CON
ÐƯỜNG DẪN ÐẾN NIẾT BÀN
Làm
thế nào để đạt tới cảnh giới Niết Bàn (Nibbàna)?
Bằng
cách thực hành Bát Chánh Ðạo gồm có Chánh Kiến, Chánh Tư
Duy, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn, Chánh
Niệm, và Chánh Ðịnh.
Con
đường duy nhất này tạo nên Giới, Ðịnh và Huệ.
Ðức
Phật lược tóm con đường Trung Ðạo của Ngài trong bài kệ
dưới đây:
“Chớ
làm những điều ác,
Nên
làm việc lành
Giữ
tâm ý trong sạch
Ấy,
lời chư Phật dạy”.
Giới
là bước đầu tiên dẫn tới Niết Bàn.
Không
sát hại và gây thương tổn đến bất cứ chúng sanh nào,
chúng ta nên có lòng từ bi thương xót tất cả, ngay đối
với những sinh vật bé nhỏ nhất đang bò dưới chân mình.
Không trộm cắp, hành giả nên chánh trực và thành thật trong
mọi việc cư xử. Giữ gìn không tà hạnh, điều làm con người
mất phẩm giá, hành giả nên trong sạch. Không nói dối, hành
giả nên chân thực. Ngăn ngừa sự uống rượu nguy hại, khiến
tâm trí xao lãng, hành giả nên tiết độ và chuyên tâm.
Những
nguyên tắc sơ đẳng của sự tu hành đạo đức trên là điều
thiết yếu cho người đang đi trên con đường dẫn đến Niết
Bàn. Vi phạm các điều ấy có nghĩa là tạo ra các chướng
duyên trên đường đạo mà chúng sẽ gây trở ngại cho sự
tiến tu của hành giả. Thọ trì các giới điều này là tạo
sự vững chắc và tiến bộ thuận lợi trên bước đường
tu tập.
Hành
giả, khi giữ gìn lời nói và hành động có thể tiến xa
hơn trong việc cố gắng kiểm soát lục căn của mình.
Khi
hành giả tiến bộ từ từ và vững chắc trong việc kiềm
chế được lời nói, hành động và lục căn, nghiệp lực
của hành giả tinh tấn này thúc đẩy đương sự từ bỏ
những dục lạc của thế gian và chấp nhận đời sống tu
hành. Rồi hành giã sẽ nghĩ như thế này:
“Ðời
sống tại gia là sào huyệt của tranh chấp,
Ðầy dẫy những công việc vất vả và nhu cầu.
Nhưng cuộc sống của người xuất gia,
Là
giải thoát và cao cả như bầu trời mênh mông”.
Chúng
ta không nên nghĩ rằng phải hướng cuộc đời mình trở thành
một tu sĩ (Tỳ Kheo), hoặc sống ẩn dật mới có thể
chứng đắc Niết Bàn. Ðời sống của Tỳ Kheo hẳn nhiên
giúp nhiều cho sự tiến bộ tinh thần, nhưng người cư sĩ
vẫn có thể trở thành một vị A La Hán (55). Sau khi đạt
tới tầng Thánh thứ ba, hành giả cư sĩ sẽ sống độc thân.
Nhờ
đứng vững chắc trên nền tảng của giới luật, hành giả
bắt đầu thực hành trình độ cao hơn gọi là Ðịnh nhằm
kiểm soát và tu sửa tâm mình , giai đoạn thứ nhì của con
đường Thánh Ðạo.
Ðịnh
là giữ tâm an trụ vào một điểm. Ðó là sự hướng cho
tâm tập trung vào một đề mục, hoàn toàn không suy nghĩ đến
việc gì khác.
Có
nhiều đề mục tham thiền khác nhau, tùy theo tâm tánh của
mỗi cá nhân. Sổ tức quán (đếm hơi thở) là pháp môn dễ
nhất để giúp cho tâm định. Từ bi quán rất lợi ích vì
nó tạo cho tâm hành giả có an lạc và hạnh phúc.
Quán
tứ vô lượng tâm - Từ, Bi, Hỷ và Xả là phương pháp rất
đáng thực hành.
Sau
khi đã quan sát thận trọng đề mục tham thiền, hành giả
nên chọn một nơi thích hợp nhất với tâm tánh của mình.
Khi nơi chốn đã được thỏa đáng chọn lựa, hành giả nỗ
lực kiên nhẫn tập trung tư tưởng cho đến khi đương sự
hoàn toan say mê và thích thú vào điều ấy, nghĩa là tâm trí
của hành giả không còn giữ lại bất cứ một ý tưởng
nào khác. Lúc ấy tâm của hành giả có thể tạm thời bị
quấy phá bởi các thứ phiền não (ngũ cái) như tham dục,
sân nhuế (giận hờn), thụy miên (biếng nhác, mê ngủ), trạo
hối (xao động nơi tâm) và nghi ngờ (chánh pháp). Nhưng cuối
cùng , khi hành giả đạt đến tâm nhập định, sẽ cảm thấy
niềm hỷ lạc vô biên trong Thiền Ðịnh, thọ hưởng sự
vắng lặng và thanh tịnh của tâm an trụ.
Hành
giả khi đạt đến tâm hoàn toàn an trụ, đương sự có thể
chứng đắc năm phép Thần Thông: Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ
Thông, Túc Mạng Thông, Tha Tâm Thông, và Thần Túc Thông. Và
cũng đừng nên tưởng nghĩ cho rắng các thần thông đó là
điều thiết yếu cho việc thành tựu Thánh quả.
Mặc
dù tâm hành giả lúc ấy đã thanh tịnh, nhưng vẫn còn tiềm
ẩn nơi đương sự khuynh hướng ham thích lạc thú, vì nhờ
thiền định, những dục vọng tạm thời lắng dịu. Tuy nhiên,
vào lúc bất ngờ nào đó, chúng có thể hiện khởi trở lại
nơi tâm của hành giả.
Cả
hai Giới và Ðịnh đều hữu ích trong sự đoạn diệt những
chướng duyên trên đường Thánh Ðạo, nhưng duy nhất chỉ
có Tuệ Minh Sát mới giúp hành giả nhìn sự vật đúng như
thật và sau cùng đạt đến mục đích tối thượng bằng
cách hoàn toàn diệt trừ hết mọi ái dục nhờ vào Ðịnh.
Ðây là tầng Thánh thứ ba và cuối cùng của con đường dẫn
đến Niết Bàn.
Với
tâm an trụ vào một điểm, bây giờ giống như một tấm gương
đã lau chùi, hành giả có thể quan sát thế giới để nhận
thấy chân tướng của vạn vật. Bất luận hướng nhìn vào
nơi nào, hành giả đều thấy ba đặc tánh Pháp Ấn (56) -
Vô Thường, Khổ và Vô Ngã hiện lên nổi bật và rõ ràng.
Hành giả nhận thức rằng kiếp sống là luôn luôn biến đổi
và mọi sự vật đều vô thường. Dù là ở cõi trời hay
thế gian, hành giả không tìm thấy được hạnh phúc thực
sự, vì mỗi hình thức của dục lạc là khởi đầu cho sự
khổ đau. Do đó, cái gì vô thường là phải chịu đau khổ
và và nơi nào sự biến đổi và khổ đau chiếm ưu thế thì
không thể có linh hồn vĩnh viễn trường tồn.
Trong
ba Pháp ấn này, hành giả chọn cái nào thích hợp nhất và
chuyên tâm khai triển Tuệ Giác theo chiều hướng đặc biệt
ấy cho đến một ngày rực rỡ huy hoàng, ngày mà hành giả
chứng đắc Niết Bàn và lần đầu tiên trong cuộc sống của
mình đã đoạn diệt được ba Phiền Não: Thân Kiến, Nghi
và Giới Cấm Thủ Kiến.
Khi
đạt tới trình độ này, hành giả đã chứng đắc quả Tu
Ðà Hoàn (57) - là người mới bước vào dòng suối dẫn đến
Niết Bàn. Nếu chưa đoạn diệt được hết các Phiền Não,
hành giả sẽ còn phải tái sanh tối đa là bảy lần nữa.
Do
thành quả mới thoáng nhìn thấy Niết Bàn, hành giả tận
lực cố gắng, thực hiện tiến bộ nhanh chóng và tu luyện
Tuệ Giác sâu xa hơn để thành tựu quả vị Tư Ðà Hàm (58)
bằng cách làm suy giảm thêm hai Phiền Não (Fetters) nữa là
Tham Dục và Sân Nhuế. Hành giả được gọi đã chứng đắc
quả Tư Ðà Hàm vì Ngài chỉ còn tái sanh làm người một
kiếp nữa, trường hợp nếu hành giả chưa đắc quả A La
Hán.
Ðến
khi thành đạt tầng Thánh thứ ba hay A Na Hàm (59), hành giả
mới tận diệt hoàn toàn hai Phiền Não nói trên. Kẻ
từ đó, hành giả không phải tái sanh vào cảnh giới người
hay các cỏi trời dục giới nữa vì Ngài không còn ham muốn
các thú vui dục lạc. Sau khi diệt độ, hành giả sẽ tái
sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên (Suddhavasa), một cảnh trời Phạm
Thiên (Brahma) thích hợp cho đến khi Ngài chứng đắc quả
A La Hán.
Bậc
thánh nhơn bấy giờ được khuyến khích bởi thành quả
phi thường của những cố gắng, quyết tâm thực hiện bước
tiến cuối cùng vá tận diệt hết những Phiền Não còn lại
như Tham Sắc Giới, Tham Vô Sắc Giới, Mạn, Kiến Thủ Kiến
và Vô Minh để trở thành một bậc Thánh hoàn toàn-đắc quả
A La Hán.
Vị
A La Hán nhận thức rằng những điều gì phải làm đã làm
xong, gánh nặng phiền não đã từ bỏ, tất cả những hình
thức ái dục đều hoàn toàn tiêu diệt và đạo quả Niết
Bàn đã viên mãn thành tựu. Bây giờ Ngài đạt tới mức
tột đỉnh, cao hơn các cảnht rời, dứt bỏ mọi tham dục
phiiền não và ô nhiễm của thế gian để chứng nghiệm hạnh
phúc vô thượng của Niết Bàn (Nibbàna) và như các vị A La
Hán thời quá khứ đã biểu lộ nguồn vui qua những dòng sau
đây:
“Thiện
ý và trí tuệ phát sinh do cái tâm tu luyện,
Phạm hạnh cao quý nhất được xây dựng trên những giới
điều tốt đẹp,
Ðiều
này giúp con người trở nên thanh tịnh, chứ không phải chức
vị hay giàu sang”
Và
nhà khoa học T.H. Huxley (60) đã bày tỏ: - “Phật Giáo là
một hệ thống không chấp nhận Thượng Ðế theo ý nghĩa
tây phương, nó phủ nhận có linh hồn nơi con người, và coi
niềm tin vào sự bất biến như là điều sai lầm. Phật Giáo
chối bỏ hiệu quả của sự cầu nguyện, tế lễ và khuyên
con người đừng nương tựa vào điều gì khác ngoài sự tinh
tấn nỗ lực của chính mình để giải thoát. Phật Giáo,
trong sự tinh khiết nguyên thỉ của nó, không nhắc đến lời
phát nguyện của sự phục tòng; và không bao giờ mong cầu
sự cứu giúp từ bàn tay của những người thế gian; nhưng
nó đã bành trướng nhanh chóng kỳ diệu đến cùng khắp thế
giới và đang còn là một tôn giáo có ưu thế đối với phần
lớn nhân loại”.
the
path to nibbàna
How
is Nibbàna to be attained?
It
is by following the Noble Eight-fold Path which consists of Right Understanding
(Sammà-Ditthi), Right Thoughts (Sammà-Sankappa), Right Speech (Sammà-Vàcà),
Right Actions (Sammà-Kammanta), Right Livelihood (Sammà-Àjiva), Right
Effort (Sammà-Vàyàma), Right Mindfulness (Sammà-Sati) and Right Concentration
(Sammà-Samàdhi).
This
unique Path constitutes Morality (Sila), Concentration (Samàdhi),and Wisdom
(Pannà).
The
Buddha summarises His Middle Way in the following beautiful little verse:
-
To
refrain from all evil,
To
do what is good,
To
cleanse one's mind,
This
is the advice of all Buddhas.
Morality
(Sila) is the first stage on this path to Nibbàna.
Without
killing or causing injury to any living creature, he should be kind and
compassionate towards all, even to the tiniest creature that crawls at
his feet. Refraining from stealing, he should be upright and honest in
all his dealings. Abstaining from sexual misconduct which debases the exalted
nature of man, he should be pure. Shunning false speech, he should be truthful.
Avoiding pernicious drinks that promote heedlessness, he should be sober
and diligent.
These
elementary principles of regulated behaviour are essential to one who treads
the path to Nibbàna. Violation of them means the introduction of obstacles
on the path which will obstruct his moral progress. Observance of them
means steady and smooth progress along the path.
The
spiritual pilgrim, disciplining thus his words and deeds, may advance a
step further and try to control his senses.
While
he progresses slowly and steadily with regulated word and deed and restrained
senses, the Kammic force of this striving aspirant may compel him to renounce
worldly pleasures and adopt the ascetic life. To him then comes the idea
that
“A
den of strife is household life,
And
filled with toil and need;
But
free and high as the open sky
Is the life the homeless lead”.
It
should not be understood that everyone is expected to lead the life of
a Bhikkhu or a celibate life to achieve one's goal. One's spiritual progress
is expedited by being a Bhikkhu although as a lay follower one can become
an Arahat. After attaining the third stage of Sainthood, one leads a life
of celibacy.
Securing
a firm footing on the ground of morality, the progressing pilgrim then
embarks upon the higher practice of Samàdhi, the control and culture of
the mind - the second stage on this Path.
Samàdhi-
is the “one-pointedness of the mind”. It is the concentration of the
mind on one object to the entire exclusion of all irrelevant matter.
There
are different subjects for meditation according to the temperaments of
the individuals. Concentration on respiration is the easiest to gain the
one-pointedness of the mind. Meditation on loving-kindness is very beneficial
as it is conducive to mental peace and happiness.
Cultivation
of the four sublime states - loving-kindness (Mettà), compassion (Karunà),
sympathetic joy (Mudità), and equanimity (Upekkhà) is highly commendable.
After
giving careful consideration to the subject for contemplation, he should
choose the one most suited to his temperament. This being satisfactorily
settled, he makes a persistent effort to focus his mind until he becomes
so wholly absorbed and interested in it, that all other thoughts get ipso
facto excluded from the mind. The five hindrances to progress - namely,
sense-desire, hatred, sloth and torpor, restlessness and brooding and doubts
are then temporarily inhibited. Eventually he gains ecstatic concentration
and, to his indescribable joy, becomes enwrapt in Jhana, enjoying the calmness
and serenity of a one-pointed-mind.
When
one gains this perfect one-pointedness of the mind it is possible for one
to develop the five Supernormal Powers (Abhinnà): Divine Eye, (Dibbacakkhu),
Divine Ear (Dibbasota), Reminiscence of past births (Pubbenivàsànussati
Nana), Thought Reading (Paracitta Vijànana), and different Psychic Powers
(Iddhividha). It must not be understood that those supernormal powers are
essential for Sainthood.
Though
the mind is now purified there still lies dormant in him the tendency to
give vent to his passions, for, by concentration, passions are lulled to
sleep temporarily. They may rise to the surface at unexpected moments.
Both
Discipline and Concentration are helpful to clear the Path of its obstacles
but it is Insight (Vipassanà Pannà) alone which enables one to see things
as they truly are, and consequently reach the ultimate goal by completely
annihilating the passions inhibited by Samaàdhi. This is the third and
the final stage on the Path to Nibbàna.
With
his one-pointed mind which now resembles a polished mirror he looks at
the world to get a correct view of life. Wherever he turns his eyes he
sees nought but the Three Characteristics - Anicca (transiency),
Dukkha (sorrow) and Anatta (soul-lessness) standing out in bold relief.
He comprehends that life is constantly changing and all conditioned things
are transient. Neither in heaven nor on earth does he find any genuine
happiness, for every form of pleasure is a prelude to pain. What is transient
is therefore painful, and where change and sorrow prevail, there cannot
be a permanent immortal soul.
Whereupon,
of these three characteristics, he chooses on that appeals to him most
and intently keeps on developing Insight in that particular direction until
that glorious day comes to him when he would realize Nibbàna for the first
time in his life, having destroyed the three Fetters-self-illusion (Sakàya-ditthi),
doubts (Vicikicchà), indulgence in (wrongful) rites and ceremonies (Silabbataparàmàsa).
At
this stage he is called a Sotàpanna (Stream-Winner) - one who has entered
the stream that leads to Nibbana. As he has not eradicated all Fetters
he is reborn seven times at the most.
Summoning
up fresh courage, as a result of this glimpse of Nibbàna, the Aryan Pilgrim
makes rapid progress and cultivation deeper Insight becomes a Sakadàgàmi
- (Once Returner) - by weakening two more Fetter - namely, Sense-desire
(Kàmaràga) and ill-will (Patigha). He is called Sakadagami because he
is reborn on earth only once in case he does no attain Arahatship.
It
is in the third stage of Sainthood - Anàgàmi (Never-Returner) that he
completely discards the aforesaid two Fetters. Thereafter, he neither returns
to this world nor does he seek birth in the celestial realms, since he
has no more desire for sensual pleasures. After death he is reborn in the
“Pure Abodes” (Suddhàvàsa), a congenial Brahma plane, till he attains
Arahatship.
Now
the saintly pilgrim, encouraged by the unprecedented success of his endeavours,
makes his final advance and destroying the remaining Fetters, namely, lust
after life in Realms of Forms (Rupàràga) and Formless Realms (Aruparàga),
conceit (Màna), restlessness (Uddhacca), and ignorance (Avijjà) becomes
a perfect Saint - an Arahat, a Worthy One.
Instantly
he realizes that what was to be accomplished has been done, that a heavy
burden of sorrow has been relinquished, that all forms of attachment have
been totally annihilated, and that the Path to Nibbàna has been trodden.
The Worthy-One now stands on heights more than celestial, far removed from
the rebellious passions and defilements of the world, realizing the unutterable
bliss of Nibbàna and like many an Arahat of old, uttering that paeon of
joy:-
“Goodwill
and wisdom, mind by method trained,
The
highest conduct on good morals based,
This
maketh mortals pure, not rank or wealth”.
As
T.H. Huxley states - “Buddhism is a system which knows no God in the
western sense, which denies a soul to man, which counts the belief in immortality
a blunder, which refuses any efficacy to prayer and sacrifice, which bids
men look to nothing but their own efforts for salvation, which in its original
purity knew nothing of vows of obedience and never sought the aid of the
secular arm: yet spread over a considerable moiety of the world with marvellous
rapidity - and is still the dominant creed of a large fraction of mankind.”