Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ BA
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH
II.
Tâm Sanh diệt (Thức A lại da)
CHÁNH
VĂN
Do
Như Lai tạng (chơn) mà có "Tâm sanh diệt"; nghĩa là Chơn (không
sanh diệt) Vọng(sanh diệt) hoà hiệp, không phải "một" không
phải "khác" gọi là thức A lại da (tâm sanh diệt). Thức này
tóm thâu tất cả các pháp và xuất sanh tất cả các pháp.
Thức này có hai nghĩa "Giác" và "Bất giác" (mê).
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
trước nói chỉ có một tâm mà chia ra làm hai phương diện:
Tâm Chơn như và Tâm sanh diệt.
Đoạn
này nói do Như Lai tạng mà có "Tâm sanh diệt" tức là thức
A lại da. Vì thức A lại da là do chơn vọng hoà hiệp, không
phải một không phải khác, nên có hai nghĩa "Giác" và "Bất
giác". Thức này có công năng giữ gìn tất cả các pháp và
sanh ra các pháp.
Trên
đây nói thức A lại da có 2 nghĩa, không nên hiểu lầm thức
A lại da có hai thứ "Giác" và "Bất giác" khác nhau; mà nên
hiểu rằng: thức này có hai trạng thái, tuỳ nhiễm duyên
thì trạng thái "Bất giác" hiện, tuỳ tịnh duyên thì trạng
thái "GIác" hiện. Cũng như sáng với tối, chỉ là hiện tượng
của thái hư mà thôi.
Chúng
ta cũng nên phân biệt ba danh từ: Chơn như, Như Lai tạng và
thức A lại da là đồng hay khác, và liên quan với nhau như
thế nào.
_"
Chơn như"là chỉ cho cái "Tổng thể" của tâm; "Như Lai tạng"
là chỉ cho cái "Tổng tướng" của tâm, "thức A lại da" là
chỉ cho cái "Thể, Tướng và Dụng" về nhiễm và tịnh hoà
hiệp của tâm.
Chơn
như, dụ như "tánh" ướt của nước; Như Lai tạng, dụ như
"nước" (hình tướng của nước); A lại da, dụ như "sóng"(dụng
của nước). Trong sóng gồm có cả tánh ướt và nước. Thế
là thức A lại da (Tâm sanh diệt) gồm cả "Thể, Tướng và
Dụng" về nhiễm và tịnh hoà hiệp của tâm.
Tại
sao không nói "do Chơn như, có Tâm Sanh diệt" mà chỉ nói "do
Như Lai tạng có Tâm Sanh diệt"? _ Vì Chơn như là "Thể" của
nhứt tâm; Như Lai tạng là "Tướng" của nhứt tâm; Chơn như
thì thanh tịnh không động, còn Như Lai tạng tuy rằng cũng
chơn tịnh, nhưng còn bị phiền não che phủ, làm nhơn cho động,
nên chỉ nói "do Như Lai tạng có tâm sanh diệt là thức A lại
da" mà không nói "do Chơn như sanh ra thức A lại da" (Tâm Sanh
diệt).
Tâm
Sanh diệt này có hai phần:
1.
Sanh diệt về phần lưu chuyển sanh tử,
2.
Sanh diệt về phần hoàn tịnh (trở lại bản tánh Niết bàn).
GIẢI
DANH TỪ
Như
Lai tạng, có hai nghĩa: 1. Như Lai tại triền, nghĩa là tánh
Phật (Như Lai) còn bị chứa trong vòng phiền não nhiễm ô.
2. Như Lai xuất triền, nghĩa là tánh Phật (Như Lai) chứa đựng
các pháp vô lậu thanh tịnh, đã ra khỏi phiền não nhiễm
ô.
Song,
trong kinh luận nói đến Như Lai tạng, là phần nhiều dùng
cái nghĩa "Như Lai tại triền" (tánh Phật bị chứa trong phiền
não).
Câu
"Chơn vọng hoà hiệp, không phải một và không phải khác":
"Chơn"
là bản thể, còn "Vọng" là hiện tượng; bản thể và hiện
tượng không rời nhau, nên nói "hoà hiệp". Vì bản thể không
phải là hiện tượng, nên nói "không phải một"; vì hiện
tượng và bản thể không rời nhau, nên nói "không phải khác".
Trong
đây nói chữ "Hoà hiệp", không phải thật có hai vật riêng
nhau, như sữa với nước hoà hiệp lại, mà chính là bản
thể với hiện tượng không rời nhau, nên tạm gọi là "hoà
hiệp".
A lại
da: Trong luận này, chữ "thức A lại da", chúng ta phải hiểu
tức là "thức A đà na" mới khỏi ngại. Căn cứ theo luận
Duy thức, khi đến quả A la hán hay Bát địa, thì thức A lại
da không còn (A la hán vị xả); vì hai vị này đã trừ ngã
chấp, nên thức này không còn là A lại da, mà chỉ gọi là
thức A đà na (thức trì chủng).
Còn
trong luận này, thì nói: Từ phàm phu cho đến quả Phật, đều
có thức A lại da, vì nó duy trì cả thánh và phàm. Vì thế
nên chữ "A lại da"ở luận Khởi tín này, tức là thức "A
đà na" trong luận Duy thức vậy. Trong luận Duy thức chép:
"Thức A đà na có công năng duy trì chủng tử của các pháp
nhiễm tịnh, thánh phàm ..."
NÓI
VỀ NGHĨA "GIÁC" có 5 tên
CHÁNH
VĂN
"Giác"
là chỉ cho bản thể chơn tâm lìa các vọng niệm, nó khắp
giáp tất cả, rộng lớn như hư không; cũng gọi là "Pháp
thân bình đẳng của Như Lai". Pháp thân này, tất cả chúng
sanh saün có, nên gọi là "Bản giác" (tánh Phật sẵn có).
Vì
đối với "Thỉ giác" nên gọi là "Bản giác"; song Thỉ giác
tức là Bản giác. Nghĩa là từ Bản giác mà có Bất giác
(mê); do Bất giác nên có Thỉ giác (mới giác ngộ); giác ngộ
chưa hoàn toàn thì gọi là Phần giác (giác ngộ từng phần);
giác ngộ được hoàn toàn thì gọi là Cứu cánh giác.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về nghĩa "Giác" (sang suốt) tức là tánh Phật saün
có ở chúng sanh. Tánh Phật này ở nơi chúng sanh thì gọi
là "Như Lai tạng" (Như Lai bị phiền não che giấu); còn ở
nơi Phật thì gọi là "Pháp thân thanh tịnh".
Tánh
Phật tuy luân chuyển trong sáu đường, mà không bao giờ mất,
vẫn vắng lặng thường còn và viên mãn. Chẳng qua chúng sanh
vì bị mây vô minh che phủ, nên trăng Phật tánh này chẳng
hiện được.
Tất
cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, vì không rời vọng
niệm, nên tuy trọn ngày ở trong tánh Phật mà chẳng tự biết;
nếu khi rời vọng niệm rồi, thì tánh Phật này sáng soi,
rỗng suốt khắp giáp tất cả như thái hư. Lúc bấy giờ
chỉ còn tánh Phật thuần chơn, gọi là "Pháp thân bình đẳng
của Như Lai".
Vì
căn cứ theo tánh Phật saün có của chúng sanh, nên gọi là
"Bản giác". Bởi thế nên Khế kinh nói:
"Tất
cả chúng sanh đã thành Phật từ lâu", và nói:
"Ta
thành ngôi Chánh giác trong tâm của chúng sanh".
Song
"Giác" có nhiều tên: Bản giác, Bất giác, Thỉ giác, Phần
giác và Cứu cánh giác. Vì theo mỗi khía cạnh mà chia ra làm
5 tên, chớ không phải thật có 5 cái "Giác" khác nhau.
GIẢI
DANH TỪ
Pháp
thân bình đẳng: Dùng pháp giới tánh làm thân, nên gọi là
"Pháp thân". Vì Pháp thân này, ở tại phàm không bớt, ở
nơi thánh không thêm, nên gọi là "Bình đẳng".
Bản
giác: Saün có giác ngộ, tức là chỉ cho tánh Phật saün có
của chúng sanh.
Bất
giác: Không giác ngộ (mê). Chúng sanh tuy có saün tánh Phật,
nhưng không tự giác ngộ.
Thỉ
giác: Mới giác ngộ. Nhờ sự tu học, nên hành giả mới giác
ngộ được tánh Phật.
Phần
giác: Giác ngộ từng phần. Hành giả tu hành trải qua từng
bực, được sự giác ngộ từng phần.
Cứu
cánh giác:Giác ngộ rốt ráo (tức là Phật).
THÆ
GIÁC CÓ 4 LỚP, TỪ THÔ ĐẾN TẾ
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Nghĩa là thế nào?
Đáp:
_ Có 4 lớp như sau:
a)
Giác ngộ "niệm DIỆT"
chúng
phàm phu (Tiều thừa thì hữu học, Đại thừa thì Thập tín)
giác ngộ vọng niệm trước đã khởi ác, nên ngăn dứt vọng
niệm sau, không cho sanh khởi ác nữa (niệm diệt). Vì chúng
phàm phu in như đã giác ngộ, nhưng thật ra chưa giác ngộ,
nên gọi là "Bất giác".
b)
Giác ngộ "niệm DỊ"(hoại).
Hàng
sơ phát tâm Bồ Tát (Tam hiền) và Nhị thừa (vô học), dùng
trí huệ quán sát, giác ngộ được "niệm Dị" (dị tướng
vô minh) và không còn tướng "niệm Dị". Hai vị này vì đã
xả được tướng phân biệt chấp trước về phần thô trọng,
nên gọi là "Tương tợ giác"( tương tợ như đã giác ngộ).
c)
Giác ngộ "niệm TRỤ".
Hàng
Thập địa Bồ Tát (Bồ Tát đã chứng Pháp thân) giác ngộ
được "niệm Trụ" (trụ tướng vô minh) và không còn tướng
"niệm Trụ". Vị này vì đã lìa được tướng phân biệt
về thô niệm, nên gọi là "Tuỳ phần giác" (Giác ngộ từng
phần).
d)
Giác ngộ "niệm SANH"
Hàng
Đẳng giác Bồ Tát (Địa tận Bồ Tát) do các phương tiện
tu hành đã đầy đủ, nhứt niệm hợp với chơn tâm, nên
giác ngộ được tâm sơ khởi (sanh tướng vô minh) và không
còn tướng sơ khởi. Vì vị này đã xa lìa vọng niệm vi tế
(vi tế vô minh) ngộ nhập chơn tâm thường trụ , nên gọi
là "Cứu cánh giác" (Giác ngộ rốt ráo).
Bởi
thế nên trong kinh chép:"Nếu chúng sanh nào quán "vô niệm"(không
vọng niệm) thì chúng sanh đó đã hướng về trí Phật".
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này Bồ Tát Mã Minh dùng bốn danh từ: Niệm sanh, Niệm trụ,
Niệm dị, Niệm diệt để nói lên vô minh có thô tế, sâu
cạn và chỉ rõ người tu hành ở địa vị nào mới diệt
được thứ vô minh nào.
Trong
đoạn này nói "chúng phàm phu", thật ra không phải hoàn toàn
là phàm phu, mà chính là chỉ cho: bên Đại thừa thì hàng
Thập tín, còn Tiểu thừa thì ba quả trước, thuộc về hữu
học. Vì các vị này chưa được dự vào hạng Hiền (Tam hiền)
và Thánh (Thập thánh) nên bị gọi là Phàm phu.
Chúng
phàm phu này giác ngộ được niệm diệt tức là phá trừ
"Diệt tướng vô minh" (vô minh thô sơ bên ngoài). Nếu so với
Lục thô, thì "Niệm diệt" này thuộc về hai món thô sau là:
Khởi nghiệp tướng và Nghiệp hệ khổ tướng (sẽ giải
ở bài thứ năm). Vì sự phá trừ vô minh này không thấm vào
đâu, và đối với việc giác ngộ chơn tâm còn xa xôi lắm,
nên gọi họ là "Bất giác" (chưa giác ngộ).
Hàng
Nhị thừa và Bồ Tát ở vị Tam hiền (Thập trụ, Thập hạnh
và Thập hồi hướng) giác ngộ được "Niệm dị", tức là
phá trừ "Dị tướng vô minh" (vô minh thô). Nếu so với Lục
thô thì "Niệm dị" này thuộc về hai món thô bực trung là:Chấp
thủ tướng và Kế danh tự tướng (sẽ giải ở bài thứ
năm). Vì các vị này tương tợ như giác ngộ được chơn
tâm và chứng được pháp thân thanh tịnh, nhưng chưa phải
thật ngộ và thật chứng, nên gọi họ là "Tương tợ giác".
Hỏi:
_ Thế nào là giác ngộ "Niệm dị" và không còn tướng "Niệm
dị"?
Đáp:
_ Bồ Tát sơ phát tâm dùng trí huệ quán sát Ngã (thân tâm)
và Pháp (vũ trụ) đều do nhơn duyên sanh, nên đoạn trừ hai
món vọng chấp phân biệt thật ngã và thật pháp về phần
thô, đó là "Giác ngộ niệm dị".đến khi Bồ Tát không còn
thấy có tướng Ngã, tướng Pháp, thế gọi là "không còn
tướng niệm dị".
Hỏi:
_ Sao gọi là "Phân biệt chấp trước về phần thô trọng"?
Đáp:
_ Ngã chấp và Pháp chấp có chia ra làm hai phần: 1. Thô trọng,
tức là phân biệt Ngã chấp và Pháp chấp, phần này dễ trừ.
2. Vi tế, tức là cu sanh Ngã chấp và Pháp chấp, phần này
khó trừ.
***
hàng
Thập địa Bồ Tát vì đã chứng pháp thân thanh tịnh, nên
cũng gọi là "Pháp thân Bồ Tát". Các vị Bồ Tát này giác
ngộ được "Niệm trụ", tức là phá trừ "trụ tướng vô
minh" (tế vô minh). Nếu so với Lục thô ở bài sau, thì thuộc
về hai món thô đầu là: Trí tướng và Tương tục tướng.
Bồ
Tát phá một phần vô minh thì chứng được một phần Pháp
thân, gọi là lên Sơ địa; phá hai phần vô minh thì chứng
hai phần Pháp thân, gọi là lên Nhị địa; cho đến phá mười
phần vô minh, thì chứng được mười phần Pháp thân, gọi
là lên Thập địa Bồ Tát. Vì Bồ Tát phá vô minh từng phần
và giác ngộ từng phần, nên gọi là "tuỳ phần giác".
Các
vị Bồ Tát này, vì tâm niệm còn trụ ở năng sở đối đãi,
chưa dứt trừ được, nên gọi là "Trụ tướng vô minh". Đến
khi Bồ Tát nhập Chơn như, quán, chỉ nhứt tâm chánh niệm
Chơn như, không còn tướng năng sở đối đãi, nên gọi "Không
còn tướng niệm trụ". Như thế là lìa được tướng phân
biệt về thô niệm (vô minh thô).
Sở
dĩ gọi "Thô" là vì không tế nhị bằng "Sanh tướng vô minh"
(vô minh rất vi tế); kỳ thật đây cũng là một thứ vô minh
vi tế, rất khó trừ.
Tóm
lại, từ phàm phu (Thập tín) cho đến địa vị Pháp thân
Bồ Tát (Thập địa), về sự phá trừ vô minh của mỗi bực
có thô và tế khác nhau: 1. Chúng phàm phu đối với cảnh,
chấp có và thấy vọng niệm diệt rồi, đè nén không cho
sanh khởi. 2. Hàng Nhị thừa và Tam hiền Bồ Tát, thì quán
ngã pháp đều không, nhưng còn cái "Niệm không". 3. Đến bực
Thập địa Bồ Tát, thì cái "Tâm niệm chấp không" cũng không
còn; nghĩa là không còn cái "Năng Niệm".
Nói
rằng bực Đẳng giác Bồ Tát, giác ngộ được "niệm sanh"
tức là nói vị Bồ Tát này phá trừ được "Sanh tướng vô
minh" (vô minh rất vi tế). Nghĩa là các vị Bồ Tát tu hành,
đến lúc chơn cùng hoặc tận, tột bực Thập địa, chứng
lên vị Đẳng giác, khi ấy Bồ Tát dùng trí Kim Cang đoạn
trừ "sanh tướng vô minh" (giác ngộ được niệm sanh) xa lìa
các vọng hoặc rất vi tế, và nhứt niệm hiệp với tâm thể
Chơn như, nên không còn "tướng sơ khởi"; khi đó Bồ Tát
chúng lên quả Diệu giác (Phật) gọi là "Cứu cánh giác".
***
Hỏi:
_ Phải chăng trong một niệm, có sanh, trụ, dị, diệt; chúng
phàm phu giác ngộ khi "Niệm diệt"; Nhị thừa giác ngộ khi
"Niệm dị"; Thập địa Bồ Tát giác ngộ khi "Niệm trụ";
Đẳng giác Bồ Tát giác ngộ khi "Niệm sanh"?
Đáp:
_ Hiểu như vậy không được đúng lắm; đây nói sanh, trụ,
dị, diệt là chỉ cho vọng niệm có phần thô và tế. Chúng
phàm phu chỉ giác ngộ vọng niệm về phần thô bên ngoài
gọi là "Niệm diệt". Nhị thừa giác ngộ vọng niệm về
phần tế hơn gọi là "Niệm dị". Thập địa Bồ Tát giác
ngộ vọng niệm lại tế hơn nữa, gọi là "Niệm trụ". Đến
bực Đẳng giác Bồ Tát, giác ngộ vọng niệm lại rất vi
tế, gọi là "Niệm sanh".
Thí
như mặt nước bằng phẳng là dụ tâm thể thanh tịnh vô
niệm. Mặt nước vừa dợn động, là dụ "Niệm sanh". Sóng
nổi lă tăn là dụ "Niệm trụ". Sóng nhấp nhô, dụ "Niệm
dị". Sóng nổi ba đào là dụ "Niệm diệt".
Chúng
tôi đem 4 niệm trong bài này, phối hiệp với tam tế lục
thô ở bài sau, để quý vị dễ hiểu.
Niệm
sanh
1.
Vô minh nghiệp tướng
Niệm
trụ
2.
Năng kiến tướng Tam tế
3.
Cảnh giới tướng
1.
Trí tướng
2.
Tương tục tướng
Niệm
dị
3.
Chấp thủ tướng
4.
Kế danh tự tướng Lục thô
Niệm
diệt
5.
Khởi nghiệp tướng
6.
Nghiệp hệ khổ tướng
***
Hỏi:
_ Làm sao để được trí Phật?
Đáp:
_ Trí Phật thanh tịnh không các vọng niệm, muốn được trí
Phật, hành giả phải "vô niệm". Trong kinh Lăng già quyển
hai có chép: "Nếu chúng sanh nào quán vô niệm, thì chúng sanh
ấy sẽ hướng về trí Phật".
Ngài
ĐứcThanh giải rằng: "Vô niệm là con đường tắt để thành
Phật..." và "...không những Bồ Tát tu hành đoạn trừ phiền
não, đến vô niệm mà gọi là "Cứu cánh giác"; tức như chúng
sanh nào, ngày đêm quán vô niệm, thì chúng sanh ấy mỗi niệm
đã hướng về trí Phật".
Trong
luận nầy nói hai chữ "vô niệm" đồng với bốn chữ "bất
tuỳ phân biệt" trong kinh Lăng Nghiêm chữ "vô niệm" nghĩa
là không khởi vọng niệm. Nếu vọng niệm không khởi, thì
tâm được định, do tâm định nên mới phát sanh ra trí huệ
thanh tịnh của Phật.
Chữ
"Bất tuỳ phân biệt", nghĩa là không theo trần cảnh khởi
phân biệt. Không khởi phân biệt thì vọng niệm chẳng sanh;
vọng niệm chẳng sanh thì chơn tâm tự hiện ra.
Bởi
thế nên luận nầy nói chữ "Vô niệm", Kinh Lăng Nghiêm nói
"bất tuỳ phân biệt"; hai danh từ tuy khác, song đồng một
ý nghĩa và đồng một con đường tắt, để đi đến quả
Phật.
VỌNG
NIỆM HẾT (VÔ NIỆM) THÌ CHƠN TÂM HIỆN
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, thật ra Tâm không có tướng sơ khởi, mà nói rằng "biết
được tướng sơ khởi của tâm", đó tức là được "vô
niệm". Tất cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, vì chưa
từng xa lìa vọng niệm tương tục (chưa được vô niệm),
nên không được gọi là "Giác", mà chỉ gọi là "Vô thỉ
vô minh".
Nếu
người được vô niệm (ngộ chơn tâm) thì các tướng sanh,
trụ, dị, diệt của tâm đều hết, chỉ còn một tâm thể
vô niệm (chơn tâm0. Bởi thế nên Thỉ giác không khác với
Bản giác. Vì vọng niệm nên bốn tướng: Sanh, Trụ, Dị và
Diệt đồng thời nương nhau mà có, và đều không tự lập;
khi vọng niệm hết, thời bốn tướng không còn, chỉ một
tánh giác (chơn tâm) xưa nay bình đẳng.
LƯỢC
GIẢI
Tất
cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, do một niệm mê nên
bốn tướng: sanh, trụ, dị, diệt nhứt thời nương nhau khởi
hiện, không có trước sau. Vì vọng niệm tương tục mãi,
làm cho chúng sanh không ngộ được chơn tâm (vô niệm) của
mình, nên gọi là "vô thỉ vô minh". Bởi thế nên có chia ra
Bản giác và Thỉ giác.
Trái
lại, bực Đẳng giác Bồ Tát, đã diệt hết vọng niệm,
ngộ được chơn tâm thường trú của mình, nên bốn tướng
không còn, mà chỉ còn một tánh sáng suốt bình đẳng không
vọng niệm, gọi là "Cứu cánh giác". Bởi vậy nên "Thỉ giác"
cũng tức là "Bản giác".
GIẢI
DANH TỪ
"Tướng
sơ khởi" tức là chơn tâm, mà chơn tâm thì vô tướng và
vô niệm. Người được vô niệm tức là ngộ chơn tâm; phải
ngộ được chơn tâm mới gọi là "Cứu cánh giác".
"Bản
giác" tức là tâm tánh xưa nay vốn thanh tịnh sáng suốt, trái
với vô minh bất giác (mê).
"Thỉ
giác" là mới giác ngộ. Hành giả dùng quán trí trừ các vọng
niệm, mới vừa giác ngộ tâm thể không có bổn tướng, nên
gọi là "Thỉ giác".
Nên
biết, những danh từ trên đây đều giả lập: "Bản giác"
là đối với "Thỉ giác" mà lập, "Thỉ giác" nhơn "Bất giác"
mà có, "Bất giác" lạinhơn "Bản giác" mà sanh. Do đối đãi
nhau nên giả lập ra có nhiều tên, thật ra chỉ có tánh giác
mà thôi.
(Đoạn
này nói về "Thỉ giác", đoạn sau nói đến "Bản giác").