Mục
Lục Khóa Thứ Tư
Duyên
Giác và Bồ Tát Thừa Phật Giáo
Lời
Chỉ Dẫn Tổng Quát
(Cho
Trọn Khóa Thứ Tư)
Khóa
này cũng như các khóa trước, gồm cả thảy 10 bài giảng
chia ra như sau:
Năm
bài giảng về "Ngũ đình tâm quán".
Ba
bài giảng về "Lục độ" hay "Sáu phép Ba La Mật".
Hai
bài giảng về "Tứ vô lượng tâm" và "Ngũ minh".
Trong
10 bài ấy, trừ bài Ngũ minh là bài giảng có tánh cách khái
quát về những sự hiểu biết cần thiết mà một Phật tử
chân chính cần phải trao dồi và thực hành để làm lợi
cho Ðạo và nhân quần xã hội; còn 9 bài giảng trước đều
nói về các phép tu.
Các
phép tu này sẽ được giảng giải rõ ràng ở các bài sau.
Nhưng ngay bây giờ để quí vị có một ý niệm tổng quát
về trọn khóa thứ tư, chúng tôi xin trình bày sơ lược hai
phần chính yếu của nó. Ðó những bài nói về Ngũ đình
tâm quán và Lục độ hay Sáu phép Ba la mật.
1.
Ngũ đình tâm quán là năm phương pháp quán tưởng để dừng
vong tâm. Vọng tâm là căn bệnh chính làm cho con người phiền
não khổ đau. Nó thúc đẩy người ta chạy theo ngu dục, nó
che lương tri, làm cho cái tâm, vốn là sáng suốt trở nên
tói tăm, không biết đâu là thật, đâu là giả, đâu là chính,
đau là tà, đâu là hay, đâu là dở.
Muốn
sự nhận định được sáng suốt, muốn cho lòng ta dừng đuổi
theo ngũ dục mà phải phiền não khổ đau, ta phải tìm phương
pháp chận đứng vọng tâm là quán tưởng. Quán là dùng trí
huệ quán sát, phân tích hay suy nghiệm để tìm ra sự thật.
Có năm phép quán để chận đứng vọng tâm, để đối trị
năm chứng bệnh chính của tâm hồn chúng ta, là:
a)
Quán Sổ tức: để đối trị bệnh tán loạn của tâm trí
b)
Quán bất tịnh: để đối trị lòng tham sắc dục.
c)
Quán Từ bi: để đối trị lòng sân hận.
d)
Quán Nhân duyên: để đói trị lòng si mê.
đ)
Quán Giới phân biệt: để đối trị chấp ngã.
Năm
phép quán ấy gọi là "Ngũ đình tâm quán". Mỗi phép quán
sẽ được trình bày rõ ràng cặn kẽ trong một bài giảng,
theo thứ tự như đã trình bày ở trên. Sở dĩ chúng tôi để
bài Quán Sổ tức đứng đầu trong năm phép quán, vì muốn
đi sâu vào các phép quán, trước tiên, phải biết quán là
gì, quán như thế nào, và phải có một tâm trí định tĩnh,
không tán loạn. Muốn được thế, trước tiên phải tập
quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đã thuần phục rồi, thì
các thứ quan sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể
trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si, mạn.
2.
Lục độ hay Sáu phép Ba la mật: Sáu phép tu này để đối
trị sáu món "tệ" thông thường, nhưng rất nguy hiểm, vì
chúng đã làm cho chúng sinh nhiều kiếp sanh tử luân hồi,
chịu không biết bao nhiêu điều thống khổ. Ðó là:
a)
Tham lam bỏn sen; b) Sân hận; c) Si mê; d) Biếng nhác, trễ nãi;
đ) Hủy phạm giới luật; e) Tán loạn.
Ðể
chúng sanh thoát khỏi nanh vuốt ác độc của sáu mốn tệ
này, đức Phật dạy sáu phép đối trị gọi là "Lục độ".
Chữ "Ðộ" có nghĩa là cứu độ hay vượt qua. Lục độ gồm
có:
a)
Bố thí: để khỏi cái tệ tham lam bỏn sen
b)
Nhẫn nhục: để khỏi cái tệ nóng nảy, sân hận
c)
Trí huệ: để khỏi cái tội si mê
d)
Tinh tấn: để khỏi cái tệ biếng nhác, giải đãi.
đ)
Trì giới: để khỏi cái tội hủy phạm giới luật.
e)
Thiền định: để khỏi cái tệ tán loạn.
Vì
dùng sáu phương pháp này để trừ sáu món tệ, nên kinh nói:
"Dĩ lục độ, độ lục tệ". Bồ Tát theo sáu phương pháp
này tu hành để vừa độ cho mình, vừa độ cho người, độ
cho đến chỗ hoàn toán cứu cánh, nên cũng gọi là "sáu phép
Ba la mật".
Lục
độ, hay sáu phép ba la mật được trình bày trong tập sách
này:
Bài
thứ sau, Bố thí và Trì giới
Bài
thứ bảy, Tinh tấn và Nhẫn nhục
Bài
thứ tám, Thiền định và trí huệ.
Xét
một cách tổng quát, thì dù là Ngũ đình tâm quán hay Lục
độ, cái phần chính yếu của tập "Phật học Phổ thông",
khóa thứ tư này, vẫn nhắm đối tượng là diệt trừ bốn
món phiền não căn bản của con người là tham, sân, si, mạn.
trừ được bốn món phiền não ấy, từ phần thô thiển cho
đến phần sâu kín, từ nhành ngọn cho đến cội gốc, trừ
bao giờ cho đến khi không thấy bóng dáng của chúng trong tâm
ta nữa, thì khi ấy, con đường giải thoát tự nhiên lộ bày
ra trước mắt chúng ta.
Với
hoài bão thiết tha ấy, chúng tôi biên soạn tập Phật học
Phổ thông này, để trình bày với quý vị Phật tử và độc
giảt quý mến những phép tu mầu nhiệm để diệt trừ phiền
não và tiến lên dường giait thoát.