Khóa
Thứ Sáu
Triết
Lý Ðạo Phật
hay
là Ðại Cương Kinh Lăng Nghiêm
Bài
Thứ Nhất
A.-
PHẦN DUYÊN KHỞI
B.-
PHẦN CHÁNH ĐỀ
I.-
Nguyên nhơn Phật nói kinh
II.-
A Nan cầu Phật dạy phương pháp tu hành, lần thứ nhất.
III.-
Phần lược giải:
1.
Định danh và giải nghĩa tên kinh.
2.
Nội dung kinh Lăng Nghiêm
A.-
PHẦN DUYÊN KHỞI
Người
đến đô thành lạ, nếu chẳng có bản đồ, thì không sao
khỏi lầm đường lạc nẻo. Người đi trong biển khơi diệu-vợi,
sóng dồi gió dập, lênh đênh giữa biển, nếu không có kim
chỉ-nam, thì không dễ vượt qua mấy vạn trùng dương, trở
về xứ sở. Người đi đánh giặc, nếu không có binh thơ
đồ trận, không hiểu chiến thuật, chiến lược, thì không
sao thắng được giặc, đem trở lại trật tự an ninh cho nước
nhà, và giữ gìn non sông cẩm tú. Kẽ làm thợ nếu chẳng
có mực thước, thì không sao làm thành món đồ có giá trị
được.
Người
tu hành cũng thế, nếu không hiểu được lối thắng, khúc
quanh, chỗ đèo ải gay go, nơi hố hầm nguy hiểm trong đường
lối tu hành, lớp lang chứng đạo, thì không sao khỏi lạc
vào nẻo tà, sa nơi ác đạo.
Kinh-Lăng-Nghiêm
là một bộ kinh quý báu vô cùng, chỉ đường lối tu hành
một cách rành mạch, nào là giáo, lý, hạnh, quả đều rõ
ràng. Người tu phải trải qua bao nhiêu địa vị, trong khi
tu gặp những đều nguy hiểm thế nào, mà phải làm sao mới
tránh khỏi những điều nguy-hiểm ấy, thì trong Kinh-Lăng-Nghiêmdạy
hết sức rõ ràng.
Nói
đến Kinh-Lăng-Nghiêm, hàng Phật tử ai chẳng nghe tiếng là
một bộ kinh Đại -thừa, vừa hay nhứt, mà cũng vừa quý
nhứt. Người tu hành hiểu được Kinh-Lăng-Nghiêm, chẳng khác
nào người bộ hành có bản đồ, kẻ thủy thủ có kim chỉ
nam, người thợ có dây mực, cây thước, kẻ chiến sỹ có
binh thư đồ trận.
Vì
Kinh-Lăng-Nghiêm quý giá như thế, nên thuở xưa các vị vua
Ấn Độ cho là một quốc bảo, giữ gìn nghiêm ngặt không
cho truyền bá ra ngoài. Trong lúc ấy bên Tàu, có Ngài Thiên-thai
Trí-giả Đại-sư, được nghe Kinh-Lăng-Nghiêm quý báu như
vậy, nên mỗi ngày hai lần sớm chiều xây mặt về phía Tây
(Ấn Độ) quỳ lạy cầu khẩn cho Kinh-Lăng-Nghiêm được sớm
truyền bá qua Tàu, để lợi ích quần-sanh.
Cách
100 năm sau, có Ngài Báy-thích-Mật-đế , người Ấn Độ,
đã nhiều lần tím cách đem Kinh-Lăng-Nghiêm đến truyền bá
tại Trung Hoa, nhưng không kết quả, vì luật nước nghiêm
cấm, kiểm soát rất chặt chẽ.
Đến
lần cuối cùng, Ngài viết kinh trong tấm lụa mỏng, rồi cuốn
lại, xẻ thịt bắp vế nhét vào, băng lại làm như người
có ghẻ, mới đem ra được khỏi nước.
Chúng
ta nên nhớ tưởng lại kỳ-công "Vị pháp vong xu" của Ngài
Bát-Thích-Mật-Đế. Thử nghĩ: Một cây cỏ cắt vào gia còn
đau; một mụt ghẻ con, còn biết nhức; huống chi xẻ một
đường dài nơi bắp thịt, nhét cho được một cuốn lụa
con, trải qua bao nhiêu ngày, từ Ấn Độ sang đến Trung Hoa.
Nếu không may bị tiết lộ thì phải tử hình. Như thế chúng
ta đủ thấy sự quý báu của Kinh-Lăng-Nghiêm là dường nào!
tâm vì đạo quên mình của Bồ Tát Bát-thích-mật-đế đáng
cho chúng sanh trọn đời bái phục.
Khi
Ngài Bát-Thích-Mật-Đế đem Kinh-Lăng-Nghiêm này qua Tàu, đến
đất Nam-thuyên, gặp quan Thừa-tướng tên Phòng-dung, là bực
bác học uyên thâm, lại có lòng mộ Phật, nên Ngài triønh
bày với Thừa-tướng, vè giá trị của Kinh-Lăng-Nghiêm mà
Ngài đã huyền diệu sinh mang đến.
Quan
Thừa-tướng Phòng-dung nghe nói rồi hết sức mừng rỡ, cho
là đặng một vật báu chưa từng có. Nhưng khi đem cuốn lụa
ra thì, vì bị máu mũ bám vào lâu ngày, nên mất cả chữ
nghĩa.
Một
bà có công lớn trong việc này, là Phu-nhân của Thừa-tướng
Phòng-dung. Bà đem cuốn lụa ấy nấu với một chất hóa học,
thì máu mũ đều theo nước mà tan đi, chỉ lưu lại các nét
mực, nên còn thấy để phiên dịch.
Quan
Thừa-tướng thỉnh Ngài Bát-Thích-Mật-Đế dịch chữ Phạn
ra chữ Tàu. Ngài Di-Già-Thích-Ca dịch từ ngữ, còn quan Thừa-tướng
nhuận-sắc. Bởi thế nên Kinh-Lăng-Nghiêm chẳng những nghĩa
lý rất hay, mà văn chương còn tuyệt diệu! Từ xưa các học
giả, không những trong đạo Phật, mà cả đạo nho, các đại
gia văn chương, một phen xem đến Kinh-Lăng-Nghiêm, đều kính
phục và vô cùng khen ngợi cái nghĩa lý cao siêu, và văn chương
tuyệt diệu của kinh.
B.-
PHẦN CHÁNH ĐỀ
I.-
NGUYÊN NHÂN PHẬT NÓI KINH LĂNG NGHIÊM
Theo
lệ thường, mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, là ngày mãn
hạ, chư Tăng cùng trong tự tứ, để rữa sạch những hành
vi lỗi-lầm và những tưởng không tốt, cho giới thể được
thanh tịnh, vì trong ba thánh kết hạ an cư, chư Tăng đều
thúc liễm thân tâm, trau giồi giới hạnh , tích công lũy đức,
nên đến ngày mãn hạ, các hành Phật tử cư sĩ đều đua
nhau sắm đũ các món trai diên, thỉnh như tang đến cúng dường,
để gieo trồng cội phúc.
Hôm
ấy, nhằm ngày hút nhựt của Tiên-Hoàng, nên vua Ba-Tư-Nặc
sắm đủ các món trân tu mỹ vị rất linh đình, rồi chính
vua thân hành đến rước Phật và chư Tăng về cúng dường.
Cũng
hôm ấy, các hành trưởng giả, cư sĩ đều sắm đủ thức
cơm chay, cung thỉnh chư Tăng đến cúng dường. Phật bảo
Ngài Văn-thù chia ban, để đi đến từng nhà thọ cúng.
Trong
lúc ấy, ông A-nan ví đã chịu người thỉnh riêng trước,
nên trở về chẳng kịp để dự vào hàng chúng Tăng thọ
cúng .
Ông
mang bình bát đi vào thành, oai nghĩa,i tề chỉnh, bộ điệu
chẫm rãi, qua từng nhà một để khác thực. Vơi tâm bình
đẳng, ông muốn làm phước điền cho tất cả mọi người,
không phân biệt bậc quý phái hay hạng bình dân. Ông chỉ
mong gặp những người chưa biết làm phước, hôm nay phát
tâm cúng dường, để họ được ương trồng hạt giống lành,
dặng ngày sau hưởng quả.
Vì
lòng từ bi bình đẳng không lựa chọn, nên ông tuần tự
trải qua các xóm làng. Không may ông gặp nhà tín-nữ ngoại
đạo, tên Ma-Đăng-Già, dùng phép huyễn thuật là thầnchú
của Ta-Tỳ-Ca-La Tiên Phạm-thiên, bắt vào phòng, dùng đủ
lời dịu ngọt, vuốt ve mơn trớn, ép uổng về tình duyên!....
A-nan
bị nạn, hết sức buồn rầu! Ông chắp tay niệm Phật, hướng
về Đức Chí-tôn cầu cứu ! ...Phật biết A-nan bị nạn,
nên khi thọ trai xong không kịp thuyết pháp, liền trở về
tịnh xá ngồi kiết-gìa, nên đảnh phóng hòa quang ấy có
ngàn cánh, trên hoa sen có đức Hóa Phật ngồi kiết-già, nói
thần chú Lăng-Nghiêm ( mỗi buổi khuya các chùa đều tụng)
.
Phật
bảo Ngìa Văn-thù đem thần chú ấy đi đến chổ nàng Ma-Đăng-gìa,
để phá trừ tà chú, cứu nạn cho A-nan.
II.-
A-NAN CẦU PHẬT DẠY PHƯƠNG PHÁT TU HÀNH LẦN THỨ NHỨT
Khi
ông A-na được thoát nạn, về đến chổ Phật, cúi đầu
kính lạy, buồn tủi, khóc than và bạch Phật rằng:
-??Bạch
Thế Tôn ! Con từ hồi nào đến giờ có ồng ỷ lại: Con
là em Phật, được Phật thương yêu, chắc chắn Phật sẽ
ban cho con thần thông trí huệ, hay đạo quả Bồ-đề, nên
chỉ lo học rộng nghe nhiều, chẳng cầntu niệm, không ngờ
ai tu nấy chứng, mặc dù con là em của Phật, nếu không tu,
thì cũng bị đọa như ai; học nhiều mà không tu, thì cũng
chẳng có ích gì! Cúi xin Phật rồng lòng từ bi, chỉ dạy
cho con phương pháp nào mà mười phương các Đức Phật tu
hành đều được thành chứng quả ??.
III.-
PHẦN LƯỢC GIẢI
1.-ĐỊNH
NGHĨA VÀ GIẢI NGHĨA TÊN KINH
Khi
đó Phật an ủi A-nan và hứa sẽ dạy phương pháp tu hành
để thành đạo chứng quả, là Kinh-Lăng-Nghiêm. Kinh này đọc
cho đủ là:
"kinh
đại Phật đảnh, Như-lai mật nhơn, tu chứng liễu nghĩa,
chư Bồ Tát vạn hạnh, Thủ Lăng-Nghiêm"; gọi tắt là "kinh
Thủ-Lăng-Nghiêm" tức là kinh nói về chơn tâm.
a.-
Vì kinh này rất quý báu, đã ít có mà lại khó gặp, hành
Tiểu-thừa Thinh -văn và quyền-thừa Bồ Tát không thể thấu
suốt được, nên dụ như cái tướng "Vô kiết đảnh" của
Phật. Vì tướng này rất quý báu và khó thấy, hanhg phàm
phu và Nhị-thừa không thể thấy được.
b.-
Mười phương các Đức Phật đều y theo kinh này mà làm nhơn
tu địa hành mà được thành đạo chứng quả, nên gọi là
"Như lai mật nhơn".
c.-
Y theo kinh này mà tu và chứng thì lối tu chứng ấy mới được
là rốt ráo, nên gọi rằng "tu chứng liễu nghĩa".
d.-
Các vị Bồ Tát tu pháp lục độ vạn hạnh đều y theo kinh
này, nên kinh nầy cũng gọi là "Chư Bồ Tát vạn hạnh".
đ.-
Tóm lại là "Thủ Lăng Nghiêm", Tàu dịch là "Đại định kiên
cố". Nghĩa là cái bản thể chơn tâm sẳn có của tất cả
chúng sanh và chư Phật, nó bao la trùm khắp cả vũ trụ, nên
gọi là "Đại". Tâm ấy thường tịch tịnh không vọng-động
nên gọi rằng "Định". Nó không bị thời gian thay đổi, hay
không gian chuyển dời, thấu xưa suốt nay, bao giờ cũng vẫn
thường như thế, ở nơi bực thánh không thêm, tại phàm cũng
không bớt, như như bất động, nên gọi rằng "Kiên cố".
Chữ
"Kinh" theo nghĩa hẹp là đường chỉ xuôi, tức là đường
canh trong tấmvải. Tấm vải nhờ có đường canh xâu kết
lại các chỉ ngang, mới thành một tấm vải.
Còn
theo nghĩa rộng, chữ "kinh" là xâu tom các lời lẽ và nghĩa
lý của Thánh-hiền làm thành một quyển hay một bộ.
Trong
đạo Phật hay ngoài đời đều có kinh điển. Song kinh Phật
có thêm chữ "khế" nên khác hơn kinh sách ở thế gian.
Chữ
"khế" nghĩa là hợp:
a.-
Hợp căn cơ trình độ của chúng sanh.
b.-
Hợp chân lý.
Chữ
kinh có nghĩa "trường pháp", là một chân lý không thay đổi:
quá khứ Phật nói pháp như vậy, hiện tại Phật cũng nói
pháp như vậy và vị lai Phật ra đời cũng nói pháp như vậy
mà thôi, nên gọi là "thường pháp".
Nói
một cách xác thật hơn:
"Kinh
này chính là tâm của chúng ta".
a.-
Chúng ta sẳn có bản thể chơn tâm thanh tịnh và như như bất
động, thế là nơi ta có "Thủ Lăng-Nghiêm" .
b.-
Y theo chơn tâm này mà khởi tu lục độ muôn hạnh của Bồ
Tát, thì chính là nơi ta có "Chư Bồ Tát vạn hạnh".
c.-
Y theo chơn tâm mà tu, và cũng y theo chơn tâm này mà chứng,
tu chứng như thế mới là rốt ráo, nên gọi là "tu chứng
liễu nghĩa".
d.-
Chúng ta y chơn tâm này làm nhân địa tu hành, sẽ được thành
Phật, nên gọi là "Như-lai mật nhơn".
đ.-
Chơn tâm này rất quý báu, những hàng phàm phu , Tiểu-thừa
và quyền thừa Bồ Tát không ngộ nhập được, nên dụ như
"vô kiến đảnh tướng" của Phật. Chơn tâm chúng ta bao trùm
cả vũ trụ, muôn sự muôn vật không ngoài chơn tâm ta, đó
là nghĩa chữ "kinh".
Mười
chính chữ đầu đề của kinh này: "Đại Phật đảnh, Như-lai
mật nhơn, tu chứng liễu nghĩa, chư Bồ Tát vạn hạnh, Thủ
Lăng-Nghiêm", đã bao hàm toàn bộ kinh, nào là giáo, lý, , hạnh,
quả, thể đại, tướng đại và dụng đại, nhơn địa tu
chứng đều trùm cả, mà rốt cuộc chỉ ở nơi tự tâm chúng
ta sẳn đủ. Bởi ngộ được lý này, nên đức Lục-tổ Huệ-năng
nói rằng:
Không
ngờ tâm mình vốn sẳn thanh tịnh
Không
ngờ tâm mình vốn không sanh diệt
Không
ngờ tâm mình sẳn đủ các pháp
Không
ngờ tâm mình vốn không lay động
Không
ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp.
Đọc
đề mục kinh chỉ có 19 chữ, chúng ta thấy đã vui thú rồi,
vì chính nơi ta sẳn có kinh "Đại Phật đảnh, Như-lai mật
nhơn, tu chứng liễu nghĩa, chư Bồ Tát vạn hạnh, thủ Lăng-Nghiêm".
Chỉ vì chúng ta mê muội nên chẳng nhận được kinh Lăng
Nghiêm của mình. Song nó cũng không mất, khi ngộ được thì
sẽ thành Phật.
2.-
NỘI DUNG KINH LĂNG NGHIÊM
Nội
dung của kinh Lăng-Nghiêm là Phật chỉ dạy cho chúng ta ngộ
được chơn tâm. Chúng ta vì không ngộ được chơn tâm nên
phải vĩnh kiếp làm chúng sanh, trầm luân trong biển sanh tử,
chịu không biết bao nhiêu khổ sở. Còn như Phật thoát ly
sanh tử luân hồi, được tự do giải thoát, thần thông tự
tại, trí huệ vô ngại v.v....đều do các Ngài đã ngộ chơn
tâm, nên mới được như thế.
Nói
cho dể hiểu: Phật với chúng sanh vẫn đồng một thể tánh
chơn tâm, nhưng các Ngài đã hoàn toàn giác ngộ được thể
tánh ấy, nên mới thành Phật. Trái lại, chúng sanh vì mê
muội thể tánh chơn tâm, nên phải bị sanh tử luân hồi.
Nếu chúng sanh giác ngộ chơn tâm, thì sẽ được như Phật.
Ông
A-nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp nào mà mười phương
các Đức Phật đã tu hành và đều được chứng quả, thì
Phật chỉ dạy, phải ngộ "Chơn tâm" mà thôi. Nếu ngộ được
chơn tâm này thì thành Phật. Ngộ được chơn tâm, như người
còn ngủ chiêm bao. Đây là phương pháp duy nhứt mà mười
phương chư Phật tu hành đã được thành đạo chứng quả.