MỤC
LỤC
PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
BÀI
THỨ NĂM
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã nói sáu loại tâm sở tương ưng rồi, bây giờ làm
sao biết được phần vị hiện khởi của các thức?
Đáp:_
Nguyên văn chũ Hán
Tụng
viết:
Y chỉ
căn bản thức
Ngũ
thức tuỳ duyên hiện
Hoặc
câu hoặc bất câu
Như
đào ba y thủy
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh Vô tưởng thiên
Cập
vô tâm nhị định
Thuỷ
miên dữ muộn tuyệt.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói hai câu tụng trên để trả lời rằng: Sáu thức
trước đều nương nơi thức căn bản (A lại da) mà hiện
khởi; cũng như sóng nương nơi nước mà sanh.
Năm
thức trước tuỳ duyên mà khởi; hoặc chung sanh hoặc chẳng
chung sanh. Duy có ý thức thường hiện khởi, trừ ra năm chỗ
nó không sanh khởi: 1. Sanh ở cõi trời Vô tưởng, 2. Nhập
định Vô tưởng, 3. Nhập định Diệt tận, 4. Ngủ mê, 5.
Chết giả.
LƯỢC
GIẢI
Sáu
thức trước, bên trong đều nương nơi thức Căn bản (A lại
da) bên ngoài nhờ các duyên (căn, cảnh, tác ý, v.v...) và tuỳ
theo phận vị của nó mà sanh khởi không đồng. Nếu đủ
duyên thì sanh khởi, còn thiếu duyên thì nó không sanh. Cũng
như sóng nương nơi nước và nhờ gió, nên có khi sanh, khi
diệt. Duy có ý thức vì ít duyên nên dễ đủ; vì thế mà
được thường sanh khởi, chỉ trừ năm chỗ không sanh:
1.
Trời Vô tưởng; do hành giả khi tu định, nhàm ghét diệt
trừ cái "tưởng", mà được sanh về cõi trời này, nên cõi
trời này không có ý thức.
2.
Nhập định Vô tưởng; do hành giả diệt trừ 6 thức trước,
mới được định này.
3.
Nhẫp định Diệt tận; do hành giả diệt trừ phần hiện
hành của bảy thức trước, mới được định này. Hai định
trên đây đều không có "ý thức".
4.
Khi ngủ mê không chiêm bao, cũng không có ý thức.
5.
Khi bịnh nặng gần chết, hoặc khi bất tỉnh nhơn sự (chết
giả) cũng không có ý thức.
Xem
biểu đồ
Nước:
Dụ thức A lại da
Sóng:
Không gián đoạn: Dụ ý thức thường hiện khởi (trừ 5 chỗ)
Năm
chỗ ý thức Không sanh
1.
Trời Vô tưởng
2.
Định Vô tưởng
3.
Định Diệt tận
4.
Ngủ mê (không chiêm bao)
5.
Chết giả
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã phân biệt rành rõ hành tướng của ba thức năng
biến, đều nương nơi hai phần, rồi tự nó biến ra; bây
giờ lám sao biết được các pháp chỉ do thức biến hiện,
rồi giả gọi Ngã, Pháp chớ không phải thật có, nên nói
"tất cả Pháp Duy thức"?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Thị
chư thức chuyển biến
Phân
biệt, sở phân biệt
Do
thử, bỉ giai vô
Cố
nhứt thế Duy thức.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói một bài tụng để trả lời rằng: Chỉ do các thức
biến ra Năng phân biệt thức (kiến phần) và Sở phân biệt
(tướng phần). Song Năng phân biệt (thử) và Sở phân biệt
(bỉ) đều không thật có, nên nói: "tất cả pháp Duy thức".
LƯỢC
GIẢI
Mỗi
thức và mỗi Tâm sở đều có 4 phần: 1. Kiến phần (phần
Năng phân biệt), 2. Tướng phần (phần bị phân biệt, tức
là cảnh vật), 3. Tự chúng phần: phần này tự chứng minh
cho Kiến phần, 4. Chứng tự chứng phần: Phần này chứng
minh cho phần tự chứng.
Trong
bốn phần này, về phần thứ ba là Tự chứng, không những
có công năng chứng minh cho phần thứ hai là Kiến phần, mà
cũng có công năng đặc biệt là trở lại chứing minh phần
thứ tư là Chứng tự chứng phần. Bởi thế nên không cần
phải có phần thứ năm.
(hình)
Xin
nói một thí dụ để giải rõ bốn phần: Thí như anh A và
anh B hùn nhau buômn bán. Anh A ra tiền (vật có hình tướng)
là dụ cho "Tướng phần". Anh B ra công (không hình tướng)
là dụ cho "Kiến phần". Hai ngườilập một tờ hợp đồng
(giao kèo) để chứng minh một bên ra công và một bên xuất
của. Tờ hợp đồng là dụ cho "Tự chứng phần". Vì hai anh
tranh giành nhau, nên đem đến quan kiện. Ông quan chiếu theo
tờ hợp đồng mà phân xử. Ông quan là dụ cho "Chứng tự
chứng phần".
Trên
đã nói rõ hành tướng của ba thức năng biến: Từ nơi hai
phần bên trong là Tự Chứng Phần và Chứng Tự Chứng Phần,
biến sanh ra hai phần bên ngoài là Kiến phần và Tướng phần.
Vậy thì hai phần bên trong là "thể" làm chỗ bị y chỉ (nương
tựa), còn hai phần bên ngoài là "dụng" là "năng y chỉ".
Thí
dụ như con ốc hương, đầu và mình con ốc là dụ cho "Tự
chứng phần" và "Chứng tự chứng phần"; còn hai cái vòi là
dụ cho Kiến phần và Tướng phần. Hai vòi có khi lòi ra, có
lúc lại thụt vào, là dụ cho cai dụng Kiến phần và Tướng
phần, sanh diệt không thường; còn cái đầu và mình của
con ốc thì thường còn, để dụ cho cái thể Tự chứng phần
và Chứng tự chứng phần, không sanh không diệt.
Luận
chủ và ngoại nhơn hai bên rất mâu thuẫn nhau. Nếu lý Duy
thức của Luận chủ được thành thì sự chấp thật có Ngã,
Pháp của ngoại nhơn không thành; trái lại, nếu sự chấp
Ngã, Pháp của ngoại nhơn được thành, thì lý Duy thức của
Luận chủ bất thành.
Ý
của ngoại nhơn hỏi: Làm sao biết Ngã, Pháp đều nương nơi
thức biến ra, chẳng phải thật có, nên nói "Tất cả Pháp
đều Duy thức"?
Ý
của Luận chủ đáp: Trên đã nói ba thức Năng biến, mỗi
thức đều từ nơi tự thể mà biến sanh ra Kiến phần và
Tướng phần; Kiến phần là phần năng phân biệt, mà Tướng
phần là phần bị phân biệt. Phần bị phân biệt là các
cảnh vật như núi, sông, đại địa, v.v ...Phần năng phân
biệt tức là tác dụng thấy, nghe, hay biết các cảnh vật.
Bởi
phần năng phân biệt (thấy) và phần bị phân biệt (cảnh)
đều do thức thể biến ra, toàn không thật có, nên nói "Tất
cả pháp Duy thức".
Thức
thể (tự chứng phần sanh ra Dụng) ---> Phần biết (Kiến)
Phần bị biết (Tướng) đều là thức