Mục
Lục Khóa Thứ Tư
Duyên
Giác và Bồ Tát Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 7 (tt)
Ðộ
thứ tư: Nhẫn Nhục Ba La mật
A.
Mở Ðề
Kinh
Hoa Nghiêm có nói: "Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng
môn khai" (một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn
muôn tức cửa nghiệp chướng đều mở ra). Thật vậy, lắm
người vì một phút không dằn được cơn tức giận, mà đánh
đập vợ con đến tàn tật, đốt phá của cải quý báu của
ông cha để lại, rồi phải ân hận suốt đời. Lắm lúc,
vì không làm chủ được tánh nóng nẩy mà tình cốt nhục
phải chia ly, nghĩa vợ chồng phải phân rẽ, bạn chí thân
trở thành kẻ oán thù...
Người
học đạo cũng vậy, nếu gặp nghịch cảnh không nhẫn nhịn
được, thối chí nản lòng, đôi khi phải bị đọa đày.
Như ông Ðộc giác tiên nhân, vì một niệm sân hận không
nhẫn được, mà phải bị mất năm pháp thần thông. Ông Uất
đầu lam phất, vì sân hận mà phải đọa làm loài phi ly trùng
(chồn bay). Nên sách có nói: "Nhất sân chi hỏa năng thiêu
vạn khoảnh công đức chi sơn" (Nghĩa là một đóm lửa sân,
có thể đốt tan muôn mẫu rừng công đức).
Vậy
muốn trừ sân hận một cách có hiệu quả, phải tu pháp Nhẫn
nhục Ba la mật.
B.
Chánh Ðề
I.
Ðịnh Nghĩa
"Nhẫn"
là nhịn, chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch lòng. "Nhục"
là điều sỉ nhục, điều xấu hổ, làm tổn thương đến
lòng tự ái của mình.
Nhẫn
nhục Ba la mật là nhẫn nhục đến chỗ cùng tột không còn
ai có thể nhẫn nhụ hơn thế nữa.
II.
Thành Phần Của Nhẫn Nhục Ba La mật
1.
Thân nhẫn. Ðối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh,
đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ,
làm bức não nơi thân, mình cũng cam chịu, không phàn nàn hay
chống cự lại. Ðay là chịu đựng về thể xác.
2.
Khấu nhẫn. Thân đã nhẫn chịu không chống lại người và
miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rủa độc ác,
trước những lời ma nhục chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay
đánh dập tàn nhẫn.
3.
Ý nhẫn. Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán
giận, không nổi lên ý phản đối, những tư tưởng hắc
ám để trả thù.
Trong
ba thứ nhẫn này, "ý nhẫn" là khó nhất và quan trọng nhất.
Có nhiều khi thân có thể chịu đựng được cụac hình, nhưng
miệng vẫn lẩm bẩm nguyền rủa. Thêm một lần nữa, miệng
tuy không thốt ra những lời phản đối, nguyền rủa, nhưng
ý vẫn ngấm ngầm phản đối, và tức giận đốt cháy tim
gan.
Ðến
khi "tâm ý" cũng không ngấm ngầm nổi dậy phản đối, sự
tức giận lắng xuống tận đáy lòng; đứng trước mọi nghịch
cảnh, lòng vẫn phẳng lặng như không, thì nhẫn nhục mới
thật là hoàn toàn.
Nếu
bên trong vẫn chưa nhẫn được, thì thế nào giận giữ cũng
có ngày xuất hiện ra trong lời nói và hành động.
III.
Phải Nhẫn Nhục Như Thế Nào Mới Ðúng Chánh Pháp?
1.
Nhẫn nhục có chấp tướng. Nhẫn nhục vì sợ quyền thế;
Nhẫn nhục vì đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi chưa thể
trả thù được; Nhẫn nhục để mong cầu được người khen,
hay được chức trọng, quyền cao; Nhẫn nhục vì khinh bỉ
đối thủ, hay tự cho mình cao hơn người, không thèm chấp
nê, phản đối. Nhẫn nhục như thế là Nhẫn nhục chấp tướng
vì còn do dục vọng tham, sân, si, mạn thúc đẩy, chưa phải
là Nhẫn nhục Ba la mật.
2.
Nhẫn nhục không chấp tướng. Người tu hạnh Nhẫn nhục
ba la mật, trước hết phải do ý muốn diệt trừ lòng sân
hận, kiêu mạn, tất đố, tự ái, tham lam...Nếu có người
chửi mắng, mình phải bình tĩnh tự nghĩ rằng: "Ta có làm
điều gì sái quấy không? Nếu có, thì ta bị sỉ nhục là
phải, ta nên cảm ơn người. Nếu ta trong trắng, thì những
lời sỉ nhục ấy có dính líu gì đến ta đâu, mà phải khổ
tâm nghĩ đến?"
Hơn
nữa, người tu Nhẫn nhục còn nhắm much đích trao dồi lòng
từ bi và hỷ xả, ta Nhẫn nhục không oán giận, không trả
thù là vì ta thương người, ta muốn xem mọi người như thân
thuộc anh em. ta Nhẫn nhục vì ta không muốn cuộc đời là
một đấu trường, một bãi chiến, một lò lửa của sân
hận, đốt thiêu tất cả.
Chúng
ta hãy tập cho được Nhẫn nhục như ông Purna trong câu chuyện
sau đây: "Khi Phật còn tại thế, một Ðệ tử của Phật,
ông Purna xin Phật đi qua truyền đạo tại xứ Chronaparanta,
là một xứ có tiếng rất hung ác. Phật hỏi ông Purna:
Ông
đã phát nguyện đem đạo pháp của ta đến truyền bá cho
dân xứ ấy, nhưng nếu ho không nghe, lại còn dùng lời hung
ác mắng chửi ông, thì ông nghĩ sao?
Bạch
Thế tôn, con nghĩa: Họ là người tốt, vì họ không dùng
cây đánh đập con, hay lấy đá ném con.
Phật
hỏi tiếp:
Nếu
họ lấy cây đánh ông, hay dùng đá ném ông, thì ông nghĩ
sao?
Bạch
Thế tôn, con nghĩ: Họ vẫn còn lòng nhân, vì họ không chém
giết hay đập con đến chết.
Phật
lại hỏi:
Nếu
họ chém giết hoặc đánh chết ông thì ông nghĩ sao?
Bạch
Thế tôn, con nghĩ: Họ là ân nhân của con, vì nhờ họ mà
con thoát được thân đau khổ, bỏ được bọc thúi tha, từ
biệt đời sống khốn nạn này.
Ðức
Phật khen:
Hay
lắm ! Ông nhẫn nhục được như vậy thì mới có thể qua
xứ ấy truyền đạo được !
Ông
Purna qua xứ Chronaparanta truyền đạo không bao lâu, dân chúng
xứ ấy đeù qui đầu Phật pháp cả.
Nhẫn
nhục như ông Purna mới thật đúng là Nhẫn nhục Ba la mật,
nghĩa là nhẫn từ ngoài thân đến trong tâm, nhẫn mà không
thấy mình nhẫn và cảnh nhục để nhẫn.
IV.
Công Ðức Của Pháp Nhẫn Nhục Ba La mật
Như
đoạn mở đầu đã nói, lửa sân hận có thể đốt thiêu
tất cả những gì quí báu, nà loài người đã xây dựng được
trên thế giới này. Lửa sân hận chỉ có thể bị dập tắt
bằng nước Nhẫn nhục Ba la mật.
Không
Nhẫn nhục thì gia đình ly tán, bạn hữu chia lìa, tó thầy
đoạn tuyệt, đồng bào xung đột, thế giới chiến tranh.
Có
Nhẫn nhục thì gia đình sum họp, bạn hữu tương thân, tớ
thầy trung tín, đồng bào đoàn kết, thế giới hòa bình.
Riêng đối với bản thân, không Nhẫn nhục thì lửa giận
thiêu đốt lòng mình và dục vọng hoàng hành, sự nghiệp
tiêu tan, mọi người xa lánh, đạo quả khó tròn.
Có
Nhẫn nhục thì lòng từ chan chứa, thanh tịnh tràn lan, sự
nghiệp dâng cao, người người quí trọng, đạo quả viên
thành.
Vì
nhận thấy công đức lớn lao và quí báu của Nhẫn nhục
cho nên cổ nhân đã có nhắn nhủ với người đời một cách
mạnh mẽ như sau:
Nhẫn
nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận
Nhiêu
nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu
Mặc
mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc
Hưu
hưu hưu, cái thể công danh bất tự do
Nghĩa
là:
Nhẫn
nhẫn nhẫn (thân nhẫn, miệng nhẫn, tâm nhẫn)
thì
những điều trái chủ oan gia từ đây dứt hết.
Nhịn
nhịn nhịn (thân nín, miệng nín, tâm nín) thì cảnh giới
thần tiên vô hạn cũng do đay mà được.
Thôi
thôi thôi (thân, miệng, tâm đều thôi) thì những công danh
cái thế không còn tự do.
C.
Kết Luận:
Chúng
ta không còn nghi ngờ gì nữa giá trị và công đức lớn lao,
quý báu của nhẫn nhục. Giờ đây chúng ta chỉ còn quyết
tâm thực hành ngay pháp môn này. Nhất là đối với Phật
tử nào đã nhiều lần bị lửa giận tàn phá tâm can, gia
đình và sự nghiệp của mình, hãy mau mau tu tập pháp nhẫn
nhục này. Ðừng để phải ăn năn, hối tiếc và khổ đau
thêm một lần nữa vì lửa nóng giận.
Kẻ
tu hành lại càng gấp rút thực hành pháp môn này. Không có
gì taio hại cho sự nghiệp tu hành của mình mà làm cho người
chung quanh khinh lờn, xa lánh bằng sự nóng giận, cọc cằn
nơi một kẻ xuất gia cầu đạo. Dù những người ấy có
tinh thông kinh điển bao nhiêu, tu hành bao nhiêu ,mà khi thấy
nét mặt họ đỏ gay, giọng nói họ quát tháo, cử chỉ họ
mất tự chủ, thì người chung quanh không còn tin tưởng ở
sự tu hành của họ nữa, vì sự nóng giận tố cáo họ một
cách hùng hồn.
Chúng
tôi tưởng không cần phải nói nhiều hơn nữa về những
tai hại của giần dữ; vì chắc rằng những ai đã có lần
giận dữ cũng đã thấy rõ như thế rồi.
Ðể
kết luận bài này, chúng tôi chân thành cầu mong cho mọi người
cùng chúng tôi, đều thật hành pháp môn nhẫn nhục này một
cách co hiệu quả, để cõi đời thêm phần an lạc