Mục
Lục Khóa Thứ Năm
Lịch
Sử Truyền Bá Phật Giáo,
10
Tông Phái và Vũ Trụ Nhơn Sanh
Bài
Thứ 6
Mười
Tông Phái Phật Giáo Ở Trung Hoa
Không
phải riêng gì Ðạo Phật, tất cả các tôn giáo lớn trên
thế giới, theo với thời gian và sự phát-triển, đều có
chia ra nhiều tôn phái. Sự phân phái ấy là một lẽ đương
nhiên phải có để cho các căn cơ và hòan cảnh khác nhau đều
có thể thích hợp được. Nếu không, thì đạo không thể
phát-triển được về bề sâu cũng như bề rộng. Hơn một
tôn giáo nào cả, Ðạo Phật không có những giáo điều thần
khải, không có một tinh thần rắn chắc, gò bó trong những
hình thức hẹp hòi, câu nệ, mà trái lại, rất phóng khóang,
tự do, dễ khoan hòa, dung hiệp, nên Ðạo Phật đi đến đâu
cũng có thể phát-triển đúng theo căn cơ và hòan cảnh riêng
biệt ở địa phương ấy. Do đó, mà Ðạo Phật có rất nhiều
màu sắc riêng biệt khi lan tràn trên các nước.
Riêng
ở Trung Hoa, Ðạo Phật đã có chia mười tôn phái. Trong mỗi
tôn phái đều có đặc điểm riêng, nhưng không bao giờ vượt
ra ngòai giáo pháp của Phật cả. Những tôn phái này cũng
như những con đường khác nhau,có đường thẳng đường cong,đường
cao đường thấp, đường rộủng đường hẹp, nhưng con đường
nào cũng đưa đến một mục đích chung cả. Hành giả tùy
theo trình độ, trí thức, khả năng, sở thích riêng mà lựa
chọn con đường nào thích hợp với mình nhất để tu tập.
Có như thế thì sự tu hành mới chóng có kết quả.
Mười
tôn phái ở Trung Hoa là: Luật tôn, Tịnh độ tôn, Thiền tôn,
Pháp tướng tôn, Mật tôn, Thiên thai tôn, Hoa nghiêm tôn, Tam
luận tôn, Câu xá tôn và Thành thật tôn.
Trong
10 này, Câu xá tôn và Thành thật tôn chủ trương về Tiểu
Thừa; Luật tôn và Thiền tôn thông cả Ðại và Tiểu Thừa,
còn 6 tôn kia thuộc về Ðại Thừa.
Nghĩa
lý của các tôn rất mầu nhiệm kinh điển cũng rất nhiều,
muốn hiểu cho thấu đáo, cần phải chuyên môn nghiên cứu,
công phu trong nhiều năm.trong phạm vi của khóa Phật học phổ
thông này, chúng ta không thể đi sâu vào mỗi tôn được.
Ơí đây, chúng ta chỉ nên biết qua đại khái về giáo lý
và làm quen với danh từ các tôn ấy, để có chổ nhập môn
mà thôi. Sau này, khi học cao hơn,chúng ta sẽ đi sâu vào từng
tôn phái một và sẽ tùy theo căn cơ sở thích của mình mà
lựa một trong những tôn ấy để tu hành.
I.-
Luật Tông
I.-
Duyên Khởi Lập Tông
Tôn
này dùng luật làm chỗ căn cứ nên gọi là Lụât tôn. Ðức
Phật khi còn tại thế, tùy căn cơ, tùy hòan cảnh mà chế
ra nhiều lọai giới luật để răn dạy đệ tử, hóa độ
chúng sinh. Sau khi Ngài nhập Niết bàn, các đệ tử của Ngài,như
Ngài Ưu-Ba-Li là vị tinh thông về giới luật đứng trên pháp
tọa trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, đã tụng
đọc lại những giới luận mà Ðức Phật đã chế ra. Lần
kết tập này chưa biên chép thành kinh điển, nên Ngài Ưu-Ba-Li
phải đọc đi đọc lại đến 80 lần, đến nỗi mỗi người
trong hội đều thuộc lòng. Do đó, mới có tên là"Bát thập
tụng luận ". Về sau,tuần tự theo thời gian, nguyên thủy
Phật giáo lần hồi chia ra làm nhiều nhánh, hay bộ phái. Mỗi
bộ phái đều theo một bộ lụât riêng. Trong số các bộ
luật này, bộ được nói đến và áp dụng nhiều nhất là
các bộ: Thập tụng, Tứ phần, Tăng kỳ, Ngũ phần.
Những
bộ luật này được truyền sang Trung Hoa và được phiên dịch
ra Hán văn. Ðến đời Ðường, Ngài Trí Thủ luật sư chú
giải các bộ ấy, và đệ tử của Ngài là Ðạo Tuyên luật
sư, nhận thấy trong các bộ ấy,bộ luật Tứ phầìn làthích
hợp căn cơ người Trung Hoa, nên đã căn cứ vào luật này
để lập ra Luật tôn.Ngài Ðạo Tuyên là người ở Chung nam
sơn, nên người đời gọi tôn này là " Chung nam sơn" để
phân biệt với các Luật tôn khác, như của các Ngài Pháp
Lệ bên phái Hữu tướng bộ,hay Ngài Hoài Tố ở Ðông pháp.
Trong
các Tôn này, chỉ có Luật tôn của Ngài Chung nam sơn là thịnh
hành hơn hết và được truyền bá cho đến bây giờ, vì nó
trung hòa cả Ðại Thưà lẫn Tiểu Thừa.
II.-Tôn
Chỉ Và Ðặc Ðiểm Của Luật Tông
Phàm
một tổ chức, một công viếc gì đúng đắn cũng đều phải
tuân theo những quy luật nhất định. Hơn tất cả, sự tu
hành lại càng phải tuân theo những giới luật nghiêm minh.
Như chúng ta đã biết trong phần giáo lý căn bản, nghiệp
là động lực chính của vũ trụ nhân sinh.Nghiệp định đoạt
tất cả đời sống chúng ta. Nghiệp có ba loại: Nghiệp của
hành động, nghiệp của lời nói và nghiệp của ý nghĩ. Nếu
những nghiệp ấy được thanh tịnh, không tạo ra các điều
ác, thì ta không thọ quả báo sinh tử luân hồi. Không có
quả báo sinh tử luân hồi thì tất nhiên là được giải
thoát. Muốn các nghiệp được thanh tịnh thì ta phải giữ
gìn giới luật, chính là một phương pháp tu hành trong nhiều
phương pháp mà Phật đã chia ra. Phương pháp này rất thiết
thực và rất hiệu nghiệm đối với Phật tủ chung ta:
-Giữ
giớ không sát nhơn hại vật, hiện người không làm người
hung dữ, khỏi bị tù tội, về sau khỏi bị đọa trong ba
đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ,súc sinh, và khỏi bị
người giết haị, đó là tu.
-Giữ
giới khong trộm cướp thì hiện thời làm người lương thiện
khỏi bị giam cầm siềng xích, đời sau không mắc quả báo,bị
người giựt của cướp nhà, đó là tu.
-Giữ
giới không tà dâm, hiện thời thành người tốt, gia đình
mình và người không bị rầy rà, đánh đập, khổ sở vì
ghen tương, đó là tu.
-Giữ
giới không nói dối, không nói láo xược, thèo lẽo, thêm
bớt, đâm thọc, không nói hung ác và thô tục, thì không bị
người khinh khi, lại được sự kính trọng, đó là tu.
-Giữ
giới kghông cờ bạc, hút xách, rượu chè, thì khỏi mất
tiền, thiếu nợ, khỏi say sưa, làm điều tội lo0õi và khỏi
bị người khinh bỉ, trí tuệ tăng trưởng, đo là tu.
Nói
một cách tổng quát, giữ một giới là ngăn ngừa được
một điều tội lỗi,và thêm được một điều lành; giữ
nhiều giớ là ngăn ngừa được nhiều điều tội lỗi và
thêm được nhiều điều lành. Bởi thế, nên giữ giới luật
làphương pháp tu không xa thực tế và rất cần thiết cho
các Phật tử cầu đạo giải thoát.
Nhờ
giữ "giới luật" không làm các việc tội lỗi, nên tâm được
"định"; do tâm định nên phát ra"trí huệ sáng suốt". Nhờ
có trí huệ sáng suốt nên phá trừ được vô minh si ám, và
được minh tâm kiến tâm thành Phật.
Người
tu tại gia có giữ giới, mới thành Phật tử chơn chính. Người
xuất gia thọ Sa-di,có giữ giới mới phải là chơn tu. Thầy
Tỳ-kheo có giữ giới mới phải là Tỳ-kheo thanh tịnh. Bồ
Tát có giữ giới mới phải là chơn Bồ Tát. Bởi thế nên
trong ba món vô-lậu học (giới,định,huệ ), "giới" đứng
đầu tất cả.
Tôn
này sỡ dĩ lập ra là nhằm vào lợi ích thiết thực và chín
chắn của giới luật, như đã trình bày ở trên.
III.-
Các Loại Giới Luật
Giới
luật có nhiều lọai từng bậc,tùy theo căn cơ, tùy theo giới
tu sĩ, tùy theo sự phát nguyện của kẻ tu hành mà áp dụng.
Nhưng nói một cách tổng quát thì giới luật có thể phân
chia làm hai lọai lớn là: Giới lụât của Ðại Thưà và
giới luật của Tiểu Thừa.
-Những
giới luật nào có tánh cách tiêu cực, tự lợi, chỉ có mục
đích chính là tránh tội lỗi cho riêng mình là thuộc về
giới Tiểu Thừa. Tất nhiên trong khi giữ giới cho riêng mình,
thì người khác cũng được lợi như giữ giới không trộm
cướp, thì mình được lợi là kềm giữ lòng tham,mà người
khác cũng đượclợi là khỏi phải bịcái khổ vì tiếc của
đã mất. Mặc dù thế, giới không trộm cướp cũng chỉ liệt
vào giới Tiểu-thừa, vì trong khigiữ giới, mục đích chính,
trực tiếp là giữ cho mình; còn cái lợi cho người chỉ ảnh
hưởng gián tiếp của giới ấy. Những giới như: Ngũ giới
(5 giới do Phật chế cho người tại-gia), Bát-quan-trai giới
(8 giới Phật chế cho người tại gia-tập sống như người
xuất gia), Sang-di giớivà Sang-di-nhiều giới (10 giới Phật
chế cho người mới xuất gia), Thức-xoa (6 điều nữ học
giới), Tỳ-kheo giới (250 giới), và Tỳ-kheo0nhiều giới (348
giới) là những giới thuộc về phái Tiểu-thừa.
Những
giới luật nào có tánh cách tích cực, nhám vào mục đích
lợi tha hơn tự lợi tì thuộc về Ðại-thừa giớ. Những
giới thuộc về Ðại-thừa giới như 10 giới trong 48 giới
khinh của Bồ Tát, Tam-tụ tịnh giới (gồm có: Nhiếp-luật-nghi
giới là giới không làm việc ác, Nhiếp-Thiện-Pháp giới
là giới làm việc lành, Nhiêu-ích hữu-tình giới là giới
làm ích lợi cho chúng sanh, như làm các việc có tánh cách
từ thiện xã hội v.v..).
Nếu
đứng về phương diện hành trì mà phân loại, giới-luật
có thể chia làm hai phần lớn: một phần thuộc về chỉ trì,
nghĩa là ngăn đứt ác nghiệp, một phần thuộc về tác trì,
tức hành động theo thiện-nghiệp.
1.-Về
chỉ trì: có hai bộ giới bổn:
a.-Tỳ-kheo
giới bổn, gồm có 250 giới, chia làm 8 loại là: 1.- Ba-la-di
(4 giới), 2.-Tăng-tàng (13 giới), 3.-Bất-định (2 giới), 4.-
Xã-đọa (30 giới), 5.- Ðơn-đọa (90 giới), 6.- Ðề-xà-nhiều
(4 giới), 7.- Chúng-học (100 giới), 8.- Diệt-tránh (7 giới).
Hai trăm năm mươi giới này có thể chia làm tám loại (ngũ
thiên), sáu loại (lục tụ) hay bảy loại (thất tụ).
b.-Tỳ-kheo-nhiều
giới bổn (giới của Tỳ-kheo-nhiều gồm có 348 giới, chia
làm 7 loại là:
1.-Ba-la-di
(8 giới), 2.- Tăng-tàn (17 giới), 3.-Xả-đọa (30 giới), 4.-Ðơn-đọa
(178 giới), 5.-Ðề-xà-nhiều (8 giới ), 6.-Chúng-học (100 giới),
7.-Diệt-tránh (7 giới). Ba trăm mươi bốn tám giới này, có
thể chia là bảy loại như trên, nhưng củng có thể làm tùy
nghi chia làm năm loại, sáu loại ,bảy loại như bên tăng (1).
Giới
Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-nhiều trên này gọi là Cụ-túc giới,
nghĩa là những giới đem lại cho người thọ vô lượng giới-hạnh,
phước đức. Nhưng 250 hay 348 giới, chưa phải là nhiều. Ðó
chỉ là giới tóm thâu những giới-luật chính, làm giềng-mối
cho sự trì phạm mà thôi. Nếu kể cho hết giới-luật thì
về "lượng" sánh đồng hư-không, về "cảnh" lại nan khắp
cả pháp-giới. Nếu kể về bậc trung, thì bên tăng có đến
3.000 oai nghi, 80.000 tế-hạnh; bên Ni có đến 80.000 oai-nghi
và 120.000 tế-hạnh.
Vì
sao Phật lập ra nhiều giới-luật như thế?
- Vì
mỗi một giới là ngăn ngừa tội lỗi, mà con người chúng
ta là phàm phu, từ tâm niệm cho đến hành vi, có không biết
bao nhiêu điều tội lỗi, nên phải có vô số giới luật
để ngăn ngừa.
2.-
Về tác trì, gồm có 20 kiền-độ.
Kiền
độ nghĩa là phẩm loại, điều luật (Khanda).
20
Kiền độ là:
Thọ
giới Kiền độ
Thuyết
giới Kiền độ
An
cư Kiền độ
Tứ
tự Kiền độ...
Sự
chia ra chủ trì và tác trì là cốt lõi dễ phân biệt trong
khi giữ giới, chứ thật ra nói một cách rốt ráo thì trong
''chỉ'' có ''tác'', trong ''tác'' có ''chỉ'', không thể nói
một cách dứt khoát được.
(1)
Chúng tôi chỉ giới thiệu những danh từ của các giới luật
tăng, ni chứ không nói rõ hơn, vì theo luật Phật, người
thọ giới ở cấp bực nào thì chỉ biết giới luật của
cấp ấy mà thôi.
IV.-Các
Danh Từ Và Phương Pháp Thực hành
Như
chúng ta đã thấy ở trên, giới-luật của Phật chế ra rất
nhiều; do đó, danh từ chuyên môn và cách thức giữ giới
cũng rất phức tạp. Vậy muốn giữ giới được kết quả,
trước tiên phải biết những điều sau đây:
1.-Sao
gọi là ''danh, chủng, tánh, tướng''?.
a.-Danh
là tên (danh từ) nghĩa là tên chỉ mỗi giới, như giới bất
sát sinh, giới bất thâu đạo.v.v...
b.-
Chủng là chủng loại, hay nhóm; như chúng ta đã thấy ở phần
chia các giới của Tăng, Ni: Ba-la-di, Tăng tàng.v.v..
c.-Tánh
là tâm tánh, là tánh chất ở bên trong; như người giữ giới,
trong tâm niệm không nghĩ tưởng đến việc sát, đạo, dâm,
vọng.v.v.. hoặc thấy người phạm giới cũng không sanh tâm
vui mừng hay liên tưởng đến. Giữ gìn tâm tánh ở bên trong
được thanh tịnh như vậy, gọi là ''giới tánh''.
d.-
Tướng là hình tướng ở bên ngoài; như bên trong đã không
nghĩ đến sát sanh, trộm cướp (tánh giới) .v.v.. mà bên ngoài
cũng không làm những điều ác ấy, gọi là ''giới tướng''.
Tóm
lại, mỗi khi phạm một điều tội lỗi, người giữ giới
phải biết tội ấy là gì (danh), sát hay đạo .v.v..? thuộc
về loại nào (chủng), Ba-la-di hay Tăng tàng.v.v..? thuộc về
nội tâm (tánh) hay ngoài thân (tướng)? Và cuối cùng hành
giả phải biết tôi ấy, theo luật phải trị phạt thế nào
mới được thanh tịnh?
2.-
Sao gọi là '' khai, giá, trì, phạm ''?
a.-
Khai là mở, cho làm.
b.-
Giá là cấm, không cho làm.
Như
khi Phật còn tái thế, Ngài cấm các vị Tỳ Kheo leo lên cây,
đó là ''Giá" . nhưng về sau cóvị Tỳ Kheo đi vào rừng, bị
ác thú rượt, Ngài không dám leo lên cây để tránh, vì sợ
phạm giới, và cuối cùng bị ác thú hại. Từ đó, Phật
dạy: ''nếu có duyên sự thì được leo cây'', như thế gọi
là ''Khai''.
Một
thí dụ thứ 2: người Phật tử phải giữ giới không uống
rượu. Ðó là ''Giá''. Nhưng khi bị bịnh nặng, nếu cần
rượu để hòa với thuốc, uống mới lành bệnh, thì tạm
được dùng. Ðó là ''Khai''. Nhưng trước khi uống, phải bạch
với chư tăng.
c.-
Trì là giữ gìn; như khi đã thọ giới rồi mà giữ gìn cho
được thanh tịnh thì gọi là ''Trì''.
d.-
Phạm là vi phạm; như đã thọ giới rồi mà không giữ gìn
giới thì gọi là ''Phạm''.
Tóm
lại, trong khi tu hành giữ giới-luật, hành giả luôn luôn
quan sát mỗi hành vi hàng ngày của mình xét xem một cách sáng
suốt, thế nào là ''Trì'', thế nào là ''Phạm''; trong trường
hợp nào, và giới nào được ''Khai''; Trong trường hợp nào,
và giới nào không được ''Khai''.v.v.. nói một cách tổng
quát khi đã thọ giới rồi thì phải ''Trì''. Nếu không ''Trì''
mà ''Phạm''. Tuy thế nếu vì lòng từ bi, vì lợi ích chung,
hay vì trí huệ thúc đẩy, thì có thể ''Khai'' mà không phạm
tội. Nhưng nếu vì tâm nhiểm ô, vì phiền nảo thúc đẩy
mà ''Khai'' là ''Phạm''.
3.-Sao
gọi là ''chỉ trì, tác phạm và tác trì chỉ phạm''?
a.-
Chỉ trì là nói về phương diện các điều ác, quyết giũ
gìn không gây tội lỗi.
b.-
Tác phạm là nói về phương diện các điều ác, đáng lẽ
phải giữ gìn, mà lại không giữ được, cho nên phải phạm
tội lỗi.
c.-
Tác trì là nói về phương diện các điều thiện, cần phải
làm, là phạm giới.
d.-
Chỉ phạm là nói về phương diện các điều thiện, nếu
đình chỉ không làm, là phạm giới.
Thí
dụ: về tội ăn trộm, nếu không làm là chỉ trì, nếu làm
tác phạm. Trái lại, về hạnh bố thí, nếu làm là tác trì,
nếu không làm là chỉ phạm.
4.-
Sao gọi là '' tánh tội và giá tội, hay tánh giới và giá
giới''?.
a).
Tánh tội là tội sẳn có trong bảng tấn chúng sanh, như sát,
đạo, dâm, vọng. Bốn tánh này có sẳn trong tâm tánh chúnh
sanh từ vô thỉ đến nay, hể có chúng sanh lá có chúng nó.
Mỗi người, không cần ai dạy bảo, không cần học tập,
mà ai cũng đều biết sát, đạo, dâm, vọng. Vì thế cho nên
gọi là tánh tội.
b).
Giá tội là tội không sẵn có trong bản tấn nhưng do hoàn
cảnh, do tập nhiễm mà phát sinh; như tội uống rượu chẳng
hạn. Nói một cách tổng quát, ngoài bốn tánh tội là sát,
đạo, dâm, vọng, còn bao nhiêu tội khác là giá tội cả.
c).
Tánh giới là để ngăn ngừa bốn tánh tội là sát, đạo,
dâm, vọng. Giới này rất quan trọng, nhưng củng rất khó
giữ. Giữ được bốn giới này thì sư tu hành tất sẽ kết
quả và con đường giải thoát chắc chắn sẽ chờ đón hành
giả.
d).
Giá giới là giới để ngăn ngừa tội lỗi do hoàn cảnh là
huân tập mà phát sinh. Những giới này ít quan trọng hơn tánh
giới nói trên. Nhưng muốn giữ được tánh giới một cách
ít khó khăn, phải cần giữ giá giới. Như người muốn đốn
cây lớn, trước tien phải chặt ngành ngọn; như người dùng
binh giỏi, trước khi muốn chiếm một đô thị lớn, phải
ngăn chặn các con đường đi vào đo thị ấy.
V.-Kết
Luận
Như
chúng ta đã rỏ, mục đích của gióa pháp mà Ðứủc Phật
chỉ bày cho chúng ta là để được minh tâm, kiến tánh, và
thành Phật. Tất cả các tôn phái, mặc dù có chủ trương
và đặc điểm khác nhau, nhưng mục dích cuối cùng đều là
một: Giác-ngộ và thành Phật.
Luật
tôn củng không đi ra ngoài mục đích trên, mặc dù phương
pháp có khác phần nhiều các tôn khác thì phải hiểu rồi
mới tu; Luật tôn trái lại chủ trương; hãy tu đi rồi sẽ
hiểu, hảy giữ gìn giới luật phải nghiêm chỉnh, thì tâm
sẽ định tĩnh, thanh tịnh; tâm đa thanh tịnh thì trí huệ
sẽ sáng suốt, chân tâm sẽ hiện bày, Phật tánh sẽ phát
lộ.
Thật
là một chủ trương rất thiết thực, mà kết quả lại chắc-chắn
! những kẻ học rộng biết nhiều mà không giữ giới củng
chẳng khác gì trước gió, có thể sáng lắm, nhưng không biết
sẽ tắt khi nào. Trái lại kẽ học ít biết hẹp mà giữ
giới một cách chân thần, thì củng như ngọn đèn có ống
khói, khi mới thắp thì lu, nhưng không tắt thì càng cháy lâu
cáng sáng tỏ.
Vì
những lí lẽ trình bày ở trên, Luật tôn đều phải thích
hợp với mọi căn cơ, nhất là với những căn cơ chậm lụt.
Ơí đời chúng ta thường thấy phần nhiều những người
có căn trí lanh lẹ, hiểu nhanh biết lẹ, nhưng vì hay ỷ sức
mình , không chịu đặt mình vào khuôn phép kỷ luật, nên
cuối cùng, chẳng thu hoạch được kết quả gì tốt đẹp
cả. Trái lại, những kẻ có căn trí tầm thường, nhiều
khi chậm lụt nữa , nhưng lại dễ thành công trên đường
đời củng như trên đường đạo, vì họ biết thủ phận
chịu khó khép mình vào kỷ luật, không tự mãn, tự cao. Những
đệ tử của Phật, có ai có một địa vị xã hội hà tiện
(đi gánh phân ) và một căn trí thấp thỏi như Ngài Ưu-Ba-Li
!Thế mà Ngài Ưu-Ba-Li lại trở thành một đệ tử của Phật,
đã thành một bậc hiền thánh, chỉ vì đã nghiêm trì giới
luật! Ch úng ta đây, địa vị xã hội và căn trí chắc chắn
không kém Ưu-Ba-Li, lẻ nào chúng ta không thu hoạch được
thành quả tốt đệp như Ngài , nếu chúng ta củng tập nghiêm
trì giới-luật như Ngài .
2.-Tịnh
Ðộ Tông
Tôn
này thuộc về Ðại- thừa, chủ trương dạy người chuyên
tâm niệm Phật đẻ được cảnh vãng sanh về Tịnh độ của
Phật A-DI-Ðà. Do đó, tôn này mới có tên là Tịnh độ tôn.
Ðây
là một trong nhiều pháp môn của Phật, mà đặc điểm là
dể tu, dể chứng, rất thích hợp với đại đa số quần
chúng. Với pháp môn này, bất luận hạng người nào, trong
thời gian nào, hoàn cảnh nào, củng có thể tu hành được
cả. Nếu so sánh với con đường đi, thì tôn này là môt đại
lộ bằng phẵng ,rộng rãi, mát mẽ, hành giả dễ đi mà mau
đến, không sợ gặp nguy hiểm chướng ngại giữa đường.
Bởi
những lẻ ấy, nên từ xưa đến nay, đã có không biết bao
nhiêu người chọn lựa pháp môn này để tu hành. Riêng ở
Việt nam chúng ta, ngày xưa củng như hiện nay, có biết bao
nhiêu người là môn đồ của tôn này. Ðó là lý do thúc đẩy
chúng tôi gấp rút biên soạn bài này để giới thiệu " con
đường tu thứ hai" trong mười tôn phái của Phật Giáo.
1.-
Duyên Khởi Lập Tông
Tịnh
độ căn cứ vào những kinh điền gì để thành lập? Kinh
điển mà Tịnh độ tôn đã y- cứ thì rất nhiều. Ơí đây
chúng tôi chỉ xin nêu lên một ít bộ kinh căn bản, thường
được nói đến thôi. Ðó là các bộ:
1.-Kinh
vô lượng thọ: Kinh này được chép lại 48 lời thề nguyên
của đức A-Di-Ðà , khi còn là một vị Tỳ kheo tên là Pháp
Tạng. Nội dung của 48 lời thệ nguyện ấy là: sau khi thành
Phật, ngài sẽ lập ra một quốc độ hết sức trang nghiêm
thanh tịnh, để tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương Thế
giới về đó, nếu những chúng sanh ấy thường niệm đến
danh hiệu Ngài và thường cầu được vãn sanh về cõi tịnh
độ của Ngài.
2.-
Kinh Quán Vô lượng thọ: Kinh này chép rõ 16 Pháp quán và 9
Phẩm, để dạy người cầu được vãng sanh về cõi Tịnh
độ.
3.-
Kinh tiểu bổn A-Di-Dà:Kinh này lược tả cõi tiên giới Cực
Lạc, trang nghiêm (Tịnh độ) khiến người sanh lòng ham mộ,
phát nguyện tu theo pháp môn ''trì dân niệm Phật cho đến
nhất tâm bất loạn'' để được vãng sanh về cõi ấy.
Ba
kinh trên này là ba bộ kinh chính; cổ nhân thường gọi là
'' ba kinh Tịnh độ''. Ngoài ra còn có các kinh khác như:
Kinh
Bửu tích chép việc đức Phật vì vua Tịnh phạn và bảy
vạn người trong thân tộc, nói pháp môn ''trì dân niệm Phật''
để cầu sanh về Thế giới Cực lạc.
Kinh
đại bổn A-Di-Dà, Kinh Thập lục quán, kinh Ban châu niệm Phật,
kinh Bi-Hoa, kinh Phương Ðẳng, kinh Hoa nghiêm.v.v..
Giáo
điển về Tịnh độ truyền qua Trung Hoa rất sớm, nhưng đến
đời Ðông-tấn nhờ Ngài Huệ-viễn đại sư ra công hoằng
hóa, nên tôn này mới bắt đầu thịnh hành. Ngài là vị tổ
đầu tiên ở Trung Hoa. Sau đó, các vị đạo sư danh tiếng
như Ngài Ðàm loan, ngài Ðạo Xước, ngài Thiện-đạo.v.v..
đều dùng pháp môn này mà tu chứng và hóa độ rất nhiều
người và mãi lưu truyền cho đến ngày nay.
II.
Bốn Cõi Tịnh Ðộ.
Tịnh
độ không phải chỉ có một cõi, mà rất nhiều cõi. Ðứng
về phương diện phân tích, từ tế đến thô, có thể chia
làm 4 cõi Tịnh độ sau đây:
1.-
Thường tịch quang Tịnh độ: đây là cảnh giới mà Pháp
thân Phật an trụ. ''Thường'' là không thay đổi, không sanh
diệt, tức là Pháp thân Phật; ''Tịch'' là xa lìa các phiền
não vọng nhiễm, tức là đức Giải thoát của Phật; ''Quang''
là chiếu sáng khắp cả mười phương, tức là đức Bát-nhã
của Phật. Như thế là cõi Tịnh độ này đủ cả ba đức
quý báu của Phật là Thường, Tịch và Quang, cho nên gọi
là ''Thường tịch quang Tịnh độ''.
Cảnh
Tịnh độ này không có hình sắc mà chỉ là chơn tâm. Vì
bản thể chơn tâm, hay tánh viên giác ''thường vắng lặng,
chiếu soi và thanh tịnh'', nên gọi là ''Thường tịnh quang
Tịnh độ''. Chư Phật khi đã chứng được cảnh giới này
rồi thì thanh và độ không hai, song vì căn cứ theo ba loại
Tịnh độ sau đây mà gọi là có Thân, có Ðộ. Chứng đến
chỗ này, nếu đứng về Thân thì gọi là ''Pháp Thân'', còn
về độ, thì gọi là ''Thường tịch quang Tịnh độ''.
Kinh
Tinh danh, về lời sớ có chép: Tu nhơn hạnh về viên giáo,
khi nhơn viên quả mãn, thành bực Diệu giác (Phật) sẽ ở
cõi ''Thường tịch quang Tịnh độ''.
2.-
Thất-báo trang nghiêm Tịnh độ: hành giả trải qua ba số
kiếp tích công lũy đức do phước báu tu hành nhiều đời
dồn chứa lại, làm trang nghiêm cảnh giới chơn- thật nên
gọi là ''Thật-báo trang nghiêm Tịnh độ''. Cảnh giới Tịnh
độ này là chỗ ở của Báo thân Phật. Kinh Quán-vô-lượng
-thọ về lời sớ có chép: ''Tu-tập chơn-thật'', cảm đặng
quả báo tốt đẹp, cho nên gọi là ''Thật báo trang nghiêm''.
Bên Ðại-thừa Viên giáo thì cõi này là của các bậc Tam
hiền (Trụ, Hạnh, Hướng); còn bên ngoài Ðại-thừa Biệt-giáo,
thì đây là cõi các bậc từ Thập địa cho đến Ðẳng giác
Bồ Tát.
3.-Phương
tiện hữu dư Tịnh độ: Cảnh Tịnh độ này không phải là
cứu cánh rốt ráo, mà chỉ là phương tiện. Ðây là cõi Tịnh
độ của hàng Nhị thừa. Các vị này tuy đã dứt được
kiến-hoặc và tư-hoặc trong ba cõi (Dục-giới, Sắc giới
và Vô-sắc-giới ), nhưng còn dư lại hai hoặc là: vô-minh
hoặc và trần-sa hoặc chưa trừ được, nên gọi là ''hữu-dư
''. Ðã là ''hữu-dư '' tức là chưa phải hoàn toàn cứu-cánh,
nên gọi là cõi Tịnh độ này là '' Phương-tiện hữu-dư
Tịnh độ ''.
4.-
Phàm thánh đồng cư Tịnh độ: Ðây tức là cõi Tịnh độ
của Ðưc Phật A-di-đà ở Tây-phương. Ðã gọi là Tịnh độ,
hay Cực-lạc, tuy nhiên có đủ các đức thanh tịnh trang-nghiêm,
không có bón ác thú. Nhưng đây vì Phật, Bồ Tát và các vị
thượng thiện nhơn (thánh) cùng sống chung với chúng sanh mới
vãng-sanh, chưa chứng được quả thánh (phàm) nên gọi là
''Phàm thánh đồng cư Tịnh độ ''.
Vì
phần đông tín-đồ Phật Giáo Việt-Nam và Trung Hoa trong khi
tu về pháp môn Tịnh độ, đều nguyện sanh về cõi Tịnh
độ này, tức là cõi Cực-lạc của Phật A-Di-Ðà, nên ở
đây, chúng tôi xin căn cứ theo kinh ''Tiểu bổn A-Di-Ðà'' thuật
lại lời Ðức-Phật Thích Ca đã tả về cảnh giới của
cõi Tịnh độ này: ''...Từ cõi Ta-bà này, cứ về hướng
Tây, cách đây hơn mười muôn cõi Phật, có thế giới tên
là Cực-lạc. Vị Giáo-chủ ở Thế-giới ấy là Phật A-di-đà,
thường hay nói pháp. Cõi ấy có 7 lớp câu-lơn (tường-hoa)
bảy lớp lưới giăng, bảy hàng cây xinh đẹp, có hồ thất
bảo đầy nước tám công đức. Ðáy hồ toàn là cát vàng.
Bốn phía bờ hồ đều cẩn vàng ngọc, châu báu. Trong hồ
có hoa sen bốn màu lớn bằng bánh xe, hương thơm ngào ngạt,
màu nào cũng có hào quang chiếu sáng. Quanh hồ, vươn lên những
tòa lâu đài nguy nga, xinh đẹp làm toàn bằng thất bảo.
Trên
không trung hòa lẫn những bản nhạc thiêng, có những tiếng
chim báu, do Phật họa hiện ra, để thuyết pháp luôn trong
sáu thời cho dân chúng nghe. Người nghe rồi liền phát tâm
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Không những chỉ có tiếng
chim, mà cho đến tiếng nước chảy, gió thổi, cây reo, cũng
đều phát ra tiếng phát nhiệm mầu.
Cảnh
giới Cực-lạc tốt đẹp, trang nghiêm như thế là do công
đức của Phật A-Di-Dà (1) là vị giáo chủ của cõi ấy và
các vị Bồ tát, Thánh chúng chung nhau tạo thành chữ A-Di-Dà
người Trung Hoa dịch là ''Vô lượng thọ'', hay ''Vô lượng
quang'', nghĩa là đức Phật này sống lâu không lường và
hào quang chiếu sáng cũng không lường.
(1)
Chữ A-Di-Ðà, người Trung Hoa dịch là "vô lượng thọ" hay
"vô lượng quang", nghĩa là Ðức Phật này sống lâu không
lường và hào quang chói sáng cũng không lường
III.-
Ba Yếu Tố Ðể Cầu Sanh Tịnh Ðộ
Muốn
được vãng-sanh, về cõi Tịnh độ nói trên, hành giã phải
chuẩn bị ba yếu tố sau đây là: Tín, Nguyện và Hành. Ba
yếu tố này thường được gọi là ba món tư-luơng (Lương
phạn đi đường). Nếu thiếu một món ăn nào, hành-giả củng
không thể tu hành có kết quả được.
1.-Thế
nào là ''Tín''? -Tín là đức tin vững chắc, không gì lay chuyển
được Ðức tin rất quan trọng va fcần thiết cho người tu
hành. Kinh Hoa-Nghiêm có dạy: '' Tin là mệ sanh ra các công đức
''. Nhờ đức tin mà quả Bồ-đề có thể thành tựu được.
Tin
có ba phần:
a).
Tin Phật: Tin rằng Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, biết
các viẹc sáng suốt, biết các việc quá khứ, hiện tại và
vị lai, thấy hết thảy hằng sang thế giới, hiểu biết các
pháp một cách rõ ràng. Tin răng fdo lòng từ-bi muốn cứu khổ
sanh-tử luân hồi cho chúng sanh, mà Phật Thích Ca nói pháp
môn niệm Phật, để chúng sanh thực hành theo người mà được
chúng sanh vãng-sanh về Tịnh độ. Tin rằng lời dạy của
Ðức-Phật Thích- ca không hư đối, Ðức-Phật A-Di-Ðà và
cảnh Tịnh độ đều có thật.
b).
Tin Pháp: Tin rằng pháp-môn niệm Phật là pháp-môn dễ tu,
dễ chứng, có bảo đảm chắc chắn. Tin rằng 48 lời thệ
nguyền của Phật A-Di-Ðà có đầy đủ hiệu lực để ccứu
độ chúng sanh, và nếu ta thực hành đúng theo pháp môn này,
chắc chắn sẽ được vãng-sanh về cõi Tịnh độ của Phật
A-Di-Ðà.
c).
Tin mình: Tin rằng mình có đầy đủ khả năng và nghị lực
để tu theo pháp-môn này. Tin rằng nếu mình thực-hành đúng
như lời Phật Thích-Ca đã chỉ dạy trong kinh A-Di-Ðà, chuyên
trì danh hiệu Phật A-Di-Ðà cho đến '' nhất tâm bất loạn''
thì khi lâm-chung chắc chắn thế nào mình củng sẽ được
sanh về cõi Tịnh độ.
2.-Thế
nào là ''nguyện''? Nguyện là lời hứa-hẹn, sự ước ao,
là chí nguyện, mong muốn thực hiện những điều chân chính.
Nguyện là sức hút của đá nam châm, là cánh buồm căng gió
của chiếc thuyền, àl cái chong chóng của máy bay. Nguyện
là động cơ thúc đẩy cho con người tu hành mau đêá mục
đích.
Nguyện
quan trọng như thế, nên hành-giả phải lập nguyện cho vững
bền, luôn luôn kiên tâm, trì chí tu theo pháp-môn niệm Phật
này, ngày đêm chuyên niệm Phật không ngớt, thiết tha mong
cầu được sanh về cõi Tịnh độ của Phật A-Di-Ðà.
Ðể
có một ý-niệm về chữ '' nguyện '', chúng tôi xin trích ra
sau đây ba lời nguyện, trong 48 lời nguyện của Phật A-Di-Ðà,
khi còn làm Pháp-tạng Tỳ-Kheo:
-''
Sau khi ta thành Phật, chúng sanh ở mười phương một lòng
tin ưa, muốn về cõi ta, từ một niệm cho đến mười niệm,
nếu chúng sanh ấy không đặng vãng-sanh, thì ta thề không
thành bậc Chánh-Giác, chỉ trừ những người phạm tội ngũ
nghịch và chê bai Chánh-pháp ''.
-''
Nếu ta đặng thành Phật, chúng sanh ở mười phương pháp-giới
phát tâm Bồ-Ðề, tu các công đức, một lòng phát-nguyện,
muốn sanh về cõi nước ta, gia như ta không cùng với đại
chúng đoanh vây hiện ra ở trước mắt chúng sanh ấy, thời
ta thề không thành bậc Chánh-giác ''.
''
Nếu ta đặng thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh
hiệu ta, chuyên niệm cõi nước ta, mà nếu không được thỏa
nguyện, thì ta thề không thành bậc Chánh-Giác ''.
3.-Thế
nào là ''Hành''?- Hành là thực-hành, làm theo. Nếu tin (tín)
mà không ước ao, mong muốn (nguyện) thì chỉ là tin suông,
vô bổ. Nhưng nếu ước ao, mong muốn (nguyện) mà không làm
(hành) thì chỉ ước ao, mong muốn ảo-huyền, không đi đến
kết quả gì. Bởi thế, Tín, Nguyện,Hành ba yếu tố căn bản
này bao giờ củng phải có đủ, mới đủ điều kiện vãng-sanh
Tịnh độ. Cũng như cái đảnh, phải có đủ ba chân mới
đúng vững được, thiếu một chân, tất phải ngã.
IV.-Phương
Pháp Tu Về Tịnh Ðộ
Sau
kh đã chuẩn bị đủ ba yếu tố hay ba món tư lương Tịnh
độ nói trên, chúng ta phải hạ thủ công phu ngay. Nhưng muốn
cho có hiệu quả, chúng ta cần hiểu rỏ phương pháp tu hành.
Vvẫn biết rằng pháp-môn niệm Phật là một pháp-môn rất
giản dị, chỉ cần niệm Phật là đủ. Nhưng niệm Phật
củng có nhiều cách, nhiều loại, mà chúng tôi xin dẫn một
ìt phương phát sau đây:
1.-Trì-danh
niệm Phật: -Trong lối niệm Phật này, hành-giả chỉ chuyên
tâm trì-niệm danh hiệu của Phật A-Di-Ðà. Mỗi ngày từ khi
mới thức dậy cho đến lúc đi ngũ, hành-giả phải chớ niệm
luôn, không cho xen hở. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi,
khi ăn, trước khi ngũ, hành-giả đừng bao giờ quên niệm
Phật. Ngoài ra muốn có hiệu quả hơn, hành-giả cần phải
xem phương pháp '' Kinh hành niẹm Phật '' (xem nghi thức kinh
hành niệm Phật). Mỗi khi niệm xong, hành-giả đều hồi hương
cầu sanh Tịnh độ.
2.-
Tham-cứu niệm Phật: -Trong lối tu này, hành-giả phải tham
khảo cứu-xét suy nghiệm câu niệm Phật. Như khi niệm '' Nam-mô
A-Di-Ðà Ðà Phật '', hành-giả phải quán-sát câu niệm Phật
này, từ đâu mà đến, đến rồi sẽ đi về đâu? Niệm đây
là niệm ai v.v..? Nhờ sự chuyên tâmchú ý tham khảo một câu
niệm Phật như thế, nên sóng vọng-tưởng dần dần chìm
lặng, nước hiện tâm hiện bày, hành-giả được '' nhất
tâm bất loạn '', đến khi lâm chung, sẽ được sanh về cảnh-giới
của Phật. Pháp niệm Phật này giống như pháp tham cứu câu
'' thoại đầu '' bên Thiền-tôn, nên gọi là '' tham-cứu niệm
Phật ''.
3.-
Quán-tương niệm Phật: Trong lối tu này, hành-giả chăm chú
quan sát hình tượng của Phật.
Hành-giả
ngồi trước tượng Phật, chú tâm chiêm ngưỡng, quan sát
các tướng tốt mà liên tưởng các đức-tánh của Phật.
Như khi chiêm ngưỡng đôi mắt Phật, thì liên tưởng tới
trí huệ của Phật; khi chiêm ngưỡng nụ cười hiền hòa
của Phật, thì liên tưởng đến đức tánh từ bi, hỷ-xã
của Phật. Nhờ quán trí huệ của Phật mà tánh Si của hành-giả
phai dần; nhờ quán từ-bi của Phật mà tánh Sanh của hành-giả
bớt dần ...Hễ quán thêm một đức-tánh tốt của Phật,
thì một tánh xấu của hành-giả được bớt đi. Tánh của
Ðức-Phật như tia sáng mặt trời, tánh xấu của hành-giả
như vết mực; tia sáng mặt trời càng sáng nhiêìu va fcàng
chiếu rọi lâu ngày, thì vết mực càng phai nhanh. Tóm lại,
nhờ sự chú tâm quán các tướng tốt trên hình tượng của
Phật, mà các đức tánh như từ-bi, hỷ-xả, bình-dẳng, lợi
tha được huân-tập, thấm nhuần vào tâm hành giả; lâu ngày,
tâm hành-giả sẽ thanh-tịch, lọc sạch những niệm ác độc
và sẽ giống tâm Phật, được vãng-sanh về cõi Phật.
4.-Quán-tưởng
niệm Phật:- Trong lối tu này, hành-giả ngồi yen một chỗ,
mặc dù không có hình tượng Phật trước mặt, mà hành-giả
quán tưởng như có Ðức-Phật A-Di-Ðà, cao lớn đứng trên
hoa sen, phóng tỏa hào quang như tấm lụa vàng, bao phủ cả
thân hình mình. Hành-giả ngồi ngay thẳng, hai tay chắp lại,
củng tưởng mình ngồi trên tòa-sen, được Phật tiếp dẫn.
Hành-giả chuyên chú quán tưởng mãi mãi như thế; đi, đứng,
nằm, ngồi củng không dừng nghĩ, cho đến khi nào, mở mắt
hay nhắm mắt cũng đều thấy Phật, tức là páhp quán đã
thuần-thục. Khi lâm chung, hành-giả chắc chắn sẽ được
vãng-sanh về Tịnh độ.
Trong
kinh Quán Phật tam-muội chép rằng: 'Phật vì Phụ-vương, nói
pháp quán-tưởng bạch hào ...''. Quán-tưởng bạch-hào nghĩa
là quán-tưởng lông trắng có hào quang sáng chiếu, giữa hai
chân mày của Phật, như trăng thu tròn đầy, trong suốt như
ngọc lưu ly. Ðây là một phương pháp quán tưởng niệm Phật.
5.-Thật
tướng niệm Phật:- Thật tướng niệm Phật là niệm Phật
đã đạt đến bản thể chơn tâm. Chơn tâm không sanh diệt,
không khứ lai, không hư không giả, cho nên gọi là"thật tướng
".
Trong
năm pháp niệm Phật trên này, thì bốn pháp trước đều thuộc
về sự, có niệm có tu; còn pháp thứ năm ( thật tướng niệm
Phật ) là thuộc về lý: không còn, niệm còn tu, không còn
năng sở, cao siêu hơn cả. Niệm Phật đến chỗ này mới
hoàn toàn rốt ráo.
Nhưng,
hành giả phải luôn luôn nhớ rằng: nhờ có Sự , Lý mới
hiển. Trước hết phải tu bốn pháp niệm trên, cho đến khi
thuần thục, không còn thấy có mình là người niệm, Phật
là vị bị niệm, chỉ có một tâm yên lặng chiếu soi, không
năng sở, bi thử, không hữu, khong vô. Ðến chỗ này, kinh
Di-Ðà gọi là"được nhất tâm bất loạn". Kinh Tứ thập
nhi chương chép; "niệm đến chỗ vô niệm, mới là chơn niệm".
Trong
năm pháp niệm Phật trên đây, từ xưa đến nay, người tu
Tịnh độ, thường lựa pháp môn danh trì, là một pháp môn
dễ hạ thủ công phu, hành giả ở trình độ nào, chỗ nơi
nào hay lúc nào, củng đều có thể tu được. Thật là một
pháp môn rất thù thắng.
V.-Lợi
Ích Của Pháp Niệm Phật
Lợi
ích của pháp niệm Phật thật vô lượng vô biên, tựu trung
có thể chia làm hai phần: lợi ích về Sự và lợi ích về
Lý.
1.-Lợi
ích về Sự:
a)
Niệm Phật sẽ trừ được các phiền não.
Những
người gặp các cảnh khổ, như tử biệt sanh ly, nhà tan cửa
mất, tai nạn bất thường v.v ..sanh các phiền não, nếu biết
chí tâm niệm Phật, thì các phiền não khỗ đau dần dần
tiêu tan. Vì sao lại có kết quả tốt đẹp như thế? Vì taam
ta củng như dòng nướcluôn luôn tuôn chảy. Nếu chúng ta pha
vào những chất cáu bẩn, thì nước trở thành đục bẩn;
nếu chúng ta pha vào những chát thơm tho, thì nước sẽ trở
thành thơm mát. Nếu tâm ta chỉ nhớ nhgĩ đến những tai nạn
khổ đau, thì luôn luôn sẽ bị phiền não khuấy đục. Khi
ta niệm Phật thì sẽ cố nhiên nhớ Phật, quên đau khổ.
Ðémự nhớ Phậtnày thế cho câí nhơá sự đau khổ; một
giờ niệm Phật thì sẽ đổi được một giòpw sầu khổ,
một ngày niệm Phật thìđổi được một ngày khổ đau. Cứ
như thế, nếu niệm Phật được tăng chừng nào, thì sự
buồn phiền đau khổ sẽ gỉam đi chừng âý. Cho nen cổ nhân
có câu"Một câu niệm Phật giải oan khiên".
Trong
thời kỳ chiến tranh Việt-Pháp vừa qua, chúng tôi đã đem
phương pháp niệm Phật nảychi cho một số người sầu khổ
gần như điên cuồng, vì sự nghiệp bị tiêu tan, con cháu
mất lạc, họ thu lượm kết quả rất là tốt đẹp.
b)Niệm
Phật sẽ trừ được niệm chung sanh.
-Chúng
sanh hằng ngày nhớ nghĩ đến những điều tội lỗi như tham,
sân, si v.v ..miệng thốt ra những điều tội ác, thân làm
những việc xấu xa. Ðó là những ác nghiệp của chúng sanh.
Nay nếu chúng ta niệm Phật, thì chúng ta không còn thì giờ
để nhớ nghĩ việc tội lỗi nừava thực hành những ác nghiệp
trên nữa. Như thế là niệm Phậtsẽ trừ được niệm chúng
sanh. Niệm Phật càng nhiều thì niệm chúng sanh càng ít. Niệm
Phật hoàn toàn thì niệm chúng sanh dứt sạch.
c.-Niệm
Phật sẽ làm cho thân thể được nhẹ nhàng an ổn.-Bệnh
tật của chúng ta, một phần do thể xác, nhưng một phần
củng do ảnh hưởng của tinh thần. Nhiều người mất ăn
bỏ ngủ vì uất hận, nhục nhã v.v.. Do đó, uất khí tích
tụ lâu ngày trong người, mà sinh bệnh mất ăn bỏ ngủ. Gặp
những trường hợp như vậy, nếu chúng ta niệm Phật cho ra
tiếng, thì những nỗi uất hận đè nặng lên tâm can chúbg
ta, sẽ như được trút ra cùng hơi thở, cùng tiếng niệm,
và thâm tâm ta được nhẹ nhàng dễ chịu. Những người yếu
tim, nếu biết niệm Phật sẽ mau bình phục. Vì bệnh yếu
tim thường làm cho người bệnh hồi hộp, lo sợ; nay nhờ
niệm Phật nên tâm định, tâm định thì những sựhồi hộp
lo nghĩ giảm đi. Do đó mà ăn được,ngủ yên và bệnh mau
bình phục.
d.-Niệm
Phật tâm trí sẽ sáng suốt, học hành mau nhớ:-Những người
tâm trí loạn động thì tối tăm, như ngọn đèn bị gió,
không sáng được.nhờ niệm Phật, tâm trí sẽ định tĩnh,
như ngọn đèn có ống khói, không lay động. Do đó tâm trí
sẽ phát chiếu, như ngọn đèn tỏa ánh sáng vậy.
đ)
Niệm Phật, khi lâm chúngẽ được sanh về Tịnh độ.-Như
chúng ta đã thấy ở trên, niệm Phật đem lại cho chúng ta
nhiều ích lợi thiết thực trong đời sống hiện tại, về
phương diện thẻ chât lãn tinh thần, về tính tình lẫn trí
huệ. Nhưng cái lợi ích lớn nhất là ở đời sau. Nếu chúng
ta thực hành pháp niệm Phật này, đúng như lời Phật dạy,
cho đến " nhất tâm bất loạn" thì sau khi lâm chung, sẽ sanh
về Tịnh độ,được luôn luôn thấy Phật nghe pháp, làm bạn
với thánh hiền, và có đủ nhiều thiện duyên để tiếp
tụctu hành cho đến quả Phật.
2.-Lợi
ích về Lý:
Khi
hành giả niệm Phật được "nhất tâm bất loạn", thì các
vọng tưởng hết, chơn tâm thanh tịnh hiện ra. Chơn tâm không
sanh diệt hư hoại là "Thường",chơn tâm thanh tịnh vắng lặnglà
"Tịch", chơn tâm sáng suốt vô cùng là " Quang".cảnh "Thường-Tịch-Quang
Tịnh-độ" chỉ ở nơi chơn tâm ta, chứ không nơi đâu khác.
Lại
nữa, chơn tâm không hoại diệt là"Phật Vô-lượng-thọ";
chơn tâm chiếu soi vô tận là "Phật Vô-lượng-quang" và đó
củng tưc là "Thanh -tịnh diệu pháp thân của Phật A-Di-Ðà".
Tóm
lại, người niệm Phật đến khi hết vọng, ngộ nhập được
chơn tâm rồi, thì Phật A-Di-Ðà hay cảnh Tịnh độ cũng chỉ
ở nơi tâm mình hiện ra, chứ không phải đâu xa. Vì thế
nên kinh chép:"Tự tánh Di-Ðà, duy tâm Tịnh độ" là vậy.
Xuyên
qua các đoạn trên, chúng ta thấy pháp niệm Phật được sự
lợi ích vô cùng. Nếu những người không tin có Phật A-Di-Ðà,
có cảnh Tịnh độ mà chí tâm niệm Phật, thì cũng được
nhiều lợi ích như trên.
VI.-
Sự Quy Ngưỡng Và Cầu Sanh Tịnh Ðộ Của Các Vị Bồ Tát
Và Tổ Sư
Chúng
ta đừng tưởng rằng Pháp môn Tịnh độ là một Pháp môn
tầm thường, giản dị chỉ dành riêng cho những người căn
trí thấp-thỏi, hẹp hòi tu hành. Thật ra, mặc dù Pháp môn
này không đòi hỏi hành-giả có một sức hiểu biết thâm
sâu, một trí óc thông minh xuất chúng, nhưng vì nó dễ tu
dễ chứng, hiệu quả chắc chắn nên từ xưa đến nay, rất
nhiều vị Bồ tát và Tố sư đã được thực hành pháp-môn
này để cầu sanh về Tịnh độ. Ngài Văn thù là vị Bồ
tát có một trí tuệ tối-thắng, không ai sánh kịp, thế mà
Ngài cũng phát nguyện sanh về nước Cực-lạc của Phật A-Di-Ðà
như sau:
Nguyện
ngã lâm dục mạng chung thời
Tận
trừ nhất thế chư chướng- ngại
Diện
kiến bị Phật A-Di-Ðà
Tức
đắc vãng-sanh An-lạc sát.
(Tôi
nguyện đến khi lâm- chung, diệt trừ hết cả chướng ngại,
trước mặt thấy được Phật A-Di-Ðà, liền được vãng
-sanh về cõi Cực-lạc).
Các
vị Bồ tát như Ngài Phổ Hiền, Quán-Âm, Ðại-Thế-Chí cũng
đều nguyện sanh về cõi Tịnh độ.
Các
vị Tổ ở các tôn khác, mặc dù hoằng truyền tôn mình, nhưng
cũng vẫn tu về Tịnh độ. Như Ngài Thiên-Thân, tổ của Duy-
thức tôn; Ngài Trí-giả đại- sư, tổ của Thiên -Thai tôn;
Ngài Hiền-thủ, tổ của Hoa -nghiêm tôn; Ngài Nguyên -Chiếu
luật sư, tổ của Luật tôn; Ngài Mã-Minh, Long -Thọ, tổ của
Thiền-tônv.v.. .cũng đều thực hành pháp môn Tịnh độ.
Sau
nữa, các vị Ðại sư danh tiếng ở Trung Hoa, như Ngài Ðàm
Loan, Ngài Ðạo Xước, Ngài Thiện đạo, Ngài Thừa Viễn,
Ngài Pháp-Chiếu, Ngài Thiếu-Khương, Ngài Tĩnh-Am v.v..đều
dùng pháp-môn này để tự độ và độ tha, và mãi mãi lưu
truyền cho đến ngày nay.
VII.-
Kết Luận.
Chúng
ta đã biết qua tôn-chỉ, đặc điểm phương pháp tu hành và
giá trị của Tịnh- độ tôn. Ðến đây chúng ta cần phải
lắng tâm suy xét kỹ lưỡng, xem phương pháp tu về Tịnh độ
tôn này, có thiết thực lợi ích và có thích hợp với chúng
ta không. Trong phút giây quan trọng này, chúng ta hãy hết sức
thành thực: nếu chúng ta nhận thấy phương pháp tu này rõ
ràng không thích hợp với chúng ta, thì chúng ta có quyền chờ
đợi lựa chọn một phương pháp khác. Nhưng chúng ta nhận
thấy nó có một giá trị thiết thực, lợi ích chắc chắn
cho đời chúng ta trong hiện tại và mai sau, thì chúng ta đừng
chần chừ gì nữa, hãy hạ thủ công- phu ngay. Thời gian vùn
vụt trôi qua, chẳng chờ ai cả. Hãy chuẩn bị ngay ba món
tư-lương là Tín, Nguyện, Hành và tinh-tấn thực-hành các
phương pháp niệm Phật.
Với
thái độ thiết tha chân thành, một quyết tâm không thối
chuyển, chúng ta chắc chắn sẽ niệm Phật đến chỗ ''Nhất
tâm bất loạn''.
3.-
Thiền Tông
A.-Mở
Ðầu
Thiền
tôn thuộc cả Ðại Thưà và Tiểu Thừa.củng như bao nhiêu
tôn phái khác trong Phật Giáo, vị khai sáng đầu tiên của
Thiền tôn vẫn là đức Phật. Trước Ngài , sự tham thiền
nhạp định của các ngoại đạo không phải là không có.
Nhưng đến Ngài, phương phápthiền định mới đạt đến
chỗ rốt ráo. Như chúng ta đều biết qua lịch sử cúa Ngài
, sau khi xuất gia, đức Phật đã trãi qua nhiều năm đi tìm
đạo và tu khổ hạnh, nhưng vẫn chưa đạt được đạo quả
như ý muốn. Ngài tự bảo cái đạo ấy không phải đi tìm
đâu xa mà chính phải tìm trong trí huệ sáng suốt của Ngài
. và từ đó, luôn trong 49 ngày đêm dưới cội Bồ Ðề, Ngài
đã ngồi thamthiền nhập định cho đến khuya mồng 8 tháng
chạp âm lịch, lúc sao mai vừa mọc thì Ngài "Minh tâm kiến
tánh", chứng được đaọ quả Bồ -đề,. Ðó là một cuộc
nhập định vô tiền khoáng hậu, mở đầu cho một pháp môn
vô cùng hiệu nghiệm của đạo Bồ đề. Và từ đấy về
sau, một tôn giáo riêng đã được thành lập. Ðó là Thiền
tôn.
Sao
gọi là Thiền tôn?-Thiền tôn là một tôn phái của Phật
Giáolấy pháp môn tham thiền nhập định làm căn bản tu hành.
Chữ
"Thiền " là do chữ "Thiền-na", một tiếng Phạn, phiên âm
theo tiếng Trung Hoa và dịch nghĩa là định lự ( định các
tự lự). Hiệp chungcả tiếng Phạn và tiếng Trung Hoa, thành
ra chữ Thiền định.
Có
chỗ giải: Chữ " Thiền", xưa dịch tư là " tư duy", nay dịch
là " Tịnh lự". Tư duy có nghĩa là suy nghiệm, nghiên cứu,
suy tầmnn đối tượng của tâm thức ( tức là chỉ) để
cho tâm thể được sáng tỏ.
Chữ
"Ðịnh" nguyên tiếng Phạn là Samadhi, người Trung Hoa phiên
âm là Tam muội, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một cảnh
duy nhất không cho tán loạn.
Hợp
hai chữ Thiền và Ðịnh, chúng ta có một nghĩa chung như sau:Tập
trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất, không cho tán
lọan, để cho tâm thể được vắng lặng, tâm dụng được
sáng tỏ, mạnh mẽ, đặng quan sát và suy nghiệm chơn lý.
Phương
pháp thiền định có hai cách:
1.-Tham
cứu về lý thiền, để cầu minh tâm kiến tánh, tỏ ngộ
đạo quả, nên gọi là " Tham thiền", như tham cứu câu thoại
đầu (câu nói thiền) v.v..
2.-Tậủp
trung tư tưởng để quan sát cho sáng tỏ chân lý về một
vấn đề gì như quán bất tịnh, quán từ bi v.v..nên củng
gọi là " Quán tưởng".
Có
chỗ gọi là tu " Chỉ quán"hay tu" Ðịnh huệ". Chỉ là đình
chỉ các vọng tưởng, không cho khởi động, tưc là định.
Quán là quan sát cho sáng tỏ một vấn đề gì tức là Huệ.
"Chỉ"
là nhơn, mà "Ðịnh là quả.
" Quán
là nhơn", mà "Huê " là quả.
Chủ
Trương Của Thiền Tông
Tất
cả chúng sinh, trãi qua bao đời kiếp, phải trôi lăn trong
biển khổ sanh-tử luân hồi vì bị vô minh mê hoặc.
Tại
sao lại có vô minh mê hoặc? chúng ta hằng ngày bị thất-tình
(1), lục-dục (2), bát phong (3), xuy động, làm cho tâm tánh
chúng ta phải bị mờ ám; cũng như ngọn đèn bị thổi leo
lét, không sáng tỏ được, để phá tan cái hắc ám ở chung
quanh và soi sáng cảnh vật. Ðèn tâm của chúng ta không giờ
phút nào chẳng bị gió lục-trần (4) làm chao động. Vì đèn
tâm chao động (không định) nên ánh áng trí huệ không thể
tỏa ra; và ánh sáng trí huệ không tỏ sáng, nên khỗng xé
tan được mây vô-minh hắc ám ở chung quanh và không chiếu
soi chơn lý của vũ-trụ.
(1)
Thất-tình: Mứng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn.
(2)
Lục-dục: Những sự tình dục do lục-căn sanh ra.
(3)
Bát-phong: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc.
(4)
Lục-trần: Sáu trần-cảnh là: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp.
Vậy
hành-giả muốn rỏ chơn lý của vũ trụ, muốn được minh
tâm kiến tánh thành Phật, thì phải phá trừ mây vô minh hắc
ám. Muốn phá trừ vô minh hắc ám, hành-giả phải làm sao
cho đèn trí huệ của mình được sáng tỏ. Muốn thế hành-giả
phải tu thiền-định. Tâm có định, mới phát sinh trí-huệ.
Trí-huệ có phát sinh mới phá trừ được vô minh hắc ám,
và với minh tâm kiến tánh thành Phật.
Mới
nghe qua chủ trương của Thiền-tôn, chúng ta thấy không có
gì mới lạ, và tưởng là dễ dàng quá; nhưng khi thực hanh
thì lại không phải dễ dàng như thế. Trái lại, phép tu thiền-định
rất khó, phải thường có thiện-hữu tri-thức dắt-dẫn,
phải tốn rất nhiều công phu và kiên-nhẫn, phải trải qua
một thời gian lâu dài, mới thu được kết quả.
B.-Các
Loại Thiền Ðịnh
Thiền-định
có nhiều loại, nhiều thứ. Có thứ chánh, thứ tà, có thứ
sâu, thứ cạn, có thứ thiền của ngoại-đạo, có thứ thiền
của phạm-phu, có thứ thiền của Tiểu-thừa, có thứ thiền
của Ðại-thừa.
Hãy
nghe Ngài Tôn-Mật Thiền-sư dạy: '' ...Người muốn cầu Thánh-đạo,
tất phải tu thiền ''. Chơn-tánh không có dơ và sạch, thánh
và phàm. Song thiền-định có cạn và sâu, từng bực không
đồng:
- Người
tà-kiến, chấp trước sao lạc, ưu cõi trên, chán cõi dưới
mà tu Thiền là ngoại đạo thiền;
- Người
chánh tín nhơn quả, nhưng cũng dùng sự ưa cõi trên chán cõi
dưới má tu thiền, là phàm phu thiền;
- Người
biết rõ lý '' ngã không'' mà tu thiền là Tiểu-thừa thiền;
-Người
ngộ được lý''ngã, pháp dều không'' mà tu thiền, là Ðại-thừa
thiền;
-Người
đốn ngộ tự tâm, xưa nay vốn thanh-tịnh, không có phiền
não, đầy đủ trí huệ vô-lậu, tâm ấy tức là Phật, rốt
ráo không khác; y theo tâm ấy mà tu thiền là Tối Thượng
thừa thiền, củng gọi là ''chơn như tam muội''
Vì
thiền có nhiều loại khác nhau như thế, nên trướ khi muốn
thực hành cho đúng đắn chúng ta cần biết sơ lược các
lối tu thiền, để khiỏ lạc vào đường nguy hiểm.
I.-
Ngọai Ðạo Thiền
Trong
phần ngoại đạo thiền này, chúng tôi muốn nói đến các
loại thiền của ngoại đạo như đạo Tiên, đạo Bà la môn,
các lối thôi miên, và những tà thiền định với mục đích
không chơn chánh.
Sao
gọi là không chơn chánh? -Theo quan niệm của đạo Phật thì
những hành động gì không nhằm mục đích trau dồi tâm tánh,
dẹp trừ phiền não hữu lậu, để cầu giải thoát sanh tử
luân hồi, đều không là chơn chánh. Dựa vào quan niệm trên
mà phê phán thì những tà thiền định hay những loại thiền
định của ngoại đạo đều không chơn chánh; vì những người
tu theo lối thiền định nầy chỉ nhắm mục đích cầu được
sống lâu, cầu được khỏe mạnh, được thần thông biến
háo để dạo chơi thế giới,được những phép lạ, huyền
bí để cám dỗ, mê hoặc người, hay được thần tiên để
hưởng lạc thú tiêu diêu nơi tiên cảnh...
Bởi
họ dụng tâm không chơn chánh, tu phương pháp không chơn tánh,
nhắm mục đích thiển cận, bề ngoài và bị các phiền não
tham, sân, si, làm động cơ thúc đẩy, nên các laọi thiền
của họ không rốt ráo và toàn thiện được. Trước tiên
chúng ta hãy nói đến các tà thiền định.
1.-
Tà thiền định: Ðọc các loại sách xua, chúng ta thường
nghe nói đến các loại cầm thú như: bạch xà, chồn cáo,
qui, khỉ, vượn...tu luyện lâu năm trong rừng sâu núi thẳm,
cuối cùng củng có những phép thần thông, biến hóa. Nhưng
mục đích của chúng là cầu cho được nhiều phép tắc để
được ggần phụ nữ, nhiễu hại nhơn dân, hớp hồn hớp
via người lương thiện, để thỏa mãn thú tánh. Ðó là những
loài yêu tinh quỷ quái, mà ngày nay theo con mắt nhà khoa học
thì khó có thể tin được là có. Nhưng có lẽ những người
xưa muốn đặt ra câu chuyện yêu tinh quỹ quái như thế, để
ngụ ý các loài thú, nếu tu luyện lâu năm củng có thể phép
thuật hơn người. Nhưng bởi chúng thiếu lòng nhân, thiếu
thiện tâm cho nên phéúp thuật càng cao cường bao nhiêu càng
gây tai họa bấy nhiêu.
Chúng
ta củng thường nghe thầy phù thủy luyện thiên linh cái (đầu
lâu). Họ củng tập trung tư tưởng, luyện phép tịnh tâm,
và khi thành tâm, và khi thành công củng sai được âm binh
bộ hạ, được ma quỷ mách bảo cho các việc quá khứ, vị
lai ...mà củng tác oai, tác oai không ít.
Ðó
cũng là do tu định cả, nhưng bởi dụng tâm tà, nên gọi
là thiền định, và kết quả là có hại cho mình và nhân
quần xã hội.
Chúng
ta hãy nghe lời Phật dạy.Ngài A-Nan trong kinh Lăng nghiêm về
các lồi tà thiền định:
" ..A-Nan!
Nếu ông tu thiền định mà không đoạn lòng dâm, thì quyết
đọa vào ma đạo, bực thượng thành ma chúa, bực trung thành
ma dân bự hạ làm ma nữ. Vì gốc của nó là dâm, thì làm
sao khỏi sanh tử luân hồi được?. "
''...A-Nan
! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn đoạn tân sát hại,
thì chỉ đạo vào thần đạo; bực thượng thành đại lực
quỉ, bực trung làm phi hành dạ xao và các quỉ tướng soái,
bực hạ làm địa hành La sát và các quỉ thần...''
''...A-Nan
! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn trừ tâm trộm cướp
thì quyết đọa vào tà đạo; bực thượng thành loài yêu
tinh, bực trung làm ma quỉ, bực hạ làm người tà bị các
tà ma nhập (đồng bóng)...''.
2.-Thiền
định của đạo Tiên: Theo các kinh sách của đạo tiên để
lại, như kinh Huỳnh-đình, hay bộ Tánh mạng khuê chỉ v.v..thì
con người sở dĩ sống được và minh mẫn là nhờ có đử
ba món: tinh, khí và thần. Tinh , khí là chủ cúa xác thân;
Thần là chủ của mạng sống. Hể tinh thần lục dục quá
mạnh thì tinh khí hao mòn: tinh khí hao mòn thì thân bị che
lấp tối tăm, con người mất sáng suốt. Vì thế cho nên phải
trừ dục tình để dưởng tinh, luyện khí cho thân được
cởi mở và phát hiện.
" Tiên
đạo cho rằng khắp giáp thân thể con người đều có những
cái huyệt, tức là những lỗ thông khí âm dương; huyệt ở
chót bàn chân gọi là chi âm; huyệt ở đỉnh đầu là thiên
thông. Khí đi trở lên là dương khí, khí di xuống là âm khí.
Người
tu tiên cốt luyện cho âm khí mất đi, chỉ còn cái khí thuần
dương đi lên đỉnh đầu, tức là có thần thông và đắc
đạo. Vì sao phải trừ bỏ khí âm? Bởi vì âm khí là trược
khí, làm cho nặng nề, tối tăm, ưa thích điều dâm dục ,
làm hao tổn tinh thần. Hể tinh thần hoằng dương tổn thì
cái thần là cái linh động sáng suốt nhất, cũng là cái thông
hiệp với trời đất, bị bế tắc". Vậy nên, kẻ phàm là
kẻ còn nặng khí âm, còn bậc tiên chỉ còn là khí thuần
dương mà thôi (1).
''Ðể
luyện khí, người tu tiên có nhiều phép tu gần giống như
phép tọa thiền, nghĩa là ngồi ở một nơi thanh tịnh, rồi
tập luyện các phép như: ''Tọa công'', ''Giao thiên trụ'',
''Thiệt giải thấu yết''.v.v..
Tóm
lại những người tu theo đạo này, nếu chuyên tâm trị chí
tập trung tư tưởng, luyện ''Tinh'' hóa ''Khí'', luyện ''Khí''
hóa ''Thành'', sau khi đã thuần thục, cũng được năm phép
thần thông biến hóa. Họ trở thành tiên, có thể xuất thần
bay đi dạo chơi các Thế giới. Hoặc họ hứng nước mặt
trăng, luyện linh đơn để trị bệnh hay để uống cho được
trường sinh bất tử thành địa tiên.
Những
vị tiên này, rất tiếc là ngày nay, chúng ta không được
thấy nên không dám chắc là có hay không. Nhưng dù có có đi
nữa, thì trên lý thuyết, các vị này vì chưa được lậu
tận thông, ''phiền não hữu lậu chưa hết'' nên khi phiền
não rối lên họ cũng bị đọa trở xuống, khi trường hợp
ông Uất-Ðầu-Lâm-Phách, hay ông Ðộc -Giác-Tiên-Nhân.v.v...Hơn
nữa dù họ có luyện cái thân mình cho được trường sanh
bất tử cũng không thể toại nguyện được, vì cái thân
này là tứ đại giả hiệp, tất phải bị luật vô thường
chi phối, không thể sống vĩnh viễn được. Nó lại là cái
đãy gia chứa các vật bất tịnh thì dù có cưng dưỡng cho
mấy rốt cuộc rồi cũng bị tan rã. Bởi lẽ đó người tu
hành phải xem nó như cái bè đưa qua sông, khi qua sông rồi,
chẳng nên mến tiếc cái bè mà chẳng chịu lên bờ.
Trong
bộ Qui-nguyên Trực chỉ, có kể chuyện ông tiên Lữ Ðồng
Tân, học trò của Tiên Hớn Chung Ly, sau khi đấu phép với
NgŽài Huỳnh Long hòa thượng bị thua, ông đã bỏ đạo
Tiên theo đạo Phật. Lý do sự đầu Phật là vì ông Lữ Ðồng
Tân tự nhận thấy mình đã dụng tâm sai và đã đi lầm đường
tu hành. Do đó, ông đã làm bài thơ sau đây để nói lên sự
sai lầm của ông:
Nguyên
văn:
Khí
khước biều nan, kích tý cầm
Như
kim bất luyến hống trung câm
Từ
tùng nhất kiến Huỳnh long hậu
Thì
giác tùng tiên thố dụng tâm
Dịch
nghĩa:
Bỏ
lầu Linh dược ném đờn cầm.
Tôi
nay chẳng tiếc nước miếng vàng (2)
Từ
khi gặp Huỳnh Long hòa thượng
Mới
biết từ trước dụng tâm sai.
(xem
quyển Lữ Ðồng Tân đầu Phật)
(1)
"Yoga và tọa thuyền" trong đại chúng tuần sau, số 219
3.-Luyện
Du già (Yoga). Yoga là một danh từ Ấn, gốc là chữ Yuj; Tàu
dịch là Du già, nghĩa đen là ''tự đặt mình dưới một cái
ách''; nghĩa bóng là ''tự trói buộc cả tinh thần, thể xác
vào một quy luật khắc khe'' tự kiềm chế mình theo một kỷ
luật đặc biệt, mà mục đích là tập trung toàn thể thân
tâm làm một với bản thể của trời đất.
Du
già cũng gọi là thuật luyện khí của Ấn độ, gần giống
thuật luyện khí của đạo Tiên. Theo thuyết Du già trong thân
thể con người có rất nhiều huyệt; trong số ấy có bảy
huyệt từ hậu môn lên tới đỉnh đầu là quan trọng nhất.
Bảy huyệt ấy nằm dài theo xương sống, và có một đường
lên một đường xuống thông nhau. Vì sự si mê và các thứ
dục vọng che lấp cho nên bảy huyệt ấy bị chướng ngại,
khiến cho cái ''chơn quả'' từ dưới ''hỏa hậu'' (chổ hậu
môn) không thể lên được. Nhất là vì thân thể không luyện
tập, xương sống bị cong đi, các huyệt do đó bị bế tắc.
Vậy muốn cho hoả hậu (tức là cái thần lực trong con người)
được thông qua các huyệt, lên tới đỉnh đầu thì phải
chú tâm luyện cho xương sống giản ra, các khớp xương được
thông và thẳng.
Ðể
đạt được mục đích nói trên, người luyện Du già phải
tập nhiều tư thế, như tư thế ''giản lưng '' tư thế ''lưỡi
cày'', tư thế ''trồng chuối'' (trút đầu xuống dưới, trở
chân lên trên trời), để cho hỏa hậu dể lưu thông tới
đỉnh đầu.
Ngày
nay Du già được phổ biến qua các nước Âu -Mỹ, gần như
một phong trào. Phần đông cho đó là một phương pháp thể
dục, để luyện cho thân thể được khỏe mạnh, trí huệ
được sáng suốt, để tính toán và làm việc được nhiều
và hiệu quả. Một số người đi xa hơn, muốn luyện Du già
để được sống lâu, trẻ mãi, vượt ra khỏi những sự
đòi hỏi của xác thân đầy dục vọng, thoát ra ngoài những
nỗi lo âu, sợ sệt hằng ngày và sống một cuộc đời an
vui, tự tại. Lại có một hạng người khác mong rằng Du già
sẽ làm cho họ khám phá những năng lực tiềm tàng ẩn núp
trong con người và làm cho họ trở thành những nhân vật phi
thường, có những thần thông biến hóa, phép mầu chước
lạ, họ cũng tập trung tư tưởng, định tâm chú ý như các
lối tu thiền định; ngoài ra họ còn có tu tập một cách
rất khổ sở, hành hạ thân xác, bắt nó chịu đựng những
thử thách cực độ, như phơi nắng dầm sương, ngồi trên
chông gai, đứng bằng hai tay, treo chân lên cổ, nhịn đói,
nhịn khát,v.v...đó là những đạo sĩ người Ấn Ðộ thường
gọi là ''pha-kia'' (fakir).
Những
người này khi tu đến mức độ cao, cũng có được những
phép lạ, như dao chém không đứt, đâm không thủng, nhai ve
chai, uống axit không sao, nằm ngũ một giấc luôn trong 3 tháng
không ăn, không uống .v.v...
Nhưng
dù họ thành công bao nhiêu đi nữa, thì cũng không thể thoát
ngoài vòng trần tục liễu xanh thoát tử và minh tâm kiến
tánh được
''Yoga
và tọa thiền'' trong Ðại chúng tuần san, số 219
''nước
miếng vàng: đối với người tu Tiên, thì nước miếng rất
quí họ không bao giờ nhổ vì sợ tổn khí, và dùng nước
miếng của mình để luyện linh dược.
(1)
Nước miếng vàng: Ðối với người tu tiên, thì nước miếng
rất qúy, họ không bao giờ nhổ vì sợ tổn khí, và dùng
nước miếng của mình để luyện thành linh dược
4.-
Luyện thôi miên. đây cũng là một lối tu thiền của ngoại
đạo, hiện nay rất thịnh hành trên thế giới. Nguyên tắc
của phương pháp tu luyện này cũng là vận dụng tập trung
tư tưởng vào một chỗ để cho tinh thần có sức mạnh sai
khiến được sự vật. Người tập thôi miên, lúc mới đầu
ngồi yên một chỗ, nhìn chăm chú vào một chấm đen vẽ ở
trên tường, để cả tâm trí tập trung vào đó, ngoài ra không
còn để ý vào một sự vật gì ở chung quanh nữa. Họ ngồi
tập hàng giờ như thế, bao giờ tinh thần không còn tán lọan
nữa, và có đủ sức mạnh để sai sử kẻ khác là họ thành
công. Những người thôi miên giỏi, có thể dùng thôi miên
để trị lành bệnh hay sai sử những người khác làm những
chuyện phi thường, như xuất thân đi đến một xứ khác để
thăm bà con, kể lại việc quá khứ hay tiền thân của một
người khác.v.v...
Tóm
lại, nhờ luồng điện tinh thần đã được tập trung thành
sức mạnh, người thôi miên có thể bắt người khác làm
những việc kỳ lạ theo ý muốn của mình. Nhưng vì lợi dụng,
tâm không chơn chánh, chỉ tham cầu những điều huyền bí,
mầu nhiệm bên ngoài, không lo dẹp trừ phiền não, hữu lậu,
trau dồi tâm tánh bên trong, để được minh tâm kiến tánh
nên không phải là chánh đạo. Ðến khi phiền não hữu lậu
nỗi lên hoặc nhiễm sắc tham tài.v.v...thì các thần thông,
diệu dụng đều mất hết. Bởi thế nên Phật dạy các đệ
tử: ''ngộ được đạo thì tự nhiên sẽ có các thần thông.
Nếu được thần thông mà chưa ngộ được đạo thì thần
thông ấy có khi bị mất''.
II.-
Phàm Phu Thiền.
Phàm
phu thiền cũng gọi là thế gian thiền. Sở dĩ gọi là phàm
phu hay thế gian thiền là vì các pháp thiền này chưa có thể
đưa hành-giả ra ngoài tam giới, chưa chứng được thánh quả,
mà vẫn còn quanh quẩn trong vòng phàm phu hay thế gian. Các
pháp như Tứ thiền, Tứ không.v.v...đều thuộc phàm phu thiền.
1.-
Tứ thiền tức là 4 giai đoạn tham thiền của phàm phu, đi
dần từ chổ nhàm chán cái vui thô thiển đến cái vuivi tế
thanh tịnh. Bốn giai đoạn tham thiền này tuần tự diễn tiến
như sau:
a.-Sơ
thiền, ly sanh hỷ lạc.-Hành giả khởi đầu bằngg tâm lý
nhàm chán cái ô trược của cỏi Dục, và mong cầu được
xa lìa(ly) được cái ô trược của Dục giới, hành giả sanh
vui mừng (sanh hỷ lạc). Ðó là kết quả của giai đoạn tham
thiền đầu tiên (sơ thiền).
b.-
Nhị thiền, định sanh hỷ lạc.-Nhưng cái vui nói trên, lại
làm cho tâm chao động, cần phải dứt trừ; vì thế hành giả
phải vào định. Khi định có kết quả, cái vui mừng thô
phù của sơ thiền chấm dứt và cái vui mừng vi tế trong định
lại nãy sanh; vì thế cho nên gòila" Ðịnh sanh hỷ lạc".
c.-Tam
thiền, ly hỷ diệu lạc.-Cái vui mừng ở cõi nhị thiền mặc
dù vi tế, nhưng vẫn còn làm cho tâm rung động, vì thế hành
giạlai cần bỏ cái vui mừng ở cõi nhị thiền. Khi bõ được
cái vui mừng này, thì một nỗi vui mầu nhiệm khác lại phát
sinh; vì thế cho nên gọi"Ly hỷ diệu lạc".
Trong
các kinh thường chép:Cõi tam thièn là vui hơn hết (diệu lạc),
vì ở các cõi dưới thì chỉ có vui thô động, còn ở các
cõi trênthì chủ là tịch tịnh, không còn vui nữa.
d.-Tứ
thiền, xả niệm thanh tịnh.-Ở cõi tam thiền, tuy đã hết
cái vui thô đọng của Sơ thiền và Nhị thiền; nhưng vẫn
còn cái vui mầu nhiệm. Nhưng hễ còn niệm vui, thì tâm chưa
hoàn toàn thanh tịnh. Hành giả lại phải còn tiến lên một
bậc nữa, đi vào cái thiền thứ tư, xã luôn cả cái niệm
vui, để tâm được hoàn toà thanh tịnh, vì thế nên gọi
là"Xã niệm thanh tịnh".
2.-Tứ
không định.-Sau khi đã trãi qua Tứ thiền và đã thành tựu
viên mãn, hành giả tiếp tục tu thiền định và sẽ trãi
qua bốn giai đoạn gọi là tứ không định sau đây. Sở dĩ
gọi là tứ không, vì khi vào bốn định này, thiên giả sẽ
không còn thấy có cảnh thức tâm nữa.
Không
vô biên xứ định.-Thiền giả khi đã đạt được tứ thiền,
tâm đã được hoàn toàn thanh tịnh, nhung vaãn còn thấy có
sắc giới, còn thân còn cảnh và bị nhình săc trói buộc,
nên sanh tâm nhàm chán. Ðể rời bỏ các hình sắc về thân
và cảnh, thiền giả vào định thứ nhất của tứ không,
thể