật đều được tạc vào triều đại Kusana.
Hồi giáo
Liên Hiệp Quốc cho biết vào
cuối tháng 5, năm 2001, chính phủ Hồi giáo A-phú-hãn đã buôn
ma-túy để mua khí giới chống lại quân kháng chiến tại
miền bắc A-phú-hãn, những người không chịu sự áp bức
của chế độ độc tài Hồi giáo trị. Vào tháng 3, năm 2001,
chính phủ A-phú-hãn đã cho quân đội bắn phá tất cả tượng
Phật, chùa chiền Phật giáo trong xự Mặc dù Liên Hiệp Quốc
đã cho người sang A-phú-hãn để điều đình mua lại các
sản phẩm mỹ thuật vô giá của dân tộc họ nhưng họ đã
từ chối.
Tây phương có câu ‘ai ăn
cắp trứng sẽ ăn cắp bò’ (qui vole un oeuf, volera un boeuf)
hay ‘ai đốt sách sẽ giết người’ (qui brule un livre, brulera
des hommes). Chính phủ A-phú-hãn bắt đầu bằng cách phá hủy
các di tích Phật giáo trong xứ ; kế đó là ra đạo luật,
bắt tất cả những người khác tín ngưỡng phải mặc quần
áo khác với họ để họ dể bề phân loại và sau cùng là
tiêu diệt. Đó là phương cách cai trị chung của các chế
độ độc tài đảng trị hay tôn giáo trị.
Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo
và Hồi giáo cùng thờ chung đấng thượng đế (độc nhất
thần) ; chỉ khác nhau qua ba thời gian. Do Thái giáo tin thượng
đế Yahvé là người tạo dựng vũ tru Vào năm 1587 trước
tây lịch, vua Do Thái là ông Abram nghe thấy thượng đế lúc
ông 99 tuổi và hai bên đồng ý cam kết là người nam Do Thái
cắt da quy đầu, để đổi lại con cháu của ông sanh con đẻ
cái thật nhiều để nối dòng cho ông (do đó, người nữ
Do Thái có bổn phận sanh con). Thượng đế chấp thuận lời
cam kết này và đổi tên cho ông từ Abram ra Abraham ; từ đó,
tất cả người Do Thái đều bị bắt buộc cắt da quy đầu
và tu sĩ Do Thái phải lấy vợ sanh con. Kinh sách Do Thái (Bible
lấy từ tiếng Hy-lạp Biblia tức là sách) gồm có ba quyển
Ta-Na-Kha ghi lại lời khai thị, lịch sử và ca ngợi thượng
đệ Kinh Do Thái có câu : ‘này người dân Do Thái, Yahvé là
thượng đế duy nhất và chỉ có một đấng Yahvé’ (Écoute
Israel, Yahvé est notre Dieu et le seul Yahvé).
Chúa Jésus giáng sinh vào năm
thứ 4 tây lịch. Vì ngài là người Do Thái, ngài được cắt
da quy đầu sau khi ra đời 8 ngàỵ Theo kinh điển Thiên Chúa
giáo, mặc dù Chúa Jésus không tội lỗi, thánh Jean Baptiste
vẫn làm phép rửa tội cho ngàị Chúa Jésus đã làm nhiều
phép lạ, ngài có 12 tín đồ tượng trưng cho 12 bộ lạc Do
Tháị Thánh Paul (Thiên Chúa giáo) gọi kinh sách Do Thái là
Cựu Ước (ancient testament) và kinh sách Thiên Chúa giáo là
Tân Ước (nouveau testament) ; lẽ tất nhiên người Do Thái không
đồng ý. Ngày nay, một giáo phái mới (new sect) đã nhập chung
hai quyển Tân Ước và Cựu Ước làm thành một, sửa đổi
đôi chút và lấy tên Chứng Nhân Jéhovah (Témoin de Jéhovah)
; Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo đều chống đối việc làm
nàỵ
Giáo chủ Mohamed, người Ả-rạp,
sanh năm 572 ; cha mẹ mất sớm, ông được ông nội và người
chú chăm sóc. Ông vẫn thường chơi chung với con của người
chú là Abu Talib. Lớn lên, ông thành lập gia đình với một
bà lớn tuổi giầu có tên là Khadidja. Về sau, Abu Talib cướí
con gái của ông là bà Fatima. Lúc 40 tuổi, ông lên núi Hira
(gần La Mecque), ông cho biết đã gặp thánh Gabriel (Thiên Chúa
giáo) dạy cho ông về thượng đế Allah (tiếng Ả-rạp Allah
là thượng đế) ; từ đó, ông lập ra Hồi giáo (Islam).
Danh từ Islam có nghĩa là phục tòng thượng đế. Một số
người Hồi giáo rất cuồng tín, không những bắt buộc người
nam phải cắt da quy đầu mà người nữ cũng phải cắt âm
hạch. Y theo Do Thái giáo, người Hồi cầu nguyện tại thánh
địa La Mecque như sau: ‘Seigneur, fais de nous des soumis (muslim)
et de notre descendance une communauté soumise à toi’ (Thượng Đế,
Hãy làm cho chúng con và con cháu của chúng con phục tòng ngài).
Vì tín đồ Hồi giáo muốn tất cả những người khác phải
‘tuân theo mệnh lệnh’ thượng đế Allah, họ tin những
ai giết được những người khác tín ngưỡng của mình sẽ
được lên thiên đàng; đó là tinh thần Djihad tức là chiến
đấu cho Allah (combat dans la vie de Dieu). ‘Nơi nào có những
người Hồi giáo quá khích là nơi đó có chiến tranh’ ; khi
thì chiến tranh tôn giáo giữa Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và
Do Thái giáo ; khi thì Hồi giáo giết hại tu sĩ và cư sĩ Phật
giáo tại Ấn Độ và A-phú-hãn; ngày nay, họ đang giết những
người Thiên Chúa giáo tại Phi Luật Tân.
Gần đây, báo Paris Match ngày
28 tháng 6, 2001 có bài viết về A-phú-hãn ‘dân chúng càng
ngày càng nghèo đói, hằng ngày phải đào cỏ cicuk ăn đỡ
đói, loại cỏ làm cho con người bị bệnh kiết lỵ sau khi
ăn vào’. Chính phủ Taliban bắt tất cả dân chúng phải hy
sinh cho thượng đế bằng cách lấy tiền mua súng đạn để
giết hại dân lành thay vì mua lương thực để nuôi dân.
Tóm lại, sau khi Đức Phật
nhập diệt tại Câu-thi-na, vì căn cơ, đạo Phật phân chia
thành nhiều tông phái ; chỉ có A-phú-hãn là quốc gia duy nhất
hấp thụ, tiếp nhận đầy đủ tinh hoa của các tông phái
Phật giáo ; điều đáng tiếc là phần lớn các tông phái
này đã bị người Hồi tàn phá, tiêu diệt nên ngày nay, chỉ
còn một vài tông phái Phật giáo tồn tại ở Trung Hoa, Nhật
Bản, Đại Hàn, Việt Nam...
|