Mục
Lục Khóa Thứ Hai
Thiên
Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 3
Vô
Thường
A.
Mở Ðề
Lòng
tham lam của con người ôm ấp bám víu mãi mãi vào sự vật
Chúng
ta, đã là chúng sinh, thì ít nhiều đều có tham vọng. Lòng
tham vọng ấy bám víu chặt chẽ vào sự vật mà chúng ta đã
cấu tạo, nắm bắt được. Chúng ta chỉ buông thả chúng
ra, sau khi trút hơi thở cuối cùng. Nói cho đúng, không phải
đến phút cuối cùng chúng ta mới chịu buông thả mọi vật;
chúng ta vẫn cứ muốn nắm giữ chúng mãi, nhưng chính chúng
đã rời bỏ chúng ta mà đi. Chúng ta đã bất lực, không còn
đủ hơi sức để nắm giữ chúng nữa, nên đành buông xuôi
tay để chúng tuông đi, chứ nếu còn hơi sức, chúng ta vẫn
còn muốn nắm lại và giam giữ một cách tuyệt vọng những
gì đã nắm được. Suốt đời, chúng ta vẫn lặp đi lặp
lại mãi cái cử chỉ nắm bắt, giữ gìn ấy. Và suốt đời
biết bao nhiêu lần chúng ta đã đau khổ, thất vọng, vì mọi
sự vật ở đời không bao giờ chiều theo ý muốn của chúng
ta mà chịu ở yên một chỗ. Mọi sự vật đều luôn luôn
biến chuyển, đổi thay, nay đây mai đó, như một anh chàng
lãng tử, như một dòng sông, như một đám mây, như một vó
ngựa ! Thời gian trôi qua như thế nào, thì mọi vật cũng
trôi qua như thế ấy. Noió theo danh từ nhà Phật , thì sự
biến chuyển, đổi thay ấy là luật Vô thường.
B.
Chánh Ðề
1.
Ðịnh Nghĩa
Vô
thường là thế nào? Hãy nghe đức Phật dạy: "Tất cả những
gì trong thế gian đã là biến đổi, hư hoại, đều là Vô
thường". Vậy Vô thường nghĩa là không thường, không mãi
mãi ở yên trong một trạng thái nhất định; luôn luôn thay
hình đổi dạng; đi từ trạng thái hình thành đến biến
đi rồi tan rã...Ðạo Phật gọi những giai đoạn thay đổi
của một vật là: thành, trụ, hoại, không (hay sanh, trụ,
dị, diệt). Như một làn sóng, khi mới nhô lên gọi là thành
(hay sanh) khi nhô lên cao nhất thì gọi là trụ; khi hạ dần
xuống thì gọi là hoại (hay dị), khi tan rã thì gọi là không
(hay diệt). Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt
cát, đến lớn như trăng sao, đều phải tuân theo bốn giai
đoạn ấy cả, nên gọi là Vô thường.
Ðể
có một ý niệm rõ ràng hơn về sự Vô thường, chúng ta hãy
quan sát, suy nghiệm ngay cái thân chúng ta, cái tâm chúng ta
và cái hoàn cảnh chúng ta đang sống, thì sẽ biết.
II.
Thân Vô Thường
"Thân
tôi mạnh khỏe luôn, trẻ đẹp mãi, và đời tôi là cả một
bài thơ.."Ấy là quan niệm nông nỗi của một số nam nữ
thanh niên, quá yêu chuộng thân thể họ trẻ mãi, hay nếu
có già, thì cũng còn lâu lắm, không ngờ rằng nó già, nó
chết, từng giây từng phút. Câu thơ sau đây của người xưa
thật đã nói lên được sự thay đổi mau chóng của thân
ta:
"Quân
bất kiến cao đường minh cảnh bi bạch phát ! Triêu như thanh
ti, mộ như tuyết?"
"Anh
không thấy cha già soi gương buồng tóc bạc !
Sớm
còn như tơ xanh, tối đã trắng như tuyết"
Khoa
học đã chứng minh rằng, trong thân thể ta, các tế bào thay
đổi luôn, và trong mỗi thời kỳ 7 năm, là các tế bào cũ
hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi ấy làm cho thân thể chóng
lớn, chóng già và chóng chết. Thân năm trước không phải
thân năm nay, thân ban mai không phải thân buổi chiều, mỗi
phút giây trong thân ta đều có sanh và có chết. Sau đây là
một câu chuyện rất có ý nghĩa để chứng minh sự Vô thường
của thân xác:
Một
người bộ hành lỡ đường vào trọ trong một ngôi nàh bỏ
hoang. Ðêm đến, anh ấy thấy một con quỷ tóc xanh, vác một
cái thây ma mới chết vào, định xé xác ra ăn. Bỗng một
con quỷ khác, tóc đỏ, xô cửa bước vào. Hai con quỷ tranh
nhau cái xác chết, con nào cũng nói của mình bắt được trước.
Chúng sắp xăn tay áo đánh giết nhau, để giành cái xác. Bỗng
chúng nhìn thấy anh chàng bộ hành đang nằm run sợ trong góc
phòng; chúng vội vã kéo anh ta ra làm trọng tài, hỏi xem trong
hai chúng, ai là kẻ đáng làm chủ cái xác. Anh bộ hành sợ
hãi quá, nhưng cứ tình thật nói rằng: cái xác thuộc về
con quỷ tóc xanh vì chính anh ta thấy nó mang xác vào trước.
Con quỷ tóc xanh được xác, mừng rở cảm ơn rối tít anh
bộ hành; nhưng con quỷ tóc đỏ mất miếng mồi ngon, tức
giận lôi đầu anh ta ra quyết ăn tươi nuốt sống cho hả
giận. Nó đè anh ta xuống, rứt một cánh tay bỏ vào miệng
nhai ngấu nghiến...Con quỷ tóc xanh thấy thương tình anh bộ
hành và để tỏ lòng tri ân, rứt cánh tay của cái xác chết
lắp vào cho anh ta. Con quỷ tóc đỏ lại rứt cánh tay kia của
anh bộ hành ăn tiếp; và con quỷ tóc xanh chắp tay của xác
chết vào cho anh ta. Cứ như thế, hể con quỷ tóc đỏ rứt
một phần nào trong thân thể anh bộ hành để ăn, thì con
quỷ tóc xanh lại lấy một phần của thây ma điền vào cho
thân anh ta...Sau khi ăn hết cả thân thể của anh bộ hành,
con qủy chùi miệng đầy máu me, rồi bỏ ra đi. Con quỷ tóc
xanh cũng đi theo.
Anh
bộ hành bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn ác mộng và cứ
phân vân tự hỏi: không biết cái thân hiện tại anh đang
mang đó là của anh hay của ai?
Câu
chuyện trên chứng minh cho chúng ta thấy từ khi sanh cho đến
khi chết, thân ta đã không biết bao lần thay đổi; và cái
xác khi người ta dặt vào quan tài, thật không còn gì giống
với cái thân khi mới sơ sanh.
Dòng
nước hôm qua của con sông Ðồng Nai chẳng hạn, ngó bề ngoài
thì không khác gì dòng nước hôm nay; nhưng nước hôm qua,
bây giờ có lẽ đã hòa với nước mặn ở ngoài Ðại dương
và nước hôm nay chính là nước khác ở nguồn mới chảy
về đây. Thân người cũng vậy, "hằng chuyển như bọc lưu"
(chảy luôn như nước lũ).
Nhưng
khổ thay ! Có phải nó thay một cái này để đổi lấy một
cái khác, giống y như cái trước đâu ! Một tế bào nầy
mất di, một tế bào khác thế lại, nhưng tế bào trước
trẻ hơn tế bào sau; tế bào sau già hơn tế bào vừa được
kế tiếp...Và cứ như thế mà thân người đi từ trẻ đến
già, từ sống đến chết !
Ðức
Phật , lúc còn là một Thái Tử, đã than với bà Da Du trong
cung vui, khi nghĩ đến Vô thường của thân người.
"...Chúng
ta sẽ già yếu và xấu xa. Thời gian sẽ phủ lên đầu chúng
ta những lớp tro bạc. Ôi! mắt trong của em rồi sẽ mờ đục
! Môi đỏ của em rồi sẽ úa màu !...Ta nghe trong ta, trong em
và trong cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ, dưới sức
tàn phá cảu búa thời gian, tất cả những gì quý báu của
đời người...chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng, những
bảo vật ở trong ta, như ôm giữ một cái bóng, như nắm bắt
một làn hương !".
Trí
huệ thay ! Con người cao sang và đang trẻ đẹp, bên cạnh
lại có vợ hiền sớm hôm hầu hạ, thế mà vẫn đủ sáng
suốt, để nhìn thấy luật đẹp của đời người ! Những
lời thống thiết ấy, chanửg những đã cảnh tỉnh Công chúa
Da Du, mà còn đánh thức những ai còn say đắm trong cảnh đời
giả tạm, cảnh sanh, già, bệnh, chết, là hiện thân của
luật Vô thường. Có thân thì phải chịu công lệ sanh già
bệnh chết, không thể tồn tại mãi được. Ðức Lão Tử
cũng đã nhận thấy thân là nguồn tội lỗi, là gốc khổ
đau, nên đã thốt ra câu:
"Ngô
hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân,
Ngô
nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?"
(Ta
có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân,
Nếu
ta không thân thì đâu khổ gì?)
Thân
là Vô thường, thế mà lắm người vì muốn trao dồi, bồi
bổ, cung phụng xác thân đến nỗi gây biết bao tội ác ghê
ghớm ! Vì muốn được thích khẩu, bổ thân, mà lắm người
đành tay giết hại nhứng con vật yếu hèn và hành hình những
con vật vô tội trước khi chết một cách rùng rợn. Ðọc
lịch sử, nghe Tần thỉ Hoàng ăn óc khỉ sống, ta đã cảm
thông được nỗi đau đớn những con vật bị giết, thế
mà người dự tiệc vẫn vui cười sung sướng, không đoái
hoài đén tiếng rên xiết, kêu la, vùng vẫy cảu chúng, thì
thật là độc ác đến chừng nào ! Lòng trắc ẩn của người
ở đâu? Hỡi ôi ! Hung ác và thâm hiểm thay, lòng dạ của
con người !
Vì
tham lam làm vẩn đục, tối tăm lương tri, nên con người không
thấy rõ được lý Vô thường của thân xác và mới nỡ tâm
làm điều tán ác như thế !
III.
Tâm Vô Thường
Thân
đã Vô thường, nhưng còn tâm niệm có thường không? Tâm
niệm cũng âm thầm dời đổi, lại có phần mau lẹ và vi
tế hơn, nếu chúng ta không nhìn sâu vào, ắt khó mà thấy
được.
Tâm
niệm chúng ta thay đổi trong từng phút giây, theo với ngoại
cảnh: chúng ta buồn đó rồi vui đó, thương đó rồi giận
đó. Phút trước ta nhớ chuyện nầy, phút sau ta nghĩ chuyện
khác. Hôm qua ta tinh tiến tu hành, hôm nay đã ưu phiền thổi
chuyển. Thật đúng như đức Phật đã nói:
"Tâm
người như vượn chuyền cây,
Như
ngựa rông nơi đồng nội.."
Tâm
niệm ta sanh diệt trong từnh sát na; và chính vì nó sinh diệt
mau lẹ như thế, nên ta có cảm tưởng như nó không thay đổi
gì cả. Ðối với một đứa trẻ con, nếu chúng ta bảo rằng
những hình ảnh cử động in như thật trên màn bạc, là do
sự tiếp nối những tấm phim, ảnh hiện lên rồi biến mất,
để nhường chỗ cho những tấm ảnh khác, trước ngọn đèn
chiếu..nếu ta bảo như thế với một đứa bé, chắc nó không
tin, vì nó chưa hiểu được cái công dụng của tốc lực.
Cũng như thế đó, tâm ta được cấu tạo bởi từng niệm
sanh diệt, như ng vì chúng ta không nhận được sự biến chuyển
mau lẹ của nó, nên ta cứ tưởng là nó đơn thuần và bất
biến. Cái ta phút trước phải đâu là cái ta phút nầy? Và
cái ta phút nầy đâu còn là cái ta phút sau? Vậy cái ta nào
là cái ta thật? Cái ta phút trước, cái ta phút nầy hay cái
ta phút sau? Một nhà thi sĩ dã hỏi một câu có vẻ ngớ ngẩn
nhưng nghĩ ký thật là vô cùng sâu sắc:
"Ai
bảo giùm: ta có ta không?"
Cái
ta (hay cái tâm cũng thế) Vô thường tạm bợ, giả tạo như
thế, thế mà người đời cứ cho nó là trung tâm điểm của
vũ trụ, bám víu vào nó, nhơn danh nó để tham lam, vơ vét
tài sản, danh lợi ở chung quanh, và dù có dẫm đạp lên hạnh
phúc của kẻ khác, gây bao đau thương cho người đồng loại,
cũng mặc ! Thật mêm mờ lắm thay !
IV.
Hoàn Cảnh Vô Thường
Như
trên chúng ta đã thấy luật Vô thường ở khắp mọi nơi,
chẳng những thân, tâm là Vô thường, mà hoàn cảnh, sơn hà
đại địa, cũng Vô thường nữa.
Sách
thường có câu:
"Thương
hải, tang điền" (Bãi biển nương dâu)
Câu
ấy mới nghe như là một hình ảnh bóng bẩy về văn chương;
nhưng thật ra, đó là một nhận xét rất đúng trong thực
tế. Chúng ta, thường lầm tưởng chỉ có sinh vật là biến
đổi và mau già chết, chứ những vật lớn lao như núi sông,
đất cát, thì muôn đời cũng vẫn ở yên một chỗ. Nhưng
chúng ta đã lầm, sông núi cũng có cái già cái trẻl đất
cát cũng có khi lở khi bồi. Không có vật gì là vĩnh vin tồn
tại. Tục ngữ ta có nhiều câu nói lên được sự Vô thường
của sự vật một cách rất thâm thúy như: "Vật đổi, sao
dời" hay "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời".
Thật
thế, một đời của chúng ta đã chững kiến biết bao sự
thăng trầm, vinh nhục, lên voi xuống chó. Giàu nghèo, sang hèn
tiếp tục din ra trước mắt chúng ta như một bức tranh vân
cẩu, như một khúc phim trong rạp chiếu bóng. Bao nhiêu người,
trước đây, nào dinh thự nguy nga, ruộng vườn cò bay thẳng
cánh, thế mà sau một cơn binh lửa, sự nghiệp bỗng tan tành
như mây khói ! Bao nhiêu người quyền cao, chức trọng hống
hách, nghinh ngang, thế mà một phút sa cơ thất thế, bỗng
trở thành những kẻ tha phương cầu thực, hay vướng cảnh
tù đày !
Sự
Vô thường đã sờ sờ trước mắt, thế mà có biết bao nhiêu
người vẫn chưa tỉnh ngộ, cứ đeo đuổi bám víu vào những
cái hào nhoáng nhất thời ấy. Kẻ bán tước, người mua quan,
kẻ tham danh người ham lợi...gây biết bao trò cười cho khách
bàng quan, và bày ra lắm cảnh nhọc nhằn cho người trong cuộc.
Thuở
xưa, có một ông vua, sau khi đi dạo khắp phố phường, thấy
nhân dân giàu có sung túc, mới sanh lòng tham lam, muốn sung
công bớt tài sản của họ, để bỏ vào kho. Nhà vua liền
ra lệnh ai có của phải nạp bớt cho triều đình.
Lịnh
truyền ra, nhà nhà đều công phẫn, nhưng biết kêu ca với
ai bây giờ? Trong lúc ấy, có một người lái buôn, muốn thức
tỉnh nhà vua, nên đánh bạo đem hết tài sản về kinh đô,
đến giữa trào, dâng lên vua và tâu rằng:
Hạ
thần xin dâng hết tài sản cho triều đình
Vua
ngạc nhiên phán hỏi:
Ta
chỉ thâu một phần thôi, sao ngươi lại dâng hết cả như
thế?
Tâu,
vì hạ thần nghĩ của này không phải của Hạ thần, mà là
của 5 nhà: nước trôi, lửa cháy, giặc cướp, sung công và
vợ con phá tán. hạ thần dù cố sức giữu gìn thế nào đi
nữa, cũng không khỏi bị một trong 5 nhà ấy chiếm đoạt.
Vì thế hạ thần xin dâng hết, không giữ làm gì, để về
sau khỏi khổ sở vì nó. Mong Hoàng thượng nhận hết cho,
hạ thần rất cảm tạ ơn sâu ấy.
Sau
khi nghe lời tâu của người lái buôn, nhà vua ngẫm nghĩ hồi
lâu, chợt tỉnh ngộ, cat thẹn và thầm bảo: "Người nầy
đến dạy khôn cho ta. Giang sơn cẩm tú của ta, ta có giữu
gìn được lâu dài không? Hay sẽ bị năm nhà, mà người lái
buôn vừa nói, đoạt mất? Giang sơn còn chưa giữ được,
huống hồ tài sản của nhân dân ! Người ấy là ân nhân
của ta, nếu không có người đem ánh sáng thức tỉnh ta, thì
ta sẽ làm một việc rất tàn ác".
Suy
nghĩ xong, vua bèn hạ lệnh ngưng sung công, lại còn xuất tiền
phát cho dân nghèo nữa. Thật là một mẩu chuyện quý báu,
để thức tỉnh những ai đang còn chìm đắm trong vòng danh
lợi, đang gây đau khổ cho mình và những người chung quanh,
vì chưa nhận chân được lẽ vô thường của hoàn cảnh.
V.
Quyết Ðịnh
Có
người nghi rằng: Ðạo Phật nói vô thường, phải chăng vô
tình gieo vào lòng mọi người những quan niệm chán đời thối
chí? Vì sự vật đã vô thường thì không nên làm gì cả,
có siêng năng hoạt động kinh doanh sự nghiệp rồi cũng không
đi đến đâu cả. Tro bụi, người sẽ trở thành tro bụi
hay sao?
Xin
đáp: Vô thường của đạo Phật là một phương pháp chỉ
rõ mặt trái của đời, để bài trừ những sự mê lầm,
ngăn chặn người chạy theo vật dục, nó chưa phải là thuyết
tuyệt đối.
Ðức
Phật cũng như vị lương y tùy theo chứng bệnh mà cho thuốc.
Với bịnh "chấp thường còn không mất", thì dùng phương
thuốc "vô thường" để đối trị, khi lành bịnh thì Phật
lại cho thứ thuốc bổ khác quí báu hơn, là "thuyết chơn
thường bất biến". Theo kinh Lăng Nghiêm, Ngài A Nan cũng lầm
như chúng ta, cho nên đức Phật bảo Ngài La Hầu La đánh chuông
để chỉ bày cho Ngài A Nan phân biệt cái "biến đổi tiêu
diệt", và cái "thường còn không thay đổi". Khi tiếng chuông
do Ngài La Hầu La đánh ngân lên, đức Phật hỏi Ngài A Nan
có nghe không?
Ngài
A Nan đáp:
Bạch
Thế Tôn ! Nghe.
Khi
tiếng chuông dứt, Phật lại hỏi:
A Nan
có nghe chăng?
Ngài
A Nan đáp:
Bạch
Thế Tôn ! Không còn nghe nữa. Ðức Phật lại bảo Ngài La
Hầu La, đánh tiếng chuông thứ hai, rồi Phật cũng hỏi như
lần trước, và Ngài A Nan cũng đáp có nghe.
Ðức
Phật quở:
A Nan,
sau ông trả lời lẩn quẩn như thế?
Ngài
A Nan ngạc nhiên; đáp:
Chẳng
những một mình con mà mọi người ai cũng thừa nhận có tiếng
thì có nghe, tiếng dứt thì không còn nghe.
Ðức
Phật gạn lại:
"Ông
và mọi người đều cho có tiếng là có nghe, tiếng dứt,
thì không có nghe nữa; thế là "tánh nghe" theo tiếng mà mất,
thì có lẽ không bao giờ nghe nữa. Tại sao lúc tiếng thứ
hai ngân lên, lại còn nghe nữa ? Nếu nghe được tiếng thứ
hai, thì nhất định biết không phải tiếng dứt mà không
nghe. Tiếng có lúc còn lúc mất, "tánh nghe" vẫn thường không
dời đổi. Vả lại, nếu tiếng dứt rồi mà tánh nghe không
còn, thì cái gì biết được sự không nghe ấy?"
Cho
biết, Phật dạy "vô thường" để đối trị chấp thường
còn của chúng sanh. Ðến khi chúng sanh đã hiểu lẽ vô thường,
thì Phật lại chỉ bày lẽ chơn thường bất biến.
C.
Kết Luận
Vô
thường là một định luật chi phối tất cả sự vật, từ
thân, tâm cho đến mọi hoàn cảnh. Hiểu lý vô thường, chúng
ta đã có một phương thuốc thần diệu để trừ bệnh tham
ái, mê mờ. Chúng ta đã đau khổ vì màu sắc tốt xấu, vì
tiếng dở hay, vì mùi vị ngọt bùi, cay đắng, vì vật thích
thân, vừa ý. Nay chúng ta uống thuốc "giáo lý vô thường",
để trừ bịnh tham ái và tiến tới sự an tịnh của tâm
hồn.
Biết
được vô thường, con người giữ được bình tỉnh
thản nhiên trước cảnh đổi thay bất ngờ và có thể lạnh
lùng trước cảnh ân ái chia ly. Biết vô thường, con người
dám hy sinh tài sản, sanh mạng để làm việc nghĩa. Biết vô
thường con người mới chán ngán với những thú vui tạm bợ,
giả trá, và sáng suốt đi tìm những cái vui chân thật thường
còn. Vì thật ra, cái vui chân thật thường còn, cái tánh chân
thường vẫn có, nhưng nó nằm bên trong cái lớp giả dối
tạm bợ; vô thường của cõi đời nầy, nên chúng ta không
thể thấy được. Khi chúng ta đã cương quyết gạt bỏ cái
vỏ giả dối ấy, thì tất nhiên cái giá trị chơn thật,
cái hạnh phúc chơn chính, cái Phật tánh sáng suốt, chắc
thật muôn đời sẽ hiện ra.