|
.
PHẬT GIÁO
NHẬT BẢN CÓ THỂ ĐANG CHẾT
Trần
Khải dịch
 |
 |
Đạo
Phật ở Nhật Bản thường được gọi là "Funeral Buddhism"
(Phật Giáo Tang Lễ). Thêm nữa, đó là một kiểu nói sau này
được diễn giải là, đạo Phật là đạo cho người chết,
không phải cho người sống.
Người
Nhật từ lâu đã thoải mái về tôn giáo. Họ có thể vừa
dự lễ tiễn năm cũ ở chùa Phật Giáo, và vài giờ sau là
dự lễ đón năm mới ở đền Thần Đạo. Đám cưới thì
theo nghi thức Thần Đạo hay Thiên Chúa Giáo, tùy nghi. Nhưng
tang lễ thì gần như độc quyền là của Phật Giáo. Không
thể khác được, vì chết là phải qua cõi Phật. Tới nỗi,
đạo Phật ở Nhật Bản thường được gọi là "Funeral Buddhism"
(Phật Giáo Tang Lễ). Thêm nữa, đó là một kiểu nói sau này
được diễn giải là, đạo Phật là đạo cho người chết,
không phải cho người sống.
Ryoko
Mori, viện chủ ngôi chùa Zuikoji xưa cổ 700 năm ở phía bắc
Nhật Bản, nói, "Đó là hình ảnh của Phật Giáo tang lễ:
rằng đạo Phật không đáp ứng nhu cầu tinh thần người
đang sống. Trong Hồi Giáo hay Thiên Chúa Giáo, họ giảng về
vấn đề tâm linh. Nhưng ở Nhật hiện nay, rất ít vị sư
Phật Giáo làm thế nữa."
Tại
Oga, phía Bắc Nhật Bản, Sư Ryoko Mori viện
chủ ngôi chùa Zuikoji xưa cổ 700 năm đang hành lễ tại gia
một gia đình Phật tử (Ảnh New York Times)
Mori,
48 tuổi, vị viện chủ đời thứ 21 của chùa này, lo sợ
chùa này sẽ không tìm ra được vị viện chủ đời thứ
22. Thầy Mori nói, "Nếu Phật Giáo Nhật Bản không hành
động từ bây giờ, đạo Phật sẽ chết dần. Chúng ta không
thể chờ đợi. Phải làm gì ngay tức khắc."
Khắp
Nhật Bản, tình hình không kiếm ra người kế nhiệm làm trụ
trì đang áp lực lên các ngôi chùa do gia đình điều hành.
Trong khi đạo Phật suy yếu ở các vùng thành thị, thì các
miền nông thôn thuần thành mộ đạo lại mất dân số dần,
khi người già chết đi và sinh xuất lại thấp.
Trong
thế hệ sắp tới, nhiều ngôi chùa ở miền quê dự đoán
sẽ đóng cửa, mang theo nhiều thế kỷ lịch sử vào quá khứ.
Như
tại Oga, trên một bán đảo mang cùng tên hướng nhìn về
Biển Nhật Bản tại tỉnh Akita. Các nhà sư Phật Giáo đang
quan sát các bài toán về dân số và về kỹ nghệ đánh cá
đang suy giảm.
Giju
Sakamoto, 74 tuổi, vị trụ trì đời thứ 91 của ngôi chùa
xưa cổ nhất tỉnh Akita là Chorakuji, nguyên sáng lập từ năm
860, nói, "Không phải quá lời khi nói dân số chỉ còn phân
nửa của hồi thịnh thời, và rằng tất cả các kinh doanh
cũng đều suy giảm còn bằng phân nửa. Với thực tế
đó, nếu chỉ đơn giản nói rằng chúng ta là một tôn giáo
và có lịch sử dài, thực tế là lâu dài nhất tỉnh Akita,
thì nghe y hệt chuyện cổ tích. Chỉ là vô nghĩa. Đó là vì
sao tôi nghĩ rằng nơi này (chùa này) là vượt quá niềm hy
vọng rồi."
Để
sống còn, Thầy Sakamoto phải dồn năng lực ra làm quản trị
một trung tâm người già và cả một ngôi chùa mới ở vùng
ngoại ô thị trấn Akita City. Tuy nhiên, ngôi chùa đó chỉ
có 60 hộ dân cư tín đồ, từ khi mở cửa vài năm trước,
cách biệt qúa xa với con số 300 hộ dân cư tín đồ cần
thiết để gìn giữ một ngôi chùa đứng vững về tài chánh.
Trong
nhiều thế kỷ, nhiều ngôi chùa Nhật Bản trao truyền từ
vị sư trụ trì sang con trai vị sư trụ trì, với số tín
đồ ổn định (trái với truyền thống nhiều nước khác,
nhiều vị sư Nhật Bản lại có vợ con như đời thường).
Với 300 hộ gia cư tín đồ, vị sư trụ trì và vợ của ngài
sẽ bận rộn liên tục vì các nghi lễ.
Nhưng
không chỉ có số lượng chùa suy giảm - từ mức 86,586 ngôi
chùa năm 2000, rồi chỉ còn có 85,994 ngôi chùa năm 2006. Đó
là con số của Bộ Văn Hóa Nhật Bản.
Điều
bi thảm là, số tín đồ mỗi chùa lại giảm. Kyo Kon, 73 tuổi,
vợ của vị sư trụ trì chùa Kogakuin, ngôi chùa có 170 tín
đồ, nói, "Chúng tôi phải tìm việc làm khác, bởi vì
việc chùa không đứng vững." Bà đã phải làm việc
ở một trung tâm chăm sóc trẻ em, trong khi chồng bà làm ở
một văn phòng kế hoạch về đất của địa phương.
Gần
đó là chùa Doshoji, ngôi chùa chỉ còn số tín đồ là 85 hộ
dân cư, vị sư trụ trì là Jokan Takahashi, 59 tuổi, gặp nan
đề lớn: tìm người kế nhiệm. Người con trai trưởng của
thầy được huấn luyện để trở thành một nhà sư Phật
Giáo, nhưng lại lộ ý là không muốn trở thành một vị sư.
Chỉ
mới hồi giữa thập niên 1980s, gần như toàn bộ người Nhật
làm tang lễ ở nhà hay tại chùa, với vị sư Phật Giáo địa
phương đóng vai chính. Nhưng bây giờ nhiều người muốn đưa
ra làm lễ tang ở các Nhà Tang Lễ, một dịch vụ kinh doanh
trong đó bao gồm cả việc cung cấp các vị sư Phật Giáo
cho các tang lễ. Năm 1999, có 62% làm lễ tang ở nhà hay ở
chùa, trong khi 30% làm lễ tang ở Nhà Tang Lễ. Nhưng năm 2007,
con số đảo ngược: 28% chọn làm tang lễ ở nhà hay ở chùa,
với 61% làm lễ tang ở Nhà Tang Lễ.
Thêm
nữa, lại thêm nhiều người đưa người thân quá cố hỏa
thiêu, mà không cần nghi lễ gì nữa, theo lời Noriyuki Ueda,
nhà nhân chủng học ở viện Tokyo Institute of Technology, "Do
đó, các vị sư và các chùa Phật Giáo không còn liên hệ
gì được với các tang lễ."
Trần
Khải (dịch) (Theo The New York Times)
Lời
BBT: Dưới đây là một số ý kiến của Phật tử trong nước
góp ý về vấn đề nêu trên được ghi nhận trên trang nhà
Phật tử Việt Nam. Chúng tôi xin phép được đăng lại
toàn bộ như là chuyển tiếp những âm vang của tiếng chuông
cảnh báo khởi đi từ Phật giáo Nhật Bản với ước mong
những âm vang này dội đến quý thầy, quý sư ni và quý cư
sĩ Phật tử trong và ngoài nước. Quý độc giả hải
ngoại có thể gửi ý kiến về thuvienhoasen@yahoo.com
Quý Phật tử trong nước gửi ý kiến về: trisu@phattuvietnam.net
Khải
Hoàn - Bắc Ninh (thuadu...@gmail.com)
Thuở
nhỏ tôi cũng hay theo mẹ đến chùa, rồi lớn lên cũng vậy,
tôi cũng rất hay đi chùa. Đến chùa cũng chỉ biết chắp
tay niệm A Di Đà, còn giáo lí Đạo Phật trong tôi thật mơ
hồ không muốn nói là trống rỗng. Mặc dù tôi rất muốn
được giáo dục Phật học nhưng chắc do mình không đủ nhân
duyên nên đến chùa cũng như bao nhiêu người dân bình thường
khác, hoặc cầu nguyện một cái gì đó, hoặc mơ hồ thấy
được một con đường giác ngộ nào đó xa xa. Rồi cũng tìm
và đọc được những cuốn sách về Đạo Phật như Học
Phật Quần Nghi, Đức Phật và Phật Pháp... những kiến thức
Phật học cũng sơ khai vỡ dần. Đến khi Internet bùng nổ,
nhiều trang về Phật học ra đời, Kinh - Luận - Luật có nhiều
trang đăng tải tương đối có hệ thống, tôi có điều kiện
tìm hiểu rộng hơn.
Tuy
vậy, đó cũng chỉ là những thứ thu lượm của một người
đọc sách thông thường mà không có một sự chỉ giáo nào
đó có hệ thống và được tu tập bài bản. Và gần đây
có Paltalk, tôi cũng bật nghe qua các diễn đàn Phật học và
nhiều thứ cũng vỡ ra thêm. Tuy nhiên, nhiều điểm chưa hiểu
hoặc nghi ngờ cũng không biết hỏi ai. Tôi cũng có điều
kiện đi nước ngoài, thăm thú nhiều nơi, trong đó có rất
nhiều ngôi chùa, mỗi nơi cũng có những đặc sắc riêng nhưng
hầu hết cũng có những sự giống nhau về sự bị động
hoặc ngăn cách của các thày ni trong việc lôi cuốn và truyền
giáo.
Điều
này ngược hẳn với các vị mục sư trong Tin Lành. Cứ mỗi
lần gặp một mục sư hoặc một người trong tổ chức truyền
đạo, tôi thấy họ rất chủ động và dùng rất nhiều phương
pháp để tiếp cận, thuyết phục. Họ rất công phu và tận
tình. Bên cạnh đó họ in ấn và phổ biến tài liệu sinh
hoạt và tài liệu tuyên truyền rất rộng rãi, bằng nhiều
thứ tiếng và gửi cho miễn phí. Tôi nghĩ đây là điều mà
các quý Thày Ni Phật tử cần phải học tập. Đạo Phật
đã ngấm vào tâm tôi từ nhỏ nhưng sao mãi tôi vẫn thấy
chưa tới được. Nhưng Tin Lành, nếu không có cái gốc, dù
rất mơ hồ, về Đạo Phật thì tôi thấy sao nó dễ đến
thế. Kính mong quý Thày Ni không xem thường ý kiến chân tình
từ đáy lòng mình của tôi.
Nguyễn
Thanh Danh - Quận 1, TP. Hồ Chí Minh (kydaewandanh..@yahoo.com)
Đạo
Phật đang phát triển ở nơi này, thì nơi khác lại... suy
thoái. Điều đó âu cũng là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên tại
sao chúng ta không nỗ lực hết mình cho sự phát triển chung
và ở khắp nơi của Phật Giáo, nếu điều đó hoàn toàn
có thể thực hiện được?
Về
phía phật tử trẻ, tôi đề nghị chúng ta đừng nên bị
động nữa, đừng nên chỉ biết "đổ" trách nhiệm lên vai
quý thầy và chư ni. Bằng chính sức trẻ và sự tiên phong
của mình, chúng ta hãy cố gắng đi chùa nhiều hơn, tự tìm
hiểu giáp pháp nhiều hơn. Tại sao chúng ta cứ suy nghĩ là
do quý thầy không chịu tổ chức các buổi thuyết pháp hay
tạo điều kiện gì đó để mình có cơ hội tiếp thu những
lời Phật dạy, mà chúng ta không chủ động gặp gỡ, thậm
chí trao đổi trực tiếp với quý thầy để cùng nhau có những
kế hoạch hoằng pháp (cho giới trẻ) một cách hiệu quả
hơn?!
Tôi
quan sát ở một số chùa và thấy rằng, khi các thầy tổ
chức thuyết pháp thì số lượng người tham gia không được
đông, nhất là giới trẻ. Điều này phần nào ảnh hưởng
đến sự "hưng phấn" của công tác hoằng pháp nói chung! Chúng
ta quá bận rộn đến nổi không có thời gian rảnh để đến
tham dự những buổi pháp thoại như thế chăng?
Xin
thưa là không! Có thể chúng ta... "làm biếng", có thể chúng
ta "bận" dành thời gian rỗi đó cho những công việc vui chơi
(thậm chí vô bổ?) khác, và cũng có thể chúng ta... e ngại
vì sợ người khác nghĩ "xấu" về mình rằng: Trẻ tuổi vậy
mà cũng đi chùa, giống người già quá!!! Chúng ta đi chùa,
ngồi nghe pháp lọt thỏm giữa biết bao người lớn tuổi.
Như vậy thì đã sao? Khó thay được nghe Pháp! Nếu bạn trẻ
nào cũng ngại đi chùa vì những lý do như vậy, thì làm sao
Phật Giáo không dành cho những người già và người chết
cho được?!
Chúng
ta hãy mạnh dạn cùng quý thầy tổ chúc những buổi tọa
đàm, nói chuyện... với nội dung xoay quanh chủ đề Phật
Giáo với Tuổi trẻ. Chẳng có nhiều người trẻ tham dự
ư? Vậy thì đã sao? Trước hết hãy làm cho chính mình đã!
Một thầy một trò cũng có thể tọa đàm được! Không cần
phải nóng vội hay hấp tấp, dần dần, bằng sự kiên nhẫn,
lòng say mê Phật phát và khuyến khích nhiều bạn trẻ khác
xung quanh mình cùng tham gia, chúng ta sẽ tạo ra được những
làn gió mới và trẻ cho Phật Giáo hơn.
Về
phía quý thầy và quý ni, con xin góp ý nhỏ như thế này. Có
thể suy nghĩ của con không đúng với tất cả, nhưng qua quan
sát con thấy quý thầy và quý ni còn khá "bị động" với
giới trẻ. Chẳng hạn, mỗi ngày rằm hoặc mồng một, khi
thấy nhiều bạn trẻ tới chùa lễ Phật hay cầu nguyện gì
đó, quý thầy thường không chủ động tới hỏi chuyện hay
có một cử chỉ gì đó khiến hai bên xích lại gần hơn.
Thay
vì đứng từ xa nhìn lại, con nghĩ quý thầy và quý ni nên
chủ động tiến lại gần, hỏi chuyện bằng nhiều cách khác
nhau. Những hành động này uty nhỏ thôi, nhưng đó là "phương
tiện" bước đầu để chúng ta tiếp cận với giới trẻ.
Chính thái độ thân thiện và muốn chia sẻ đó của quý thầy
và quý ni sẽ khiến giới trẻ muốn "đến gần" với Phật
Giáo hơn, thay vì chỉ biết đốt nhang cầu nguyện gì đó!
Một
điều đơn giản là, ở một ngôi chùa nào đó, khi có sự
"kết bạn" giữa một vị sư với một vài bạn trẻ, thì
không khí cũng như các hoạt động khác của ngôi chùa đó
sẽ rất khác. Đây không phải là điều khó nhận thấy! Chúng
ta cần có những hoạt động thực tiễn để thu giúp giới
trẻ, và giới trẻ Phật Giáo sẽ tự thu hút mình đối với
đạo pháp. Làm được điều đó, cần phải có sự nỗ lực
của cả hai bên: Quý thầy và tuổi trẻ phật tử.
Trần
Hải Đăng - TP. Hạ Long, Quảng Ninh (sealight...@yahoo.com.vn)
Bài
viết trên đã gióng một tiếng chuông cảnh báo rung động
từ Nhật Bản sang Việt Nam. Có rất nhiều câu hỏi đặt
ra cho việc đưa Phật pháp tới giới trẻ, những người kế
thừa và tiếp nối truyền thống Phật giáo Việt Nam. Đó
là: 1) Tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu của Phật giáo Việt
Nam trong 5, 10, 20 năm nữa là gì? 2) Ai chịu trách nhiệm chính,
đưa chiến lược, tổ chức và điều phối việc đưa Phật
pháp đến giới trẻ và ngược lại, giới trẻ hộ trì và
hoằng dương Phật pháp? 3) Sứ mạng quan trọng nhất của
Tăng Ni, đặc biệt là Tăng Ni trẻ ngày nay là gì, có phải
là một thầy cúng thời hiện đại? Từ những câu hỏi trên,
tôi thấy chỉ có Giáo hội Phật giáo Việt Nam mới có thể
trả lời. Nhưng ai muốn trả lời, ai thấy mình có trách nhiệm
với tiền đồ Phật giáo?
Vũ
Văn Tiến - Nghĩa Lam, Nghĩa Hưng, Nam Định (minh.dang5...@yahoo.com.vn)
Thật
là buồn khi đọc bài viết này. Không chỉ ở Nhật Bản mà
ngay tại quê hương tôi cũng thế. Các thầy hình như chỉ
lấy việc tụng niệm, cúng lễ siêu độ cho người chết
làm đường lối tu hành.
Chúng
tôi rất thèm được học giáo lý, thiền hành, tu tập. Ở
quê tôi việc đi chùa là dành cho người già. Giới trẻ chúng
tôi ít có cơ hội được các thầy gieo duyên để học tập
giáo lý của Đức Thế tôn. Tôi thiết nghĩ Ban Hoằng pháp
phải có một chương trình hoằng pháp cho giới trẻ rõ ràng,
phổ biến rộng khắp các chùa, để các thầy biết cách đưa
Phật pháp tới giới trẻ một cách chuyên nghiệp. Từ đó
thay đổi nhận thức Phật giáo không phải chỉ dành cho người
già, người chết.
Trung
Dũng - Tương Mai, Hà Nội (dungt_ha...@gmail.com)
Tương
lai của Phật giáo là giới trẻ. Người tiếp nối truyền
thống Phật giáo là giới trẻ. Để tránh đi vào vết xe đổ
của Phật giáo Nhật Bản, tôi kính mong quý Thầy Cô, các
đạo hữu Phật tử phải luôn tự xác định một sứ mạng
vô cùng thiêng liêng và cao cả của những người con Phật,
đó là trao truyền Phật pháp cho thế hệ trẻ. Giáo hội cần
có một chiến lược đưa Phật pháp tới giới trẻ. Mỗi
quý thầy cô tận dụng mọi cơ hội để gieo duyên cho giới
trẻ. Quý Phật tử luôn tâm sự, trò chuyện, phổ biến Phật
pháp, chia sẻ Phật pháp với những người xung quanh. Mô hình
Gia đình Phật tử cần được phát triển với sự tùy duyên,
thay đổi để thích ứng với từng điều kiện, hoàn cảnh
với mục tiêu cuối cùng là Phật pháp đến được với giới
trẻ, chứ không chỉ để làm huy hoàng hay mang danh cho tổ
chức. Đề nghị trang web Phật tử Việt Nam nên có một truyền
thông về vấn đề Phật giáo và Tuổi trẻ để quý thầy
cô, đạo hữu Phật tử nhận thức rõ về vấn đề này.
Quỳnh
Thy - Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh (kitty13032004@yahoo.com)
Người
Nhật Bản hiếm đi Chùa ngoại trừ ma chay hay tế lễ. Điều
đó hiển nhiên vì đất nước họ la đất nước công nghiệp
phát triển, suốt ngày tất bật công việc. Còn đối với
người VN dù ngày rằm vẫn có người đi Chùa, nhưng nhìn
lại so với 10, 15 năm trước thì sao?
Số
lượng Phật Tử đi Chùa đã giảm đi rất nhiều. Là một
Phật Tử chúng con rất buồn vì việc này. Lý do? Qua thăm
hỏi những người bạn cũ(từng là gia đình Phật Tử), hoặc
những chị em đạo Phật thì họ cho biết rằng họ ít đi
Chùa thậm chí không đi (chỉ thờ Phật trong tâm) bởi vì
bất mãn... với một số thầy!
Đã
mang lớp áo nhà tu ra phố thì nhất định phải ý tứ vì
mình được ví như "làm dâu trăm họ", đàng này họ hết
sức vô tư... Chắc quí Thầy rất rõ những điều này vì
bị phản ứng không ít. Điều này làm mất lòng tin nơi Phật
Tử huống chi là những người ngoại đạo họ sẽ nghĩ như
thế nào về hệ thống giáo dục của Phật Giáo?
Để
duy trì một tôn giáo gần như là Quốc Giáo của nước VN
là Phật Giáo, chúng con tha thiết cầu mong hệ thống giáo
dục Phật Giáo VN có nhiều thay đổi cũng như quí Ni, Sư phải
tự mình ý thức đạo đức của mình. Được như vậy mới
mong Phật Giáo VN đứng vẫn trong tương lai. Vài dòng có ý
kiến, nếu có gì sai phạm kính mong quí Thầy, Ni tha thứ.
|
Nghĩa
trang tại một ngôi chùa Phật giáo ở Tokyo (Ảnh New York Times)
Nguyên
văn bản Anh Ngữ (BBT/TVHS thêm vào):
In
Japan, Buddhism May Be Dying Out
By
NORIMITSU ONISHI, The New York Times, July 14, 2008
http://www.buddhistchannel.tv/
http://www.nytimes.com/
OGA,
Japan -- The Japanese have long taken an easygoing, buffetlike approach
to religion, ringing out the old year at Buddhist temples and welcoming
the new year, several hours later, at Shinto shrines. Weddings hew to Shinto
rituals or, just as easily, to Christian ones.
In
Oga, in northern Japan, Ryoko Mori, a Buddhist priest, visited a household,
marking the anniversary of a forbear’s death. - Ko Sasaki for The New
York Times
When
it comes to funerals, though, the Japanese have traditionally been inflexibly
Buddhist - so much so that Buddhism in Japan is often called “funeral
Buddhism,” a reference to the religion’s former near-monopoly on the
elaborate, and lucrative, ceremonies surrounding deaths and memorial services.
But
that expression also describes a religion that, by appearing to cater more
to the needs of the dead than to those of the living, is losing its standing
in Japanese society.
“That’s
the image of funeral Buddhism: that it doesn’t meet people’s spiritual
needs,” said Ryoko Mori, the chief priest at the 700-year-old Zuikoji
Temple here in northern Japan. “In Islam or Christianity, they hold sermons
on spiritual matters. But in Japan nowadays, very few Buddhist priests
do that.”
Mr.
Mori, 48, the 21st head priest of the temple, was unsure whether it would
survive into the tenure of a 22nd.
“If
Japanese Buddhism doesn’t act now, it will die out,” he said. “We
can’t afford to wait. We have to do something.”
Across
Japan, Buddhism faces a confluence of problems, some familiar to religions
in other wealthy nations, others unique to the faith here.
The
lack of successors to chief priests is jeopardizing family-run temples
nationwide.
While
interest in Buddhism is declining in urban areas, the religion’s rural
strongholds are being depopulated, with older adherents dying and birthrates
remaining low.
Perhaps
most significantly, Buddhism is losing its grip on the funeral industry,
as more and more Japanese are turning to funeral homes or choosing not
to hold funerals at all.
Over
the next generation, many temples in the countryside are expected to close,
taking centuries of local history with them and adding to the demographic
upheaval under way in rural Japan.
Here
in Oga, on a peninsula of the same name that faces the Sea of Japan in
Akita Prefecture, Buddhist priests are looking at the cold math of a population
and local fishing industry in decline.
“It’s
not an exaggeration to say that the population is about half of what it
was at its peak and that all businesses have also been reduced by half,”
said Giju Sakamoto, 74, the 91st head priest of Akita’s oldest temple,
Chorakuji, which was founded around the year 860. “Given that reality,
simply insisting that we’re a religion and have a long history — Akita’s
longest, in fact — sounds like a fairy tale. It’s meaningless.
“That’s
why I think this place is beyond hope,” Mr. Sakamoto said at his temple,
which sits atop a promontory overlooking a seaside village.
To
survive, Mr. Sakamoto has put his energies into managing a nursing home
and a new temple in a growing suburb of Akita City. That temple, however,
has drawn only 60 households as members since it opened a couple of years
ago, far short of the 300 said to be necessary for a temple to remain financially
viable.
For
centuries, the average Buddhist temple, whose stewardship was handed down
from father to eldest son, served a fixed membership, rarely, if ever,
proselytizing. With some 300 households to cater to, the temple’s chief
priest and his wife were kept fully occupied.
Not
only has the number of temples in Japan been dipping — to 85,994 in 2006,
from 86,586 in 2000, according to the Japanese Agency for Cultural Affairs
— but membership at many temples has fallen.
“We
have to find other jobs because the temple alone is not enough,” said
Kyo Kon, 73, the head priest’s wife at Kogakuin, a temple here with 170
members. She used to work at a day care center while her husband was employed
at a local land planning office.
Not
far away at Doshoji, a temple whose membership has fallen to 85 elderly
households, the chief priest, Jokan Takahashi, 59, was facing a problem
familiar to most small family-run businesses in Japan: finding a successor.
His
eldest son had undergone the training to become a Buddhist priest, but
Mr. Takahashi was ambivalent about asking him to take over the temple.
“My
son grew up knowing nothing but this world of the temple, and he told me
he did not feel free,” he said, explaining that his son, now 28, was
working at a company in a nearby city. “He asked me to let him be free
as long as I was working, and said that he would come back and take over
by the time he turned 35.
“But
considering the future, pressuring a young person to take over a temple
like this might be cruel,” Mr. Takahashi said, after giving visitors
a tour of his temple’s most important room, an inner chamber with wooden,
lockerlike cabinets where, it is said, the spirits of his members’ ancestors
are kept.
On
a recent morning, Mr. Mori, the priest of the 700-year-old temple, began
the day with a visit to a rice farming household marking the 33rd anniversary
of a grandfather’s death. Bowing before the home altar, Mr. Mori prayed
and chanted sutras. Later, he repeated the rituals at another household,
which was commemorating the seventh anniversary of a grandfather’s death.
Increasingly,
many Japanese, especially those in urban areas, have eschewed those traditions.
Many no longer belong to temples and rely instead on funeral homes when
their relatives die. The funeral homes provide Buddhist priests for funerals.
According to a 2007 report by the Japan Consumers’ Association, the average
cost of a funeral, excluding the cemetery plot, was $21,500, of which $5,100
covered services performed by a Buddhist priest.
As
recently as the mid-1980s, almost all Japanese held funerals at home or
in temples, with the local Buddhist priest playing a prominent role.
But
the move to funeral homes has sharply accelerated in the last decade. In
1999, 62 percent still held funerals at home or in temples, while 30 percent
chose funeral homes, according to the Consumers’ Association. But in
2007, the preferences were reversed, with 28 percent selecting funerals
at home or in temples, and 61 percent opting for funeral homes.
In
addition, an increasing number of Japanese are deciding to have their loved
ones cremated without any funeral at all, said Noriyuki Ueda, an anthropologist
at the Tokyo Institute of Technology and an expert on Buddhism.
“Because
of that, Buddhist priests and temples will no longer be involved in funerals,”
Mr. Ueda said.
He
said Japanese Buddhism had been sapped of its spiritual side in great part
because it had compromised itself during World War II through its close
ties with Japan’s military. After Buddhist priests had glorified fallen
soldiers and given them special posthumous Buddhist names, talk of pacifism
sounded hollow.
Mr.
Mori, the priest here, said that after the war there was a desire for increasingly
lavish funerals with prestigious Buddhist names. These names — with the
highest ranks traditionally given to those who have led honorable lives
— are routinely purchased now, regardless of a dead person’s conduct
in life.
“Soldiers,
who gave their lives for the country, were given special posthumous Buddhist
names, so everybody wanted one after that, and prices went up dramatically,”
Mr. Mori said. “Everyone was getting richer, so everyone wanted one.
“But
that gave us a bad image,” he said, adding that the price of the top
name in Akita was about $3,000 — though that was a small fraction of
the price in Tokyo.
Indeed,
that image is reinforced by the way the business of funerals and memorial
services is conducted. Fees are not stated and are left to the family’s
discretion, and the relatives generally feel an unspoken pressure to be
quite generous. Money is handed over in envelopes, and receipts are not
given. Temples, with their status as religious organizations, pay no taxes.
It
was partly to dispel this bad image that Kazuma Hayashi, 41, a Buddhist
priest without a temple of his own, said he founded a company, Obohsan.com
(obohsan means priest), three years ago in a Tokyo suburb. The company
dispatches freelance Buddhist priests to funerals and other services, cutting
out funeral homes and other middlemen.
Prices,
which are at least a third lower than the average, are listed clearly on
the company’s Web site. A 10 percent discount is available for members.
“We
even give out receipts,” Mr. Hayashi said.
Mr.
Hayashi argued that instead of divorcing Japanese Buddhism further from
its spiritual roots, his business attracted more people with its lower
prices. The highest-ranking posthumous name went for about $1,500, a rock-bottom
price.
“I
know that, originally, that’s not what Buddhism was about,” Mr. Hayashi
said of the top name. “But it’s a brand that our customers choose.
Some really want it, so that means there’s a strong desire there, and
we have to respond to it.”
After
apologizing for straying from Buddhism’s ideals, Mr. Hayashi said he
offered his customers the highest-ranking name, albeit with a warning:
“In short, that this is different from going to a shop in town and buying
a handbag, you know, a Gucci bag.”
|
07-20-2008
12:05:42
|