PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
TÂP
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG NÀY CHIA LÀM 3 PHẦN:
1.
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
2.
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG CHÁNH VĂN
3.
PHỤ HAI CÁI BIỂU
LỜI
CỦA DỊCH GIẢ
Phật
ra đời độ sanh gần nửa thế kỷ, thuyết pháp trên 300 hội,nói
ra 84.000 pháp môn, nào quyền, thiệt, đốn, tiệm, các phương
tiện đều dạy bày; chung qui lại chỉ có hai phần: pháp tướng
và pháp tánh. Duy thức tôn là một trong Pháp tướng.
Lý
Duy thức, trong các kinh điển, Phật đã nói nhiều. Về sau
các vị Bồ Tát trích lục lại, sắp xếp theo hệ thống,
có thứ lớp, biên thành sách, lập thành tôn, gọi là pháp
tướng tôn hay Duy thức tôn.
Như
vào khoảng 900 năm, sau khi Phật diệt độ, có Ngài Bồ Tát
Thiên thân, y theo các kinh, viết qua quyển "Duy thức tam thập
tụng" v.v...Đến sau có 10 vị Đại luận sư (1) ra đời, tuần
tự giải thích quyển "Duy thức tam thập tụng" lập thành
mười bộ đại luận. Trong số ấy, bộ sớ giải của Ngài
Hộ pháp là có phần hoàn bị hơn hết.
Đến
đời Đường, ở Trung Hoa có Ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền
Trang, trí tuệ vô saong, thông minh xuất chúng, phát tâm qua
Ấn độ, nghiên cứu Phật pháp 18 năm trường (xem bộ Huyền
Trang của Võ Đình Cường), Ngài rất thông về Duy thức tôn.
Sau khi trở về nước, Ngài phiên dịch rất nhiều kinh sách,
mà quyển "Duy thứ tam thập tụng" của Bôtát Thiên Thân là
một. Ngài lại còn lượm lặt những tinh hoa sớ giải trong
10 bộ luận của 10 vị Đại luận sư, rồi phiên dịch ra
chữ Trung Hoa, làm thành một bộ mười quyển, mệnh danh là
"Thành Duy thức luận".
Đệ
tử lớn của Ngài Huyền Trang là Khuy Cơ, trải qua thời gian
mấy mươi năm hầu Thầy, được đắc truyền về môn Duy
thức học này, nên sớ giải lại bộ "Thành Duy thức luận"
đến 60 quyển, đặt tên là "Thành Duy thức luận thuật ký".
Đến
sau, Ngài Huyền Trang muốn cho người học dễ nhớ, nên làm
12 bài tụng (mỗi bài bốn câu) tóm tắt nghĩa lý rộng rãi
u huyền của Duy thức, đặt tên là "bát thức qui củ tụng".
Đành
rằng sách vở Duy thức rất nhiều, vì các vị Bồ Tát nhắm
nhiều khía cạnh của Duy thức mà phân tích giảng giải, song
có ba bổn, từ xưa đến nay được xem là chánh tông, là căn
bản của Duy thức học:
1.
Đại thừa bá pháp minh môn luận: Nói về pháp số (danh từ
chuyên môn) của Duy thức.
2.
Duy thức tam thập tụng: Nói về nghĩa chánh của Duy thức.
3.
Bát thức qui củ tụng: Tóm tắt nghĩa lý bao la của Duy thức.
Về
sau các học giả hoặc sang tác hoặc giải thích sách vở Duy
thức, đều căn cứ vào ba bổn luận ấy, khai thác nhiều
khía cạnh, rồi tán rộng ra hoặc làm cho nổi bật những
điểm quan trọng.
Bổn
"Đại thừa bá pháp minh môn luận" và bổn "Bát thức qui củ
tụng" Tôi đã dịch và giải rồi, hiệp chung lại dưới nhan
đề là "Duy thức nhập môn".
Còn
bổn "Duy thức tam thập tụng" này, nay mới dịch xong. Nội
dung của luận này, do Ngài Bồ Tát Thiên Thân dùng 24 bài tụng
đầu, nói về Duy thức tướng, bài tụng thứ 25 nói về Duy
thức tánh, 5 bài tụng sau là nói về Duy thức vị; hay nói
một cách khác là: Duy thức cảnh, Duy thức hành và Duy thức
quả (xem 2 cái biểu ở cuối quyển này).
Quí
vị muốn nghiên cứu về Duy thức học, trước nhứt nên đọc
kỹ 3 bổn luận này. Cũng như người học nghề võ, trước
phải học đường thảo, rồi sau mới phân miếng.
Huyền
diệu thay !Cũng ba bổn luận này, mà từ xưa đến nay, không
biết bao nhiêu vị Đại luận sư và các nhà học giả, sớ
giải mãi cũng không cùng.
Chúng
ta chớ nên có ý nghĩ nông cạn: học sơ lược chánh văn hay
đọc lời sớ giải thô sơ của ba bổn luận này, rồi cho
là đầy đủ. Phải học mãi, coi nhiều, chúng ta sẽ thấy
rừng hoa Duy thức, thật không biết bao nhiêu màu sắc tốt
tươi xinh đẹp.
Kính
đề
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA
LỜI
TỰA
Trong
Duy thức nói "Thức A lại da", tức là nói về pháp chúng sanh,
đáng lẽ phải dễ hiểu, tại sao lại rất khó hiểu ?
Tuy
nói về pháp chúng sanh, song chúng sanh có vô lượng vô biên,
nên lời nói cũng phải vô lượng vô biên; đây là điều
khó thứ nhứt.
Lại
nữa, bên Thiền tôn thì chỉ thẳng về "Tâm pháp" nên không
cần văn tự ngữ ngôn; còn Duy thức tôn lại khai phương tiện,
dùng văn tự, ngữ ngôn. Đã dùng văn tự biên chép và lời
nói luận bàn, những sự lý vô lượng vô biên, cho nên lời
nói phải nhiều, văn tự phải thâm; đây là điều khó thứ
hai.
Bởi
hai điều khó trên, nên môn học Duy thức này ngày xưa bị
bặt tăm, cho đến ngày nay người học Phật, phần nhiều
cũng tránh chỗ khó mà tìm nơi dễ: nghe nói đến Duy thức
thì thối lui. Đôi khi cũng có người cố gắng tìm học, song
lạikhông gặp cửa để vào !
Đại
Viên này đã ôm ấp chí lợi tha từ lâu, nên đối với việc
khó khăn này đã nhiều lần lưu ý.
Nền
tảng đầu tiên của Duy thức học là quyển:
"Đại
thừa bá pháp minh môn luận" và quyển "Duy thức tam thập tụng".
Song,
nếu theo những bản chú giải về đời Đường thì rất khó
khăn; người sơ học không dễ gì nhập được. Còn những
bản Duy thức thuộc về đời Minh chú giải, lại sợ nguî
truyền. Bởi thế nên tôi căn cừ theo bản chú giải xưa (đời
Đường), rồi cải tạo văn thể những chỗ nghĩa lý thâm
thuý khó hiểu, thì tôi làm cho rõ ràng dễ hiểu; còn những
chỗ phiền phức, thì tôi thanh giản cho gọn gàng. Vì thế
nên tôi đặt tên quyển sách này là "Duy thức dị giản" (Duy
thức dễ gọn).
Bởi
"dễ", nên người đọc dễ hiểu và có thể đọc lâu, vì
"gọn" nên người học dễ theo và có thể đọc nhiều.
Nay
tôi giảng 30 bài tụng Duy thức này, là muốn cho người học
dễ hiểu và dễ theo, dễ tiến đến việc đọc nhiều, đọc
lâu về môn Duy thức học vậy.
ĐƯỜNG
ĐẠI VIÊN