Phật
giáo từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam từ rất sớm có thể
từ trước công nguyên. Tuy là một tôn giáo ngoại nhập nhưng
các nhà nghiên cứu thường thống nhất rằng mỗi dân tộc
đều có một ông Phật của riêng mình. Vậy thì cái riêng,
bản sắc Phật giáo Việt Nam là gì ? Các nhà nghiên cứu đã
thừa nhận Phật giáo thời Lý Trần là tinh hoa, đỉnh cao
của Phật giáo Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Chính Phật giáo
Lý Trần đã góp phần làm nên cái chất Đại Việt, làm nên
cái hào khí Đông A của thời đại, tạo nên bước nhảy
vọt về tư tưởng của dân tộc ta lúc bấy giờ, làm nên
sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc sau hơn một ngàn năm
bị nô lệ phương Bắc từ năm 111 TCN đến năm 938 SCN. Để
góp phần giải đáp cái nét riêng của văn hóa Phật giáo
Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo thời Lý Trần có lẽ cần
đặt nó trong mối giao lưu, tiếp biến với Phật giáo Ấn
Độ, Phật giáo Trung Quốc và tín ngưỡng - văn hóa dân gian
bản địa.
1.
Trước hết là mối giao lưu giữa Phật giáo Việt Nam và Phật
giáo Ấn Độ.
Qua
sử liệu, ta có thể khẳng định Phật giáo truyền vào Việt
Nam bằng hai con đường: Một là, con đường biển từ Phương
Nam trực tiếp truyền sang; hai là, con đường bộ từ phương
Bắc truyền xuống. Bằng con đường biển từ phương Nam,
Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm và sớm hơn bằng
con đường bộ từ phương Bắc truyền xuống. Theo nhà nghiên
cứu Nguyễn Lang trong Phật giáo Việt Nam sử luận, tập 1,
thì các tu sĩ đi theo thuyền buôn Ấn Độ là những người
đầu tiên truyền đạo Phật vào nước ta với tín ngưỡng
đơn sơ: thờ Phật, đốt trầm, tụng kinh, chữa bệnh, trừ
tà và bày phép cúng dường, bố thí cho dân bản địa cùng
truyền pháp Tam quy Ngũ giới cho cư dân ở đây chứ chưa có
sự truyền giảng kinh điển gì (1).
Tiếp
theo, Phật giáo với hệ thống kinh điển đại thừa mang tính
Thiền học của Phật giáo vùng Nam Ấn đã truyền vào Việt
Nam. Cũng theo Nguyễn Lang và các nhà nghiên cứu Phật giáo
sử thì Nam Ấn là vùng đầu tiên dùng kinh văn hệ Bát nhã
(Prajna) như Kim Cương, Tượng đầu tịnh xá, Bát thiên tụng
Bát nhã, Bát nhã tâm kinh, Bát nhã ba la mật, Đại bát Niết
bàn v.v… Chẳng hạn, kinh Kim Cương là một cuốn kinh Đại
thừa Phật giáo thuộc kinh văn hệ Bát nhã phổ biến và có
vị trí quan trọng trong Phật giáo, trong Thiền giới Việt
Nam, Trung Quốc. Nhờ bộ kinh này mà Lục Tổ Huệ Năng ở
Trung Quốc, nhà vua Thiền sư Trần Thái Tông ở Việt Nam đắc
pháp, ngộ đạo khi đọc đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh
kỳ tâm” mà các vị có ghi lại trong Pháp bảo đàn kinh của
Huệ Năng và Thiền tông chỉ nam tự của Trần Thái Tông.
Nhờ hệ thống kinh văn Bát nhã mà thế kỷ thứ hai sau công
nguyên, Long Thọ Bồ Tát (Nagarjãna) đã viết bộ Trung Quán
luận nổi tiếng với tư tưởng Vô trụ, Siêu việt hữu vô,
Chân không. Bộ luận này đã có ảnh hưởng sâu rộng trong
Thiền giới ở Việt Nam và Trung Quốc. Tư tưởng chân không
của bộ luận cũng chính là chủ đề của bộ kinh Bát thiên
tụng Bát nhã mà Khương Tăng Hội đã dịch ở Giao Châu vào
thế kỷ thứ III. Các nhà nghiên cứu còn cho rằng đây là
bộ kinh văn hệ Bát nhã xuất hiện xưa nhất ở Việt Nam
(2).
Tư
tưởng Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam cũng đã xuất hiện
trước đó với tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Tử ở thế
kỷ thứ II. Tiếp đến là một loạt tác phẩm dịch, chú
sớ, đề tựa của nhiều nhà Phật học đều là những bộ
kinh thuộc hệ thống Thiền học Đại thừa như An ban thủ
ý kinh bàn về phép thiền quán sổ tức (phép đếm hơi thở)
do Khương Tăng Hội dịch, chú sớ; Pháp hoa tam muội kinh do
Cương Lương Lâu Chí và Đạo Thanh dịch. Bấy nhiêu cũng đủ
khẳng định ở thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào nước
ta chủ yếu là Phật giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền
học và kinh điển chủ yếu là kinh văn hệ Bát nhã xuất
hiện ở Nam Ấn. Để đến thế kỷ thứ IV, V tại Giao Châu,
Thiền học Đại thừa cũng đã được phát triển với các
bậc danh tăng như Huệ Thắng, Đạo Thiền… và các vị này
còn truyền bá Thiền học Đại thừa sang tận Trung Quốc,
trước khi tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam truyền dòng Thiền
đầu tiên.
2.
Thứ đến là mối giao lưu giữa Phật giáo Việt Nam và Phật
giáo Trung Quốc.
Từ
khi ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đem dòng Thiền của mình truyền
sang nước ta vào thế kỷ thứ VI, thì Phật giáo Việt Nam
bấy giờ lại có thêm một mối giao lưu khác đó là Phật
giáo Thiền tông từ Ấn Độ sang Trung Quốc rồi truyền đến
Việt Nam với hệ thống kinh Đại thừa thuộc văn hệ Bát
nhã nhấn mạnh tư tưởng Vô trụ, Siêu việt hữu vô. Tuy
Tỳ Ni Đa Lưu Chi đắc pháp với tổ thứ 3 Tăng Xán của dòng
Thiền Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc nhưng Tỳ Ni Đa Lưu Chi
lại ít chịu ảnh hưởng Thiền học của thầy mình mà lại
chịu ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ bấy giờ. Lúc này, Mật
tông của Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Tây Tạng đã phát
triển mạnh. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang thì Mật giáo
(Mật tông) là giai đoạn phát triển thứ 3 của lịch sử
Phật giáo Đại thừa Ấn Độ (giai đoạn thứ nhất là Bát
nhã, giai đoạn thứ hai là Duy thức). Giáo lý và thực hành
của Mật tông có nét gần gũi tương đồng với Thiền tông
như nhấn mạnh sự quan trọng của tọa thiền, trực cảm
tâm linh, sử dụng những thoại đầu, công án với những
hình ảnh cụ thể, dùng những mật ngữ để khai mở trí
tuệ giác ngộ, sử dụng thần chú ấn quyết … để hỗ
trợ đắc lực cho sự Thiền quán hành đạo. Vì thế mà Phật
giáo Mật tông đã bao trùm mọi tín ngưỡng bình dân trong
lòng nó tại Ấn Độ cũng như ở Giao Châu lúc bấy giờ.
Riêng ở Giao Châu ta, khuynh hướng này rất phù hợp với tín
ngưỡng dân gian thờ phúc thần, nhiên thần, thờ Mẫu, tín
ngưỡng vật linh… đồng thời phù hợp với phong tục của
người Việt nên nó trở thành một yếu tố khá quan trọng
trong sinh hoạt Thiền môn (3).
Sang
thế kỷ thứ IX, Phật giáo Việt Nam còn có thêm một mối
giao lưu khác là Thiền tông Trung Quốc truyền sang với dòng
Thiền Vô Ngôn Thông. Thiền phái này mang đậm dấu ấn Thiền
học Trung Hoa với tư tưởng chân lý ở ngay trong lòng mình,
Phật tại tâm. Chân lý đó con người có thể tu chứng trực
tiếp, chứ không cần nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự. Thiền
phái Vô Ngôn Thông chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ
nhân tâm, kiến tính thành Phật. Đó chính là pháp môn Đốn
ngộ mà Lục Tổ Huệ Năng đã đề ra trước đó. Sau này,
Tổ Bách Trượng cũng đã phát biểu Tâm địa nhược không,
Tuệ nhật tự chiếu (nếu đất tâm trống không, thì mặt
trời trí tuệ sẽ tự chiếu sáng).
Tóm
lại, Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần đã phát triển trên
cơ sở của ba mối giao lưu – tiếp biến bởi có 3 nguồn
du nhập :
- Phật
giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền học từ Nam Ấn trực
tiếp truyền sang bằng đường biển từ cuối thế kỷ thứ
I trước công nguyên hoặc những năm đầu sau công nguyên với
kinh văn hệ Bát nhã;
- Thiên
tông Ấn Độ truyền sang Trung Quốc rồi đến Việt Nam với
vai trò của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi vào thế kỷ thứ VI với
tư tưởng vô trụ, siêu việt hữu - vô;
- Thiên
tông Trung Quốc truyền vào Việt Nam với vai trò của ngài
Vô Ngôn Thông vào thế kỷ thứ IX với pháp môn Đốn ngộ
và tư tưởng Phật tại tâm.
3.
Tiếp theo là mối giao lưu giữa Phật giáo với tín ngưỡng
dân gian
Trước
khi đạo Phật vào Việt Nam thì dân tộc ta đã có tín ngưỡng
thờ Mẫu. Ngày ấy, cư dân Việt đã thờ ba bà mẹ sáng tạo
ra muôn vật. Trong tâm linh của cư dân Việt cổ, ba vị này
là chủ thể sáng tạo ra ba địa bàn hoàn chỉnh của đất
nước: vùng trời, vùng đất (kể cả rừng núi), vùng biển
(kể cả sông ngòi). Bên cạnh tín ngưỡng thờ ba bà mẹ,
dân tộc ta còn có tục lệ thờ các vị thần nông nghiệp,
các vị thần về hiện tượng tự nhiên… Tất cả việc
thờ cúng này mang ý nghĩa duy vật thô sơ. Không lấy làm lạ
là trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, chúng ta thường
bắt gặp hình ảnh các bà mẹ : Mẹ Âu Cơ với cái bọc trăm
trứng - biểu tượng cho sự khai sinh ra dân tộc; Mẹ Âu Cơ
dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm dệt vải - biểu
tượng cho sự sáng tạo văn hóa; Mẹ của Thánh Gióng - biểu
tượng cho người sản sinh ra vị anh hùng khổng lồ trong công
cuộc bảo vệ đất nước; Mẹ Man Nương với hòn đá phát
sáng (Thạch Quang) ở gốc cây thiêng Dung Thụ, đưa mẹ Man
Nương thành Phật Mẫu và các con là các nữ thần Mây, Mưa,
Sấm, Chớp cùng hệ thống chùa Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Lôi,
Pháp Điện, Pháp Vũ) gắn liền với đời sống của cư dân
nông nghiệp lúa nước phương Nam. Những hình ảnh người
mẹ ấy đã phản ánh một chặng đường dài phát triển của
lịch sử dân tộc với quá trình dựng nước và giữ nước,
đảm bảo cho dân tộc Việt Nam khắc phục được cả thiên
tai và địch họa. Truyện xảy ra vào thế kỷ thứ II, biểu
hiện sự giao tiếp văn hóa Việt Ấn (mẹ Việt Man Nương
chân chất, cha Ấn Khâu Đà La siêu phàm). Cũng từ mốc văn
hoá này mà chùa Việt Nam bên cạnh thờ Phật còn có cả thờ
Mẫu (Tiền Thánh hậu Phật). Đó cũng chính là truyền thống
và tư tưởng yêu nước nhân đạo của dân tộc. Chính dựa
vào cái nền tín ngưỡng nguyên thủy này mà về sau các tôn
giáo như Phật giáo chẳng hạn có đủ điều kiện để du
nhập và bắt rễ nhanh chóng, có ảnh hưởng sâu rộng trong
đời sống tâm linh của cư dân Việt thời xưa.
Mặt
khác, vốn là một dân tộc tự lực tự cường, truyền thống
bất khuất cùng tinh thần linh hoạt mềm dẻo của cư dân
lúa nước, cha ông ta ngày ấy đã biết vừa tiếp thu và sàng
lọc những cái mới lạ đối với mình, kể cả tiếp thu
những tinh hoa từ phía đối phương; lại vừa chống lại
cái mới đó. Việc giao lưu, tiếp biến này có tính quy luật.
Cha ông ta ngày ấy chỉ tiếp thu kế thừa những gì có lợi
cho dân tộc mình, phù hợp với bản sắc văn hóa của dân
tộc mình. Do vậy dù tôn giáo nào có sang Việt Nam thì cũng
đều bị tiếp biến thành cái riêng của Việt Nam, thể hiện
bản sắc dân tộc. Phật giáo cũng thế. Đó là ý nghĩa của
câu nói Mỗi dân tộc có một ông Phật của riêng mình.
Phật
giáo là một tôn giáo rộng mở dân chủ. Chất rộng mở dân
chủ này rất phù hợp với tính phóng khoáng rộng mở, linh
hoạt, mền dẻo của cư dân lúa nước. Đó là lý do tại
sao Phật giáo khi truyền sang nước ta lại dễ dàng bắt rễ
nhanh chóng trong tâm linh của cư dân nơi đây. Chính tinh thần
trên thể hiện rõ nét ở các thế hệ con người thời đại
Lý Trần. Thời đại này đã sản sinh ra rất nhiều con người
rất lạ với những nhân cách rất đẹp: Một Thái hậu Dương
Vân Nga sẵn sàng trao ngai vàng và hoàng bào của con mình cho
vị tướng tài khi đất nước bị xâm lăng; một Lý Thánh
Tông tha tội chết cho vua nước Chiêm Thành là Chế Củ; ông
còn là nhà vua thương dân như con; một Lý Nhân Tông tha tội
chết cho Thái sư Lê Văn Thịnh khi hoá cọp để hại mình;
một Lý Thường Kiệt sẵn sàng nhường chức Tể tướng của
triều đình để cầm quân trấn giữ biên giới phía Nam của
Tổ quốc; một Trần Thái Tông bỏ ngai vàng như trút chiếc
giày rách; một Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con, rồi chống
gậy đi khắp nơi giáo hoá dân chúng, trở thành vị Phật
của nước Đại Việt; một Trần Hưng Đạo vì nợ nước
mà quên thù nhà... Rồi những con người như An Tư công chúa,
Trần Bình Trọng, Nguyễn Đại Phạp… đều thể hiện rõ
nét tinh thần của thời đại. Thời ấy, có rất nhiều Thiền
sư, Nho sĩ, Đạo sĩ tận tụy hy sinh cho đất nước, tốt
đời đẹp đạo và nhiều ngôi đền, ngôi chùa lại thờ
các vị anh hùng dân tộc cùng thờ Mẫu. Đây là sự hỗn
dung văn hóa Việt Ấn Hoa cùng quan niệm tam giáo Phật - Nho
- Đạo đồng nguyên.
4.
Cuối cùng là mối giao lưu giữa Phật giáo với văn hóa dân
gian
Ở
Việt Nam chùa chiền không chỉ là nơi thờ phụng, diễn ra
nghi thức tôn giáo mà còn là nơi bảo lưu văn hóa tinh thần
truyền thống của dân tộc với nhiều lễ hội, sinh hoạt
văn hóa dân gian. Ở đây, giữa Phật giáo với văn hóa dân
gian có nhiều mối quan hệ giao lưu gắn bó với nhau. Điều
này, các bậc tiền nhân khi xưa đã chép lại trong các bộ
sách như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái. Đó là Thánh
Gióng tức thần Phù Đổng hay Đổng Thiên Vương trong Việt
điện u linh; là Man Nương, Chử Đồng Tử, Từ Đạo Hạnh,
Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái. Những câu chuyện
viết về các vị trên là những minh chứng cho sự giao lưu
thâm nhập giữa Phật giáo và văn hóa dân gian. Hệ thống
tứ pháp trong truyện Man Nương được nhân dân vùng lúa nước
xem như là vị phúc thần để giúp dân cầu mưa thuận gió
hòa, mùa màng phong túc, cây cối xanh tươi phát triển. Chử
Đồng Tử một trong hệ thống tứ bất tử của người Việt,
cùng Tiên Dung tu Phật lại hiển linh để đời sau giúp Triệu
Quang Phục đánh giặc giữ nước… Ngày hội tắm Phật ngày
mồng tám tháng tư Âm lịch hàng năm trong truyện Man Nương
cũng chính là ngày nam nữ bốn phương về chùa để dự lễ
hội, vui chơi ca múa. Đó là ngày kỷ niệm bà Man Nương lại
trùng với ngày đản sinh của Đức Phật Tổ Thích Ca. Việc
này các bộ sử thời phong kiến như Đại Việt sử ký toàn
thư đời Lê, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đời
Nguyễn, cùng văn bia Sùng Thiện Diên Linh tháp bi của Nguyễn
Công Bật đời Lý có chép lại. Sách Đại Việt sử ký toàn
thư còn chép rằng : Các đời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần
chưa có nhạc cung đình như các triều đại sau. Hồi ấy khi
có yến tiệc, ăn uống xong, vua quan thường hát múa theo cách
điệu dân gian. Họ đứng thành vòng tròn, tay người nọ đặt
lên vai người kia, chân người nọ dẫm lên chân người kia
… để hát (4).
Có
được tính chất phóng khoáng, cởi mở, bình đẳng, dân chủ
như trên có thể là do sự kết hợp giao lưu giữa tinh thần
của cư dân lúa nước cùng Phật giáo. Mối giao lưu mật thiết
giữa Phật giáo và văn hóa dân gian còn thể hiện ở các
mặt sinh hoạt trong cuộc sống đời thường như cầu mưa
trừ hạn, chữa bệnh trừ tà, cầu cho cuộc sống yên bình,
cầu thần linh giúp sức để đánh tan giặc ngoại xâm…
Chính
những mối quan hệ giao lưu tiếp biến trên đã góp phần
làm nên một Phật giáo Đại Việt thời Lý Trần đậm đà
bản sắc dân tộc.
TS.
Nguyễn Công Lý
(Trường
Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia Tp.HCM)
Chú
thích :
(1)
: Nguyễn Lang, Phật giáo Việt Nam sử luận, tập 1, NXB KHXH,
Hà Nội, 1994 tái bản, trang 24.
(2)
: Xin xem : Nguyễn Lang, tài liệu đã dẫn và Nguyễn Tài Thư
(chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam , Viện Triết học,
Hà Nội, 1988.
(3)
: Nguyễn Lang, tài liệu đã dẫn, trang 138 139.
(4)
: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, bản dịch, Viện Sử
học, NXB KHXH Hà Nội, 1972.
http://giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=2475
06-22-2008
11:23:46