Mục
Lục Khóa Thứ Nhất
Nhân
Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 7
Thờ
Phật, Lạy Phật, Cúng Phật
A.
Mở Ðề
Xưa
nay, những bậc có công ơn lớn đối với Quốc gia, xã hội
đều được tôn sùng, nhưỡng mộ. Sự tôn sùng ngưỡng mộ
này do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là lòng tri
ân và sự mong muốn được noi theo gương sáng. Tục ngữ có
câu: "Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây, uống nước phải
nhớ người đào giếng". Lòng tri ân là một đức tính quí
báu, mà những người có chút công bằng không thể thiếu
được. Một xã hội gồm những phần tử phi ân bội nghĩa,ăn
cháo đá bát, không có thể tồn tại được lâu dài, vì nó
làm chán nản những kẻ có lòng, và làm khô cạn nguồn hy
sinh. Vả lại, nếu con người thấy điều tốt, người hiền
mà chẳng hâm mộ, thấy điều xấu, người ác mà không tránh
xa, thì con người ấy là người thiếu căn bản đạo đức,
thiếu mầm thiện, khó có thể tiến bộ. Vì những lý do trên,
ta thấy trên thế giới, bất luận ở phương trời nào, dân
tộc nào, thời đại nào, hễ kẻ có công với làng xóm, thì
được làng xóm tôn thờ, kẻ có công với quốc gia, dân tộc,
thì được quốc gia, dân tộc tôn thờ, kẻ có công đức
với nhân loại, thì được nhân loại sùng thượng.
Sự
thờ cúng trong các tôn giáo cũng không ra ngoài những lý do
đã kể trên. Nhưng ở các tôn giáo, sự thờ cúng có tính
cách thường trực và thiết tha hơn, vì các vị Giáo chủ
là những bậc có công ơn lớn đối với nhân loại và là
những gương sáng mà tín đồ cần đặt luôn luôn ở trước
mắt để soi sáng đời mình. Trong các vị Giáo chủ, thì Ðức
Phật là Vị được nhiều tín đồ sùng mộ nhất. Sự sùng
mộ ở đây biểu hiện trong sự thờ, lạy và cúng Phật.
B.
Chánh Ðề
I.-
Thờ Phật
1)
Phật là bậc đáng tôn thờ. Phật là những bậc đã dày
công tu luyện phước đức và trí tuệ, cho nên đã được
hoàn toàn sáng suốt và có đầy đủ đức hạnh cao quý. Các
Ngài đã dùng đức và trí ấy để dẫn dắt chúng sanh ra
ngoài biển khổ luân hồi, và đua đến địa vị sáng suốt
an vui. Trong công việc độ sanh ấy, các Ngài lại không bao
giờ thối chuyển ngã lòng mặc dù gặp trở lực khó khăn.
Các Ngái đã nguyện độ cho toàn thể chúng sanh, cho đến
khi nào không còn một chúng sanh nào để độ nữa mới thôi.
thật là đúng với câu: "Tự giác, giác tha, giác hạnh viên
mãn". Một bậc có đủ ba đức tính quý báu là Bi, Trí, Dũng,
ba đức tính căn bản mà một con người muốn được toàn
thiện, toàn mỹ, toàn chân, không thể thiếu được. Một
bậc siêu phàm xuất chúng, có những lời dạy quý báu, những
cử chỉ cao thượng, những hành động sáng suốt, một đời
sống gương mẫu như Phật, mà chúng ta không tôn thờ, thì
còn tôn thờ ai nữa?
2)
Nhưng chúng ta phải thờ Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa.
Như trên đã nói, chúng ta thờ Phật là để tỏ lòng tri ân
của chúng ta đối với một Vị đã có ân đức lớn với
nhân loại. Chúng ta thờ Phật là để có luôn luôn ở trước
mặt một gương mẫu sáng suốt trọn lành để khuôn rập
tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta được chân,
thiện, mỹ như Phật vậy. Người ta thường nói: "Gần mực
thì đen, gần đèn thì sáng". Chúng ta thờ Phật là muốn luôn
luôn được có bên mình ngọn đèn trí tuệ của Ngài, cái
hương từ bi của Ngài, để được sáng lây, thơm lây, chứ
không phải chúng ta có mục đích cầu cạnh Ngài để Ngài
ban phước, trừ họa, để Ngài che chở cho chúng ta mua may
bán đắt một cách bất lương, hay để chúng ta dựa vào thế
lực của Ngài, tha hồ làm những điều bất chính. Nếu chúng
ta thờ Ngài với mục đích sai lạc như vừa nói ở trên,
thì không những chúng ta đã phỉ bán Ðức Phật, mà chúng
ta còn tự tạo tư tưởng không tốt cho chúng ta nữa.
3)
Phải thờ Ðức Phật nào? Ðức Phật nào cũng có nghĩa vô
lượng quang, vô lượng thọ bao la cùng khắp và công đức
tu hành phước trí vô lượng vô biên cả; nên hễ thờ một
Ðức Phật là thờ tất cả các Ðức Phật. Nhưng chúng ta
cũng nên tuỳ theo thời kỳ giáo hóa của mỗi Ðức Phật
và pháp môn tu hành mà thờ cho xứng lý, hợp cơ. Thí dụ
như hiện nay, chúng ta ở vào thời kỳ giáo hóa của Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni, thì lẽ cố nhiên, chúng ta phải thờ
Ngài trước hết. Nếu tín đồ nào tu về "Tịnh Ðộ Tông",
chuyên về pháp môn "Trì danh niệm Phật" để cầu vãng sanh,
thì tín đồ ấy phải thờ Ðức Phật A-Di-Ðà. Hoặc giả,
nếu Phật tử muốn thờ tất cả Phật trong ba đời, thì
nên thờ Ðức Phật Thích Ca, Ðức A-Di-Ðà, và Ðức Di-Lặc,
gọi là thờ "Tam Thế Phật".
4)
Cách thức thờ Phật. Như vậy trong nhà tín đồ, nếu muốn
thờ tượng Phật, thì nhiều nhất là ba Vị. Và nên nhớ
rằng, trong khi thờ Tam Thế Phật, phải sắp đặc chung một
bàn. Nếu tượng lồng kiếng thì nên treo ngay thẳng, không
được cái cao, cái thấp, cũng không được cái to, cái bé;
còn như tượng gỗ, tượng đồng tượng sành, thì để ngang
hàng đồng bực, không nên để tùng trên, cấp dưới. Bàn
thờ Phật phải đặt chính giữa nhà, bàn thờ ông bà ở
phía dưới hoặc sau đúng câu: "Tiền Phật hậu Linh, hay Thượng
Phật hạ Linh". Nếu nhà lầu thì thờ Phật ở tầng trên.
Tại bàn thờ Phật không nên để tạp vật nào khác, ngoài
bình bông, lư hương,, chân đèn và dĩa quả. Những vật này
mỗi ngày đều chăm sóc lau quét sạch sẽ luôn. Lần đầu
tiên thỉnh Tượng Phật, tín đồ phải làm lễ thượng tượng,
cũng gọi là lễ an vị Phật. Lễ này không bắt buộc phải
tổ chức linh đình, chỉ nên làm một cách đơn giản, nhưng
không kém vẻ trang nghiêm và tinh khiết. Muốn được hai đặc
diểm ấy, chủ nhà phải dọn mình sạch sẽ: ăn chay, giữ
giới và mời thêm thiện hữu trí thức đến hộ niệm một
thời kinh. Và bắt đầu từ ngày làm lễ an vị Phật trở
đi, tất cả mọi người trong nhà, mỗi ngày ra vô trông thấy
tượng Phật, nên nghĩ nhớ đến đức hạnh cao cả của Ngài
mà chỉnh đốn lại thân tâm mình. Mỗi ngày đều lo cải
thiện lại sự cư xử với nhau, đối nội cũng như đối
ngoại, phải luôn luôn thấm nhuần tinh thần từ bi, bác ái
và bình đẳng. Như thế mới xứng đánh với danh nghĩa của
một gia đình có thờ Phật. Thờ phụng lâu năm, tượng Phật
bi hư rách, không thể sơn phết hay sửa chữa lại được,
thì nên thay đổi tượng mới. Khi có tượng mới rồi thì
tượng cũ phải dâng vào chùa chờ dịp nhập tháp, chớ không
nên bạ đâu bỏ đó, mà mang tội.
II.-
Lạy Phật
1)
Ý nghĩa lạy Phật.- Ngày xưa, khi Ðức Phật còn tại thế,
các đệ tử từ vua quan , đến dân chúng, mỗi lần được
may mắn gặp Ðức Phật Thích Ca, đều cuối xuống ôm chân
Phật và đặt trán mình klên chân Ngài để tỏ lòng ngưỡng
mộ, tôn thờ một bậc tối thượng: Bi, trí siêu phàm. Cử
chỉ ấy là một cử chỉ vô cùng khiêm tốn, nhu thuận và
hoàn toàn tin cậy đối với Ðức Phật. Sau khi Phật nhập
diệt, toàn thể tín đồ vẫn xem Ngài như còn tại thế, và
cái cử chỉ cuối xuống ôm chân Phật vẫn còn tiếp nối
tồn tại cho đến ngày nay và muôn ngàn năm sau. Cái cử chỉ
ấy chỉ có cái công dụng làm cho tínn đồ bao giờ cũng hình
dung như Ðức Phật còn ngồi trước mặt mình để chứng
giám cho tấm lòng thành kính thiết tha của mình.
2)
Phải lạy Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa.- Ðể cho
đúng với ý nghĩa trên, khi lạy Phật phải quỳ xuống, ngửa
hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cuối lưng xuống
đặt trán mình trên hai lòng bàn tay. Trước khi lạy Phật,
phải dọn mình cho sạch sẽ: rửa mặt, súc miệng, lau tay
chân, thay y phục và mặc áo tràng. Xong xuôi, mới đốt hương
ra trước bàn Phật, đứng ngay thẳng, tay chắp để trước
ngực, mắt nhìn tượng Phật, tâm tưởng đến các tướng
tốt và những đức hạnh cao cả của Ngài, và tỏ bày nguyện
vọng chân chánh của mình, xá rồi cắm hương vào lư, đánh
tiêng chuông và lạy Phật ba lạy. Lễ Phật như thế mới
đúng pháp; trong kinh gọi là "thân tâm cung kính lễ" , nghĩa
là thân tâm hăng hái tề chỉng, nghiêm trang, tâm thì hớn
hở vui mừng và hết lòng thành kính như gặp được Phật
còn tại thế. Trái lại, chúng ta lễ Phật với lòng ngã mạng
(ngã mạng lễ), hay với tâm cầu danh (cầu danh lễ), thì đã
không có kết qủa gì, mà còn mang thêm tội.
Ngã
mạng lễ, là khi lạy Phật mà trong tâm còn ngạo nghễ, kiêu
căng, năm vóc (đầu, hai tay, hai chân) không sát đất, đứng
lên cuối xuống một cách cẩu thả, qua loa cho có chuyện.
Cầu danh lễ, là khi thấy có đông người thì miệng liền
to tiếng dài hơi xưng danh hiệu Phật, thân lại siêng năng
lạy không ngừng nghỉ, có ý để cho mọi người khen ngợi.
Trái lại khi không có người thì thân lại biếng nhác, tâm
lại giải đãi, không muốn lễ bái gì cả. Hai cách lễ ái
trên đây rất giả dối, vậy những ai muốn tiến trên đường
Ðạo, thì phải nên tránh ngay.
3)
Bốn phép lạy (thuộc về lý).- Về phương diện lý thì có
bốn phép lễ.
a)
Phát trí thanh tịnh lễ.- Trong phép này, người hành lễ phải
thấu suốt rằng cảnh giới của Chư Phật đều tùy tâm hiện
bày, nên lạy một Ðức Phật, tức là lạy tất cả Chư Phật,
lạy một lạy, tức là lạy tất cả Pháp giới, vì Pháp thân
của Phật dung thông.
b)
Biến nhập pháp giới lễ.- Trong pháp này, người hành lễ
phải tự quán thân, tâm cùng tất cả các pháp, từ hồi nào
đến giờ đều không rời pháp giới.
c)
Chánh quán lễ.- Trong pháp này, người hành lễ lạy Ðức
Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên với Ðức
Phật nào khác, vì tất cả chúng sanh từ xưa đến nay, đều
sẵn có Phật tánh viên mãn, bình đẳng và chân giác.
d)
Thật tướng bình đẳng lễ.- Trong pháp lễ này, người hành
lễ không thấy có tự, có tha; người và mình là một, phàm
và Thánh nhứt như, thế và dụng không hai. Do đó, Ngài Văn
Thù Sư Lợi Bồtát có nói: "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch",
nghĩa là người
lạy,
và đấng mình lạy, thể tánh đều vẳng lặng. Như thế mới
thấu đáo và hợp lý Bát Nhã.
Bốn
phép lễ này, lý cao khó nghĩ bàn, nếu chẳng phải bực thượng
căn, thượng trí, thì không thấu nổi và khó làm theo được.
III.-
Cúng Phật : Là nói tắt, nói cho đủ nghĩa là cúng dường
Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Cúng dường có nghjĩa là cung cầp
và nuôi dưỡng.
1.-
Ý nghĩa về cúng Phật.- Có người sẽ hỏi: Tại sao Ðức
Phật đã là bất sanh, bất diệt mà lại còn phải cúng dường?
Thật ra, Ðức Phật đã thoát ra ngoài vòng sanh tử, thì đâu
còn hạn cuộc trong sự ăn uống. Nhưng đây chỉ là một hình
thức để ngụ ý rằng, mặc dầu Phật đã nhập diệt lâu
rồi, nhưng đối với chúng ta, bao giờ cũng xem như Ngài còn
tại thế. Xưa, các đệ tử, các đàn na thí chủ đã cúng
dường Ngài như thế nào, nay chúng ta vẫn tiếp tục cái cử
chỉ ấy. Sự cúng dường này làm cho chúng ta gần với Phật,
có cảm tưởng như bao giờ cũng ở bên cạnh Phật. Cũng nhơn
sự thờ phụng, lễ bái cúng dường này mà chúng ta được
kết duyên lành với Phật, hình dung rõ rệt cuộc đời của
Ngài để quyết noi theo bước chân của Ngài.
2.-
Phải cúng Phật với những gì? (Về sự) .- Vẫn biếât rằng
chúng ta nên cúng dường Phật để hình dung như Ngài còn tại
thế, nhưng nếu chúng ta, mỗi khi cúng Phật, lại bày biện
đủ thức ăn uống, nào yến tiệc cỗ bàn linh đình thì thật
là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa sâu
xa của sự cúng Phật. Vậy muốn cúng Phật đúng ý nghĩa
thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt,
nước trong và đôi khi thêm cơm trắng là đủ.
3.-
Năm món diệu hương để cúng Phật. Ðoạn trên là nói về
Sự, về hình tướng bên ngoài để cúng Phật. Còn về phương
diện Lý, thì phải dùng năm món diệu hương để cúng Phật
như sau:
a)
Giới hương.- Pháp thân của Phật rất thanh tịnh, nếu về
mặt Sự, chúng ta đã dùng hương trầm đốt cúng, thì về
mặt Lý, chúng ta cũng phải trì giới cho trang nghiêm thanh tịnh,
để cúng dường được đủ cả về Sự và Lý.
b)
Ðịnh hương.- Thân tâm chúng ta bị mê nhiễm và thường loạn
động trong mọi hoàn cảnh. Nếu để buông trôi mãi trong tình
trạng ấy, thì chúng ta chẳng tu hành gì được. Vậy hằng
ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, hằng sát na chúng
ta phải cố gắng tập định tĩnh tâm hồn, đừng để cho
những ý nghĩ, hành động xấu xa xâm chiếm tâm hồn và làm
cho chúng ta phải loạn động. Làm cho tâm tư lắng xuống,
như thế là dùng Ðịnh hương cúng Phật.
c)
Huệ hương.- Huệ hương cúng Phật là lúc nào cũng phải lưu
tâm vào ba món sáng tỏ: Văn huệ, Tư huệ, và Tu huệ. Văn
huệ là lắng nghe lời giáo hóa quý báu của Chư Phật và
Thánh Hiền Tăng, Tư huệ là đem những lời quý báu nói trên
ra suy xét, nghiền ngẫm, biết thế nào là phải, thế nào
là quấy, cái nào là chân thật, cái nào là luống dối để
khỏi lầm lạc vào đường tà; Tu huệ là quyết tâm thực
hành những điều mình cho là phải, trừ bỏ những điều
mình cho là trái, thực hiên đ1ung đắng giáo lý sáng suốt
của Ðức Phật.
d)
Giải thoát hương.- Giải thoát hương cúng Phật là quyết
tâm phá trừ ngã chấp, nguồn gốc của bao sự đau khổ luân
hồi. Chúng ta phải luôn luôn quán vô ngã, không nhận chiếc
thân tứ đại này là mình, cũng không nhìn cái nghiệp thức
phân biệt là mình, để được thoát ly ra ngoài vòng sanh tử
luân hồi.
e)
Giải thoát tri kiến hương.- Chúng ta đã biết quán vô ngã,
để phá trừ ngã chấp thì được giải thoát, song vẫn còn
"Pháp chấp" ràng buộc, nên chưa đến được cảnh giới tự
tại, vô ngại như Phật. Còn Pháp chấp nghĩa là còn thấy
các pháp như : đất, nước, gió, lửa là có thật; còn thấy
vui buồn sướng khổ là có thật. Khi nào chúng ta thể nhận
được rằng tứ đại sở dĩ in tuồng có thật là vì chúng
ta còn ở trong nghiệp người, chớ đối với các loài khác,
như cá chẳng hạn, thì nước đâu phải là nước như chúng
ta quan niệm, mà chính là lâu đài, nhà cửa; đối với loài
mọt, thì gỗ đâu phải như chúng ta quan niệm, mà là những
thức ăn và nhà ở. Cho đến vui, buồn, sướng, khổ đều
là đối đãi với nhau mà sanh ra. Vậy thì Pháp cũng như Ngã,
đều là giả dối, không có thật, mà chỉ là những danh từ
suông mà thôi. Luôn luôn, quán như thế, để được giải
thoát ra khỏi sự chấp Pháp, như thế gọi là "Giải thoát
tri kiến hương" cúng Phật.
4.-
Cúng dường Pháp bảo: Pháp bảo là các Pháp của Phật đã
giảng dạy, để cho chúng sanh y theo đó mà tu hành. Muốn cúng
dường Pháp bảo, trước hết chúng ta phải học Kinh, Luật,
Luận va nghiên cứu giáo lý để nhận định thế nào là Pháp
bảo, là chánh giáo. Nếu chúng ta có học thực rộng thì phải
nghĩ đến việc phiên dịch các Kinh điển Ngoại ngữ ra Việt
ngữ để hoàn thành một bộ Tam Tạng Việt Nam, chúng ta có
thể giúp vào việc hoằng pháp lợi sanh bằng sự diễn giảng
hay sáng tác những vấn đề có liên quan đến Phật pháp.
Nếu chúng ta có tài chánh thì nên xuất tiền ra ấn tống
hay xuất bản Kinh điển để phổ thông Pháp bảo. Những việc
làm như trên đều là cúng đường Pháp bảo cả.
5.-
Cúng dường Tăng bảo: Nếu chúng ta đã thành tâm thờ cúng
Phật, thì tất nhiên chúng ta phải kính trọng Tăng. Chư Tăng
đã thay Phật mà truyền giáo lý của Ngài lại cho chúng ta,
lẽ nào chúng ta lại làm ngơ không biết đến? Chúng ta không
nên phân biệt Tăng ở xứ nào, chùa nào hay phái nào. Vị
Tăng nào có đủ giới đức chúng ta cũng sẵn sàng cung phụng
cả, như thế gọi là cúng dường Tăng bảo.
C.-
Kết Luận:
1.-
Lợi ích của sự thơ lạy và cúng Phật. Như các đoạn trên
đã nói, chúng ta thờ lạy và cúng Phật là do lòng tri ân
sâu xa của chúng ta đối với bậc đã hy sinh tất cả hạnh
phúc vĩnh cửu cho chúng sanh; Lý do thứ hai của sự thờ lạy
và cúng, ấy là để cho chúng ta luôn luôn có trước mắt,
trên đầu chúng ta, một cái gương mẫu hoàn toàn chân, thiện,
mỹ để noi theo. Sự thờ lạy và cúng Phật, nếu thực hành
một cách thành tâm, thiện chí và đúng ý nghĩa, thì sẽ đem
lại cho người rất nhiều lợi ích trong hiện tại và vị
lai:
a)
Trong hiện tại: mỗi chúng ta và gia đình chúng ta, bao giờ
cũng như sống trong bầu không khí xán lạn, trong ảnh hưởng
tốt lành, đạo vị của Chư Phật. Chúng ta luôn luôn sống
trong nghiêm chỉnh, trong lễ nghi, trên thuẫn dưới hòa, vì
mỗi ý nghĩ, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của chúng ta đều
được đôi mắt sáng suốt của Ðức Phật soi xuống. Chúng
ta không dám sống bừa bãi, làm xằng, nghĩ quấy khi Ðức
Phật đang ngự trị trong gia đình và trong lòng mỗi chúng
ta. Chỉ những tâm hồn trống rổng, không tin tưởng, không
tôn thờ một vị thiêng liêng cao cả nào, mới dễ sa ngã,
trụy lạc. Cho nên trong gia đình, nếu muốn có hạnh phúc
trong hiện tại, muốn sống một đời sống có ý nghĩa, muốn
con em đừng bê tha, trụy lạc, thì người gia chủ nên thiết
bàn Phật, để ngày ngày lễ bái và cúng dường Ngài và tập
cho con em sống một đời sống hiền lương và có đạo vị.
b)
Khi lâm chung: Nghiệp lành mà chúng ta đã huân tập trong hằng
ngày sẽ cảm ứng đến lòng từ bi vô hạn của Chư Phật
và Bồ tát. Do "Luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương
cầu", Chư Phật và Bồtát s sẽ phóng quang đến tiếp dẫn
giác linh chúng ta về cõi Tịnh độ an vui, tự tại.
2.-
Khuyên phát tâm chánh tín trong sự thờ, lạy và cúng Phật,
Pháp, Tăng. Muốn có được kết qủa tốt đẹp như trên,
chúng ta phải phát tâm chánh tín. Nếu thờ, lạy và cúng dường
Ram bảo một cách sai lạc thì không những không ích lợi gì
cho ta mà lại còn mang thêm tội, và trôi lăn mãi trong cảnh
sanh tử luân hồi. Chúng ta phải tin tưởng một cách mạnh
mẽ rằng:
a)
Ðức Phật là bậc hoàn toàn gíac ngộ, siêu sanh, thoát tử,
có năng lực độ thoát chúng sanh khỏi nẻo luân hồi, và
xứng đáng làm thầy chúng sanh trong ba cõi. Vì thế nên chúng
ta thờ Ngài.
b)
Phật pháp là phương thuốc thần diệu, trừ được tất cả
nguyên nhân đau khổ của chúng sanh; vì thế cho nên chúng ta
thờ Phật pháp.
c)
Chư Tăng, nếu có đủ giới hạnh thanh tịnh, là những Thầy
sáng, bạn lành của chúng ta. Vì thế, chúng ta kính thờ, thân
cận các Ngài để học hỏi đường lối tu hành.
d)
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sáng suốt, nếu chí
tâm tu tập theo Phật pháp, thì chắc chắn sẽ thành Phật.
e)
Lý nhân qủa không hề sai chạy, nếu tâo nhân lành thì hưởng
qủa tốt. Trong các nhân lành, không có nhân lành nào thù thắng
hơn là nhân "Thờ Phật, lạy Phật, và cúng dường Tam Bảo",
đủ cả sự và lý. Vẫn biết thờ, lạy và cúng phật đủ
cả hai phương diện sự và lý là khó, nhưng chung quanh chúng
ta, ở trong thế giới này sẵn có vô lượng vô biên kim cương
Bồtát và Hộ pháp thần vương, đồng phát tâm giúp đỡ,
hộ niệm cho tất cả những người phát tâm chánh tínm thờ
cúng Phật, thì lo gì công của chúng ta không tròn, qủa của
chúng ta không mãn?