-
Thiền phái Trúc Lâm nằm chung trong hệ thống Phật giáo Đại
Thừa vậy nếp áo Tiểu Thừa của đệ nhất tổ một dòng
thiền Đại thừa mang ý nghĩa gì?
Tượng
Trần Nhân Tông tại Tháp tổ Huệ Quang.
700
năm sau ngày mất của đức Trần Nhân Tông, tìm về Yên tử
để chiêm bái thêm một lần pho tượng của ngài hiện đặt
trong tháp tổ Huệ Quang. Tương truyền pho tượng đó cho chính
vua Trần Anh Tông cho tạc ngay sau một năm ngài mất. Pho tượng
được tạc bằng đá xanh Ninh Bình, chia ra làm 2 phần, một
phần ngai có bốn mặt hổ phù đặt rời phần bệ và tượng.
Bệ
và tượng được tạc trên cùng một khối đá, hoa văn bệ
tượng đơn giản viền ngoài là hoa cúc đời Trần, lớp trong
là hai con rồng chầu hoa sen. Chỉ cần đọc những lớp mã
ý nghĩa ở phần bệ tượng thôi cũng là cả một điều thú
vị.
Phần
ngai bốn chân hổ phù bắt buộc phải rời khỏi phần bệ
vì Trần Nhân Tông là vị vua xuất gia đi tu; ở phần bệ
gắn liền với tượng có trang trí hoa văn hoa cúc vốn là
biểu tượng văn hóa của triều đại nhà Trần; rồng chầu
hoa sen (không phải là rồng chầu mặt nguyệt, hay hỏa châu)
cho thấy vào đầu triều đại nhà Trần đến đời vua Anh
Tông, Phật giáo chính là quốc giáo của Đại Việt, hình
tượng con rồng biểu tượng cho quyền lực của nhà vua chầu
một đóa hoa sen được cách điệu là biểu tượng của Phật
giáo. Sách Thánh đăng ngữ lục còn chép lại: Mùa đông năm
Giáp thìn (1304), vua Anh Tông dâng biểu xin thụ Bồ tát giới
tại gia.
Nhưng
mã văn hóa không chỉ nằm lại ở phần bệ tượng mà dồn
cả vào pho tượng vua Trần Nhân Tông. Pho tượng cao khoảng
50cm, vua Nhân Tông trong tư thế của một vị thiền sư ngồi
kiết già, hay tay đặt lên đầu gối, tay phải bắt ấn, tay
trái đặt buông gần đầu gối, vua ngồi thiền mở mắt,
ánh mắt được các nghệ nhân dân gian điểm nhã trông hiền
từ, pho tượng đẹp giản dị toát lên một vẻ thoát tục.
Nghệ
nhân Nguyễn Tiến Dũng được nhìn tận mắt pho tượng đức
Nhân Tông ở trong tháp tổ về chất liệu và kỹ thuật điêu
khắc về pho tượng trong tháp Huệ Quang cho biết: “Chỉ riêng
cánh tay của pho tượng, với kỹ thuật chế tác đá trên
chất liệu như thế và thời bây giờ phải thợ lành nghề
phải làm hết ba tháng”. Nghệ nhân Nguyễn Tiến Dũng đã
về thử làm một phiên bản như vậy trong sự hỗ trợ rất
nhiều của máy móc hiện đại trong vòng một tháng hoàn thành
được tác phẩm chỉ đạt được độ chính xác 70% so với
mẫu trong tháp.
Trước
đó một nhóm họa sĩ của Vụ Mĩ Thuật cũng tiến hành dựng
phiên bản bằng thạch cao trong dự án dựng tượng vua Trần
Nhân Tông trên đỉnh An Kỳ Sinh sau thời gian tương đương
như thế đã nặn một phiên bản khác nhưng không một nét
nào mang hình ảnh của Trần Nhân Tông.
Tượng
vua Nhân Tông trong tháp tổ Huệ Quang quả là công trình tuyệt
mĩ về mặt mĩ thuật, nhưng đặc biệt hơn cả là pho tượng
đó tồn tại trong đó những bí ẩn mà mãi cho đến
ngày nay chúng ta mới đặt câu hỏi và bắt đầu trên con
đường khám phá: Đó chính là nếp áo tiểu thừa mà những
người thợ chế tác cùng thời khoác cho bức tượng.
Như
chúng ta đã biết rõ ràng thiền phái Trúc Lâm nằm chung trong
hệ thống Phật giáo Đại Thừa vậy nếp áo Tiểu Thừa của
đệ nhất tổ một dòng thiền Đại thừa mang ý nghĩa gì?
Tìm
lại một chút lịch sử các pho tượng cổ vua Nhân Tông, ngoài
pho tượng đặt trong tháp Huệ Quang ra còn có một số pho
tượng khác vua cũng mặc áo tiểu thừa: hệ thống ba pho Trúc
Lâm tam tổ đặt thờ ở Côn Sơn; ba pho Trúc Lâm tam tổ đặt
thờ trong chùa Đồng cũ được xây dựng đầu thế kỷ 20…
còn lại đa phần các pho tượng khác vua vẫn mặc áo Đại
Thừa.
Giở
lại một số sách sử chép về cuộc đời bắt đầu khi vua
xuất gia tu hành đến đắc đạo thành Phật ta thấy có một
số sự kiện sư sau:
Sách
Thánh Đăng Ngữ Lục chép: “ Năm Kỷ Hợi Hưng Long thứ 7,
tháng 10 bằng cách đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng tu
hành 12 hạnh đầu đà, tự gọi là Hương Vân Đại Đầu
Đà”
Sách
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Tháng 8 (năm kỷ hợi)
Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia, vào núi
Yên Tử khổ hạnh”
Sách
Thánh Đăng ngữ lục chép lại: Khi mất vua Nhân tông được
tôn hiệu Đại thánh Trần triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh
Huệ Điều Ngự Tổ Phật.
Như
vậy có một điều khẳng định là vua Trần Nhân Tông đã
tu hành theo pháp giới hạnh đầu đà thuộc Tiểu thừa để
rồi sau này đắc đạo thành Phật
Sau
khi vua vào Yên Tử tu tập, vẫn theo sách Đại Việt Việt
Sử Ký Toàn Thư thì tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thượng hoàng
Nhân Tông đi sang Chiêm Thành, và chính chuyến đi này ngài
đã làm một nước cờ chính trị vô cùng khôn khéo là dàn
xếp cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm Chế Mân lấy công chúa
Huyền Trân nhà Trần để đổi lấy hai châu Ô, Lý mà không
mất một mũi tên hòn đạn. Cuốn sử trên cũng ghi chép khá
rõ ràng diễn biến cuộc hôn nhân này:
Rằm
tháng giêng năm Quý Mão (1303), sau chuyến đi Chiêm về, Thượng
hoàng mở Pháp hội vô lượng bố thí tiền bạc cho dân nghèo
tại chùa Phổ Minh; tháng 3 năm Giáp Thìn (1304), Thượng hoàng
tiếp một vị sư tu theo lối Du Già ở Chiêm Thành sang nước
ta; Tháng 2 năm Ất Tị(1305) nước Chiêm sai Chế Bồ Đài mang
phẩm vật bàn chuyện hôn sự; tháng 6 năm Bính Ngọ(1306) tổ
chức đám cưới cho công chúa Huyền Trân và vua Chiêm là Chế
Mân; tháng 5 năm Đinh Mùi (1307), Chế Mân mất cũng chính ngài
là người sai Trần Khắc Chung đem quân lừa đưa được công
chúa về tránh cảnh con gái mình phải thiêu cùng vua Chiêm.
Như
vậy có thể nói chỉ có thời gian từ tháng 8 năm 1299 đến
tháng 3 năm 1301 trong sử không thấy chép gì những chuyện
của vua Nhân Tông trong thời gian ở Yên Tử, chứng tỏ trong
thời gian này ngài ở Yên Tử và tu tập rốt ráo trong thời
gian gần 2 năm. Tuy vậy sau 2 năm tu hành ngộ đạo, tính từ
khi ngày xuống núi có buổi thuyết pháp đầu tiên giảng về
Khóa Hư Lục tại chùa Vĩnh Nghiêm thì những việc đối ngoại
quan trọng của đất nước trong đó có chuyện lấy hai châu
Ô, Lý chính là do một mình vua Nhân Tông chỉ đạo.
Sau
một thời gian xuất thế để tu đạo, cả một quãng thời
gian dài sau thời điểm chứng đắc ngộ đạo Trần Nhân Tông
đóng vai trò là một thiền sư nhập thế. Suốt từ năm 1301
cho đến cuối đời thái độ xuất thế và nhập thế của
vua Trần Nhân Tông luôn có sự biến đổi. Lúc ngài trong hành
trạng của một vị khất sĩ ngay trong kinh thành của nước
Chiêm; có lúc ngài như một thiền sư Lâm Tế trong buổi giảng
về thiền tại chùa Sùng Nghiêm vào năm 1304 theo lời tả trong
sách Thánh Đăng Ngữ Lục; có lúc ngài nhập thế như một
nhà Nho khi tính nước cờ chính trị vô cùng sáng suốt để
đổi lấy hai châu Ô, Lý... Chính thái đội hành tàng
xuất xử của ngài làm cho nhiều người tìm hiểu về cuộc
đời của ngày như lạc vào trong một mê cung và có lẽ chính
từ đây câu chuyện về Thiền Phái Trúc Lâm mới được bắt
đầu giở sang một trang mới.
Cuối
tháng 12 vừa rồi, có dịp đi lại trên con đường rất nhiều
khả năng đó chính là con đường cổ xích tùng mà vua Trần
Nhân Tông đã đi vào Yên Tử để tu khổ hạnh. Cuối
con đường chúng tôi vô cùng ngạc nhiên về một rừng tùng
cổ thụ mở ra trước mắt, những thân cây lớn độ hai người
ôm mọc thành rừng với số lượng khá nhiều, bên cạnh là
một rừng trúc, những thân trúc to bằng cổ tay mọc thẳng
đứng rắn rỏi, mỗi cơn gió len được vào nơi đây đều
làm những lá trúc reo lên trên những tay trúc mảnh dẻ, rồi
bất chợt một vài chiếc là vèo rụng như nhắc nhở du khách
về kiếp phù sinh của đời người.
Một
vị thiền sư chỉ cho tôi mé bên kia của rừng Tùng, rừng
Trúc này là một rừng Mai vàng. Rừng mai mọc ở bên
đằng thác vàng chạy dọc từ chùa Hoa Yên xuống vị trí
ga cáp treo bây giờ, vào những tháng xuân, du khách hành hương
rợp ngợp trước một rừng mai vàng trên triền núi Yên Tử,
đoạn từ am Thiền Định sang Thác Vàng vốn ít khách qua lại
đến ngày tết trong không khí lành lạnh của những ngày đông
đang
còn vương vấn, ngắm hơi núi phả ra những dải sương và
cánh mai vàng rơi lác đác trên con đường đá thật không
có gì khoái hoạt bằng.
Bất
giác tưởng tượng đến cảnh đó, nghĩ đến ngày cuối năm
mà nhớ tới câu thơ của Huyền Quang Lý Đạo Tái: Tuế vãn
trung sơn vô lịch nhật/Cúc khai hoa xứ tức trùng dương (Năm
gần hết, giữa rừng không có lịch/ Thấy hoa cúc nở, biết
là tiết trùng dương đến rồi); đọc hết câu mới giật
mình khám phá ra một điều vô cùng thú vị: Hóa ra ở Yên
Tử ngay từ sớm đã song hành tồn tại “tứ quý”: Tùng
– Cúc – Trúc – Mai là những vẻ đẹp tượng trưng cho
đức hạnh của người quân tử theo mĩ học Nho giáo.
Một
thánh địa của Phật giáo lại chất chứa trong đó những
vẻ đẹp biểu tượng cho đức hạnh của người quân tử
theo quan niệm Nho giáo thì quả là đặc biệt. Nếu lạm nghĩ
thêm một tí nữa thì trước đó rất lâu tượng đá An Kỳ
Sinh đã đứng sừng sững gần hai mươi thế kỷ. Và chỉ
nghĩ thêm được chừng đó thôi mọi thứ đã gần thông suốt
trên quãng đường đi khám phả chỉ một dải núi men sườn
dãy Yên Tử đã tồn tại ba vẻ đẹp của ba thứ tôn giáo
hòa chung trong nhịp đập mà trái tim chính là Thiền Phái Trúc
Lâm.
Nhớ
lại một câu nói nữa cũng của thiền sư Phù Vân với vua
Thái Tông cũng được chép lại trong cuốn sách Thiền tông
chỉ nam tự: Sơn bản vô Phật/Duy tồn hồ tâm/Tâm tịch nhi
tri/Thị danh chân Phật; Để đến sau này trong yếu chỉ của
mình mà chính là của Thiền phái Trúc Lâm với bài phú Cư
Trần Lạc Đạo đức Điều ngự giác hoàng đã tiếp nhận
một lần nữa lời nói của thiền sư Phù Vân trong câu: Đối
cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền. Câu của vua Thái Tông chép lại
có nghĩa là: Trên núi vốn không có Phật/ Phật chính nằm
trong tâm/ Tâm lặng mà biết được/Đấy chính là Phật thật
sự.
Trần
Ngọc Linh
TIN
LIÊN QUAN
Phát
lộ dấu vết am Ngọa Vân- Yên Tử, Trần Ngọc Linh
Phát
hiện đường Xích tùng cổ trên Yên Tử, Trần Ngọc Linh
02-06-2008
11:23:12