Thiên
Thứ Nhất
Chương
Bảy
Kinh
Điển Đạo Phật
Tiết
Mục:
-
I. Sau
thời kiết tập.
-
II. Kinh
Phật tiếng Ba ly.
-
III. Kinh
Phật tiếng Phạm.
-
IV. Hai
hệ thống kinh điển Phật giáo.
-
V. Ba
tạng.
-
VI. Mười
hai phần giáo.
Kinh sách
tham khảo: Kinh Đại Niết Bàn, Luận Du Già, Luận Tỳ Bà Sa,
Phật Học Đại Cương, Phật Giáo Khái Luận, Ấn Độ Phật
Giáo Sử.
Đề
yếu: Trong bốn tiết đầu, đại khái nói về sự phát nguyên
của hai hệ thống Phật giáo Nam, Bắc. Khi Phật còn tại thế
thuyết pháp, Ngài thường dùng lối ngôn ngữ phổ thông của
miền đông Ấn Độ. Sau lúc đức Thế Tôn Niết Bàn, những
pháp âm của Ngài mới được ghi chép bằng hai thứ tiếng:
Phạn, và Ba ly; nhưng sự xuất phát trước sau của hai loại
kinh này chưa tìm được tài liệu để chứng minh. Và hai thứ
kinh điển Phạn và Ba ly, đã là nguyên nhân đưa Phật giáo
đến hai hệ thống: Nam truyền và Bắc truyền.
Hai
tiết sau phân tích về ba tạng, mười hai phần giáo. Mười
hai phần giáo không phải là những bộ loại riêng cho tạng
Tu Đa La, mà gồm cả Tỳ Nại Gia và A Tỳ Đàm. Và, tất cả
pháp điển của Đại thừa, Tiểu thừa tuy nhiều danh mục
sai biệt, song tóm lại không ngoài ba tạng, mười hai phần
giáo.
Tiết
I: Sau Thời Kiết Tập
Sau
khi trải qua mấy kỳ kiết tập, nội dung kinh điển Phật
giáo thật phong phú, sách vở rất nhiều, đời sau lại còn
tăng thêm mãi. Hiện thời pháp tạng đang lưu truyền gồm
có đến 5000 quyển, 7000 quyển, hoặc 8000 quyển. Nhìn khắp
tất cả tôn giáo trên thế giới, không có đạo nào kinh điển
nhiều bằng ba tạng của Phật giáo.
Trong
hai lần kiết tập đầu tiên, chư Tăng thi hành pháp sự theo
thể thức hội tụng (Samgìti), chưa dùng cách biên chép. Thể
thức này là đại chúng vân tập ở một nơi, rồi cùng nhau
đọc lại và xét định những lời lẽ của Phật đã dạy
để lưu truyền. Bởi theo tập tục của thời đó, người
ta cho rằng viết chép là làm mất giá trị của thần thánh.
Lại còn một nguyên nhân nữa, là do thiếu những dụng cụ
biên chép mà phải như thế. Chẳng hạn, như tình trạng thời
xưa ở Trung Hoa, vì thiếu giấy bút nên người đời Lưỡng
Hán muốn lưu lại điều chi, phần nhiều đều dùng cách truyền
khẩu.
Nhưng
đến hai lần kiết tập sau, nhằm vào thời vua A Dục và Ca
Nị Sắc Ca, ngoài cách hội tụng, các đệ tử Phật còn ghi
chép tam tạng thành sách vở. Sự kiện này đã được thể
hiện bằng hai lối văn tự: Ba ly (Pali) và Phạm ngữ (Sanskrit).
Trong
phái quý tộc Ấn Độ lại có sẵn một lối nhã ngữ đã
lưu hành, được gọi là thứ tiếng của người học thức,
hợp với vận luật kinh Phệ Đà. Khi Đức Phật còn tại
thế, vì bình đẳng thí pháp đối với bốn giai cấp, ít
khi Ngài dùng thứ nhã ngữ ấy. Nhưng sau khi đức Thế Tôn
Niết bàn khoảng một trăm năm, ông Ba Nhĩ Ni (Pànini) là một
học giả chuyên về văn pháp, đem thứ nhã ngữ ấy quy định
lại rất rõ ràng, được nhiều người khen ngợi, cổ xúy
cho sự lưu thông. Nhân đó, Phật giáo đồ cũng thu dụng thứ
tiếng ấy để biên chép kinh Phật. Vậy kinh Phật bằng tiếng
Phạn hoặc tiếng Ba ly, thứ nào trước, thứ nào sau. Điều
đó, thật ra ta chưa tìm được bằng chứng. Nhưng xét về
khu vựu lưu hành của mỗi thứ, ta thấy rõ ràng không đồng
nhau. Như kinh Phật bằng tiếng Ba ly thì lưu hành về phương
Nam, mà Tích Lan là trung tâm điểm. Còn kinh Phật bằng tiếng
Phạn được lưu truyền sang miền Bắc, trung tâm điểm trước
kia là xứ Ca Thấp Di La, sau lần chuyển sang Trung Quốc.
Tiết
II: Kinh Phật Tiếng Ba Ly (Pali)
Vào
thời vua A Dục, trước tiên có hai vị A la hán là Ma Sấn
Đà và Nhất Địa Tẩu sang Tích Lan truyền giáo. Sau lại có
con gái A Dục Vương là Tăng Già Mật Đa (Sanghamittà) mang một
nhánh cây bồ đề từ nơi đức Phật thành đạo tới trồng
tại Tích Lan, mà trong sử gọi là chuyển cây "Thánh thọ".
Đương thời vị quốc vương bản xứ là Thiên Ái Đế Tu
(Devànàmpriya - Tissa) tín ngưỡng chánh pháp rất mạnh. Người
đã cúng khu vườn Mi Già và lập tinh xá để chư Tăng cư
trú, về sau thành một cảnh chùa rất nguy nga. Nơi đây là
cơ sở của Đại Tự Phái (Theriyanikàya). Những kinh điển
do hai vị A la hán đem truyền sang Tích Lan là pháp tạng kiết
tập trong kỳ thứ ba, ghi chép bằng thứ ngôn ngữ phổ thông
của xứ Ấn Độ, lấy gốc ở tiếng Ma ga đi (Magadhi). Về
sau người Tích Lan canh cải ngôn ngữ này thành tiếng Ba ly
(Pali). Và thứ tiếng này được dùng để chép kinh điển
của Nam truyền Phật giáo.
Vào
khoảng thế kỷ đầu của Tây lịch, tại Tích Lan có Vô Úy
Vương (Vathagàmani - Abhaya) lên ngôi, rất sùng tín đạo Phật.
Vua cho xây dựng một cảnh chùa rất to lớn tại núi Vô Úy
(Abhaya) gọi là Vô Úy Sơn Tự (Abhayagiri) để cúng dường
Tam Bảo. Về sau, chư Tăng ở đây vì bất đồng ý kiến về
giới luật, chi rẽ với phái Đại Tự, và biệt lập một
môn phái gọi là Vô Úy Sơn Tự, thuộc Pháp Hỷ bộ (Dhamaruci
- Nikàya). Vị quốc vương đương thời thấy thế mới triệu
thỉnh 500 vị đại đức Tỷ khưu, căn cứ vào ba tạng khẩu
truyền bằng tiếng Ba ly, đính chánh cẩn thận rồi chép vào
sách. Tại Tích Lan, kinh Phật bằng tiếng Ba ly có sự ghi chép
bắt đầu từ đó. Tuy nhiên, về phần chú thích, người ta
vẫn còn viết bằng thứ thổ ngữ của Tích Lan. Còn cách
biên chép thì họ y theo tục lệ Ấn Độ, dùng lá cây Bối
đa la (Battrà) lấy kim chính thành văn tự rồi nhuộm mực,
có thể để lâu đời không phai.
Ở
triều vua Cù Đàm Bà Gia (Gotabhaya), nhằm 205 năm sau kỷ nguyên,
Phật giáo Tích Lan lại phát sinh ra một phái mới gọi là
Kỳ Đà Lâm Tự phái (Tetavana). Như vậy Phật giáo Tích Lan
thời này có ba phái đối lập nhau.
Phật
giáo Tích Lan từ thời cổ vẫn truyền tụng bằng cách đọc
thuộc lòng, nhưng cuối triều đại Ba Đà Già Ma Ni Vô Úy
(Vatthagàmani - Abhaya), kinh điển mới bắt đầu được ghi
chép bằng tiếng Ba ly. Đến đầu thế kỷ thứ V, có Ngài
Phật Âm (Budhaghosa), người sứ Trung Ấn đến Tích Lan, Ngài
nghiên cứu giáo lý của Đại Tự Phái, chế tác ra bộ Thanh
tịnh đạo luận (Visuđhimagga). Nội dung của bộ này là một
thể hệ tam học, và cũng là một giáo học hoàn bị của
Đại Tự Phái. Là một vị thông minh bác học, Phật Âm tôn
giả đem phần chú thích tam tạng bằng thổ ngữ Tích Lan,
chép lại thành tiếng Ba ly. Những bộ phận chú thích chưa
xong, thì Ngài Hộ Pháp (Dharmapàla) tiếp tục hoàn thành. Bấy
giờ kinh Phật bằng tiếng Ba ly ở Tích Lan mới được chỉnh
bị. Vì thế, các học giả gần đây đều tôn xưng Ngài Phật
Âm là vị giáo tổ thứ hai của Phật giáo Tích Lan. Xem đó,
chúng ta có thể biết được lòng tôn sùng của họ là thế
nào?
Tiết
III: Kinh Phật Tiếng Phạn
Khi
Phật còn tại thế thuyết pháp, Ngài dùng thứ ngôn ngữ phổ
thông, tức là tục ngữ của miền đông Ấn Độ. Sau khi đức
Thế Tôn nhập diệt, giáo pháp của Ngài được ghi chép bằng
hai thứ tiếng: Phạn và Ba ly. Tiếng Ba ly tương tợ với tục
ngữ Ấn Độ, còn tiếng Phạn là một lối nhã ngữ ở bản
xứ được ông Ba Nhĩ Ni tu chỉnh lại.
Về
kinh Phật bằng tiếng Phạn, đại khái đến đời vua Ca Nị
Sắc Ca mới hoàn bị. Tương truyền rằng việc thẩm định
tam tạng hồi thời ấy, nếu thứ nào không có bản truyền
lại, chư Tăng chép thành bản mới, thứ nào đã có sẵn,
cũng đem ra giáo chính kỹ càng. Cho nên những kinh chữ Phạn
lúc bấy giờ rất đầy đủ. Tại nước Trung Hoa, khi kinh
Phật từ Tây Vức truyền đến, là đã có ngay bản chữ Phạn.
Dọc theo miền Ni Bá Nhĩ (Népal) còn rất nhiều bản kinh chữ
Phạn truyền lại, nhưng vì hệ thống kết cấu toàn thể
không hoàn bị bằng tam tạng tiếng Ba ly, nên rất khó cho
người nghiên cứu.
Vào
khoảng thế kỷ thứ VII Tây lịch, ở Tây Tạng có vua Song
Tán Tư Cam Phổ ra đời. Quốc vương là một tín đồ thuần
thành của đạo Phật. Ngài có cho mười sáu quan đại thần
do ông Đoan Mỹ Tam Bồ Đề lãnh đạo, sang Ấn Độ học chữ
Phạn và kinh điển Phật giáo. Các vị này lưu trú tại xứ
Nam Thiên Trúc bảy năm, lúc trở về có đem theo rất nhiều
kinh tượng và pháp khí. Sau khi về đến nước nhà, mười
sáu đại thần căn cứ theo Phạn ngữ chế ra chữ Tây Tạng
và phiên dịch kinh điển. Đây là giai đoạn mở đầu của
kho pháp giáo Tây Tạng trong hệ thống phương Bắc Phật giáo.
Sau
khi đó, Phật giáo ở Tây Tạng rất thịnh hành và được
chuyển đổi lại thành quốc giáo. Các vị cao Tăng Ấn Độ
đến Tây Tạng hoằng pháp, cũng chuyên về việc phiên dịch
kinh điển Phạn văn ra chữ Tây Tạng. Hầu hết kinh Phật
Trung Hoa tuy được dịch ra từ Phạn văn, nhưng đôi khi cũng
có thứ phiên dịch từ văn tự Tây Tạng.
Hiện
thời kinh Phật ở Tây Tạng chia ra làm hai loại: Một là Cam
Thù Nhĩ (Kanjur), có nghĩa: "Lời Phật dạy", biên tập tất
cả kinh và luật, gồm 108 bộ sách lớn. Hai là Đan Thù Nhĩ
(Danjur), có nghĩa "Lý Luận", biên tập những thứ biện luận
và trứ tác, gồm 225 pho sách.
Kinh
điển Tây Tạng được thạnh truyền ở miền Trung Á. Vào
khoảng thế kỷ thứ XIII, vua Thế Tổ nhà Nguyên là Hốt Tất
Liệt, xâm nhập Tây Tạng, tín dụng Lạt Ma Giáo và phong cho
Phát Tư Ba làm quốc sư. Vâng lệnh vua, quốc sư chế ra chữ
Mông Cổ, rồi căn cứ vào kinh Phật của Tây Tạng mà dịch
thành đại tạng kinh bằng tiếng Mông Cổ.
Nước
Trung Hoa vào thời Hán Minh Đế, niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười
(sau kỷ nguyên, 6, 7 năm), có hai vị A la hán là Ca Diếp Ma
Đằng và Trúc Pháp Lan từ Ấn Độ đến. Hai vị ấy lưu
trú tại chùa Bạch Mã, tỉnh Lạc Dương, bắt đầu dịch
kinh Tứ Thập Nhị Chương và Thập Địa Đoạn Kiết. Về
sau, các triều đại khác đều lấy việc phiên dịch tam tạng
làm phần chính trong công cuộc quảng bá Phật giáo.
Tiết
IV: Hai Hệ Thống Kinh Điển Phật Giáo
Phật
giáo chia thành hai hệ thống lớn là Đại thừa và Tiểu thừa.
Những nước thuộc hệ thống Đại thừa Phật giáo như: Bắc
Ấn, các địa phương Trung Á, Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu,
Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Các nước thuộc
hệ thống Tiểu thừa Phật giáo như: Nam Ấn, Tích Lan, Miến
Điện, Thái Lan, Ai Lao (Lào), Cao Miên (Campuchia). Phật giáo
ở những nước này gọi là Nam truyền hay Nam Phương Phật
giáo. Kinh điển của Nam phương Phật giáo được ghi chép
bằng tiếng Ba ly, nên gọi là Ba ly Phật điển. Kinh điển
của Bắc phương Phật giáo được ghi chép bằng tiếng Phạn,
nên gọi là Phạn ngữ Phật điển.
Tuy
phân chia Đại thừa, Tiểu thừa hay Nam truyền, Bắc truyền,
song thật ra Bắc truyền Phật giáo cũng gồm có Kinh, Luật,
Luận của Tiểu thừa; Nam truyền Phật giáo cũng có nơi xen
lẫn giáo lý Đại thừa. Danh từ Bắc phương hay Nam phương
Phật giáo là chỉ cho hai hệ thống kinh điển Phạn ngữ và
Ba ly, chớ không phải chỉ trên phương diện địa lý. Chẳng
hạn như đảo Xà Bà (Java), địa cảnh thuộc về Nam phương,
nhưng nhân dân xứ ấy đã từng tín phụng Bí mật giáo của
Đại thừa. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại đảo này
những tượng Phật, Bồ tát và kinh điển của Đại thừa
Phật giáo.
Tiết
V: Ba Tạng
Kinh
điển đạo Phật chia ra làm ba loại, người ta thường gọi
là tam tạng: Kinh, Luật, Luận.
"Kinh"
là những pháp về giáo lý, giải, hạnh, do đức Như lai nói
ra, hoặc hàng Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác hay Hóa nhân nói,
mà được Phật Ấn chứng. Đạo pháp này hợp với chân lý,
căn cơ, để cho người học Phật tu hành dứt trừ phiền
não. "Luật" là những giới luật của Phật chế định, để
cho hàng đệ tử y theo đó ngăn trừ những phi hạnh, tu tập
các pháp lành, thân tâm dần dần được thanh tịnh. "Luận"
có nghĩa: bàn luận, là những sách do các đệ tử Phật viết
ra, để phát huy nghĩa lý nhiệm mầu trong kinh luật. Đây là
bộ phận triết học của Phật giáo, có công năng quyết đoán
tánh tướng các pháp, phân biệt lẽ chánh tà, khiến cho học
giả khỏi nhận lầm.
Những
điểm đồng và dị của tam tạng như thế nào? Luận Tỳ
Bà Sa nói:
Chư
Phật ra đời đều có ba tạng (Tripitaka): Tu đa la (Sùtra),
Tỳ nại gia (Vinaya), A tỳ đạt ma (Abhidharma). Ba tạng này
thật ra không khác mà khác, hay nói ngược lại. Không khác
là tất cả Phật giáo đều từ nơi một biển trí mà sinh
ra, đều đồng một nhiếp thọ, lực, vô uý, và đều do tâm
đại bi phát khởi. Có khác là Tu đa la y nơi tâm mà luận,
Tỳ nại gia y nơi giới mà luận, A tỳ đàm y nơi huệ mà
luận. Đây là nói về sở y sai biệt. Lại, Tu đa la do nơi
thứ đệ mà hiển, Tỳ nại gia do nơi duyên khởi mà hiển,
A tỳ đàm do nơi tướng tánh mà hiển. Đây là nói về sở
hiển sai biệt. Lại, Tu đa la thuộc về dòng trí lực, Tỳ
nại gia thuộc về dòng đại bi, A tỳ đàm thuộc về dòng
vô úy. Đây là nói về đẳng lưu sai biệt. Công năng của
Tu đa la là: người chưa trồng căn lành, khiến cho trồng căn
lành. Công năng của Tỳ nại gia là: người đă trồng căn
lành, khiến cho tiếp tục được thành thục. Công năng của
A tỳ đàm là: người đă chủng căn lành thành thục, khiến
cho được sự giải thoát chân chánh. Đây là nói về sở
vi sai biệt. Tu đa la do hàng thỉ nghiệp mà nói, Tỳ nại gia
do hàng quán tập mà nói, A tỳ đàm do hàng đã vượt qua sự
tác ý mà nói. Đây là nói về phận vị sai biệt. Nẻo tiến
của Tu đa la là: người chưa vào chánh pháp, khiến cho thọ
trì học xứ. Nẻo tiến của A tỳ đàm là: người đã thọ
kỳ học xứ, khiến cho thông đạt tánh tướng chân thật
của các pháp. Đây nói về tiến thú sai biệt.
Trong
Tu đa la cũng có luận về giới và huệ. Trong Tỳ nại gia
cũng có luận về huệ và tâm. Trong A tỳ đàm cũng có luận
về tâm và giới. Đây là điểm khác mà không khác của ba
tạng.
Sao
gọi là "tạng". Chữ "tạng" (Pitaka) có nghĩa: trùm chứa. Kinh,
luật, luận sở dĩ được gọi là tạng, vì nội dung trùm
chứa vô lượng nghĩa lý nhiệm mầu, vì là giáo pháp thuyết
minh tạng tánh của Như Lai.
Trong
ba tạng, theo nghĩa hẹp, riêng về giáo pháp của Phật nói
ra hoặc ấn chứng, được gọi là Kinh, còn bao nhiêu thì là
Luật hay Luận. Nhưng ba tạng đều là giáo điển của đạo
Phật, đều có liên quan với lời Phật dạy, nên theo nghĩa
rộng, cũng thông gọi là Kinh. Vì thế, nên lại có những
danh từ như: Nhất thế kinh, Đại tạng kinh, với ý nghĩa
gọi chung cho ba phần giáo điển.
Ngoài
ra, những kinh điển Đại thừa còn gọi là Bồ tát tạng,
kinh điển Tiểu thừa gọi là Thanh văn tạng. Cả Đại thừa,
Tiểu thừa đều có ba tạng, nghĩa là kinh, luật, luận riêng.
Tam tạng của Đại thừa, về kinh như: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa,
về luật như: Phạm Võng, Đại Thừa Giới Kinh, về luận
như Khởi Tín, Đại Trí Độ. Tam tạng của Tiểu thừa, về
kinh như: A Hàm, Pháp Cú; về luật như: Ngũ Phần, Thập Tụng;
về luận như: Câu Xá, Thành Thật.
Lại
còn có những danh từ như Bí mật tạng, Tạp tạng...., mà
nội dung là: bộ phận mật chú, bộ phận hợp tập những
bài thuyết pháp tản mác của đức Phật. Nhưng dù là Bồ
tát, Thanh văn tạng, Bí mật tạng hay Tạp tạng, đều không
ngoài ý nghĩa ba tạng. Tam tạng là danh từ thống nhất của
giáo điển đạo Phật, gồm cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa.
Tiết
VI: Mười Hai Phần Giáo
Ba
tạng kinh điển của đạo Phật, y theo thể tài, được phân
chia thành mười hai bộ loại. Người học Phật thường gọi
những bộ loại này là "mười hai phần giáo":
1.
Tu Đa La (Sùtra): Danh từ này có một lối gọi là Tô Tát Lãm,
Trung Hoa dịch là Kinh hay Khế Kinh. Chữ "Khế" có nghĩa là
"hợp", chữ "Kinh" có nghĩa là "thường". Pháp giải thoát là
pháp chư Phật trong ba đời vẫn thường nói, và pháp ấy
hợp với chân lý, hoặc với nhân duyên thời tiết cùng căn
cơ của chúng sinh, nên gọi là Khế Kinh. Kinh cũng gọi là
Trường Hàng (tản văn, văn xuôi), một lối văn chỉ nói ngay
ý nghĩa của mình, tùy theo nghĩa lý mà đọc ra câu văn dài
hay ngắn. Lối văn này không cần sửa soạn lắm như lối
văn từ phú.
Luận
Du Già nói: "Kinh là những danh, cú, văn thân, phát huy nghĩa
nhiệm mầu, chân thật, thuần thiện. Kinh hay khiến cho chúng
sinh được điều lợi ích của giáo nghĩa và dẫn khởi sự
tu tập phạm hạnh".
Kinh
Đại Niết Bàn nói: "Thiện nam tử! Sao gọi là Khế Kinh? Ấy
là giáo thuyết của Phật từ câu "Như thế, tôi nghe" cho đến
câu, "vui mừng phụng hành".
2.
Kỳ Dạ (Geya): Danh từ này, Trung Hoa dịch là Ứng Tụng hay
Trùng Tụng. Đây là lối kệ văn thuật lại những ý nghĩa
của đoạn văn Trường Hàng nói trên, có khi nói thêm cho ý
nghĩa ấy được đầy đủ. Lối văn này thường lấy bốn,
năm hoặc bảy, tám chữ làm một câu, bốn câu làm một bài.
Lại có khi một bài gồm nhiều câu, tùy theo sự diễn ý rộng
hay hẹp. Trong pháp hội, đức Thế Tôn thường nói văn Trùng
Tụng, với dụng ý làm cho thính giả ghi nhớ và có thể tóm
tắt lại giáo nghĩa mà Ngài vừa tuyên thuyết.
3.
Thọ Ký: Thọ ký cũng gọi là Ký Biệt. Đây là những đoạn
văn mà đức Phật ghi nhận cho đệ tử sau sẽ sinh về đâu,
hoặc chừng nào sẽ chứng đạo quả, hoặc tương lai sẽ
xảy ra sự gì tốt hay xấu. Như đức Phật nói: "A Dật Đa!
Đời vị lai có vị quốc vương tên là Nhương Khê. Ông sẽ
ở nơi thời ấy mà thành phật, hiệu là Di Lặc".
4.
Dà Đà (Gàthà): Danh từ này, Trung Hoa dịch là Phúng Tụng
hoặc Cô Khởi. Phúng Tụng là làm những bài kệ hoặc hai
ba bốn, năm, sáu câu. Nói Cô Khởi, là lối văn này không
thuật lại ý nghĩa đoạn văn Trường Hàng trên, mà chỉ làm
riêng từng bài kệ thôi.
5.
Ưu Đà Na (Udàna): Danh từ này, Trung Hoa dịch là Tự Thuyết.
Đây là những kinh do Phật dùng trí huệ xem xét căn cơ chúng
sinh, rồi Ngài tự nói pháp, không đợi phải có người thưa
thỉnh yêu cầu.
6.
Ni Đà Na (Nidàna): Danh từ này, Trung Hoa dịch là Nhân Duyên.
Đây là những kinh nhân có người thỉnh, hay nhân có duyên
chi Phật mới nói ra, hoặc nói về nhân duyên gặp Phật nghe
pháp, những chỗ có nhân duyên hóa độ, hay nói về duyên
khởi của vũ trụ. Thí dụ như thuở xưa ở nước Xá Vệ
có người dùng lưới bắt chim để chơi. Khi bắt được,
anh đem nó nhốt vào lòng cho ăn lúa uống nước xem cho chán
rồi thả. Phật thấy thế, biết rõ nhân duyên trước sau,
khuyên rằng: "Chớ khinh tội nhỏ. Cho là không sao. Giọt nước
tuy ít. Lần đầy chum lớn".
7.
A Ba Đà Na (Avadàna): Danh từ này có nghĩa là Thí Dụ. Pháp
của Phật nói ra rất mầu nhiệm, người căn cơ tối chậm
khó mà hiểu thấu. Vì thế, khi giảng dạy đức Như Lai phải
dùng những thí dụ cho thính chúng dễ hiểu. Đại khái như
những lời thí dụ trong các kinh điển.
8.
Y Đế Mục Đa Dà (Itivrttaka): Danh từ này, Trung Hoa dịch là
Bản Sự. Đây là những kinh văn Phật nói chỗ tu nhân của
các vị Bồ tát, đệ tử về đời quá khứ, hoặc những
ngôn giáo, sự nghĩa liên quan với đời trước. Thí dụ như
đoạn: Này các Tỷ khưu! Pháp của ta nói hôm nay gọi là Giới
kinh, đời Phật Câu Lưu Tôn gọi là Cam lồ cổ, đời Phật
Câu Na Hàm Mâu Ni gọi là Pháp cảnh, đời phật Ca Diếp gọi
là Biệt không.
9.
Xa Đà Dà (Jàtaka): Danh từ này, Trung Hoa dịch là Bản Sanh.
Đây là những kinh Phật nói về nhân duyên thọ sanh của chính
Ngài hoặc các đệ tử trong nhiều đời trước. Như đoạn:
Các ông nên biết, đời quá khứ khi hành đạo Bồ tát, ta
đã từng thọ thân hươu, nai, thỏ, gấu, rồng, kim súy điểu,
Túc tán vương, Chuyển luân vương.
10.
Tỳ Phật Lược (Vaipulya): Danh từ này, Trung Hoa dịch là Phương
Quảng. Đây là những kinh Đại thừa Phương Đẳng, nội dung
hàm nghĩa lý cao siêu, rộng rãi, như mười phương hư không.
11.
A Tỳ Đạt Ma (Adbhuta dharma): Danh từ này, Trung Hoa dịch là
Vị Tằng Hữu hoặc Hi pháp. Đây là kinh văn nói về những
thần lực, những nghiệp duyên, những công đức tối thắng,
lạ lùng, ít có, mà trí phàm phu khó tin hiểu. Như kinh Đại
Niết bàn nói: "Thế nào là pháp Vị Tằng Hữu? Như Bồ tát
khi mới sinh ra, không người nâng đở, mà tự đi bảy bước,
phóng đại quang minh, nhìn khắp mười phương. Như con vượn
tay bưng bát mật cúng dường Như Lai. Như con chó cổ trắng
theo bên Phật nghe thuyết pháp. Như Thiên ma Ba Tuần biến làm
con thanh ngưu đi trên những bát bằng sành, khiến cho các bát
va chạm nhau mà không sứt bể. Và cũng như Bồ tát khi mới
sinh được đưa vào miếu thờ thiên thần, các thiên tượng
đều đứng lên lễ kỉnh".
12.
Ưu Bà Đề Xá (Upadesa): Danh từ này có nghĩa Luận Nghị. Đây
là lối kinh văn có tính cách vấn đáp biện luận, hoặc phân
biệt các tướng mạo, các lẽ chánh tà. Luận Du Già nói:
"Thế nào là Luận Nghị? Đây là tất cả đối pháp luận,
nghiên cứu nghĩa rộng sâu của Tô Đát Lãm, tuyên dương tông
yếu của các kinh".
Trong
mười hai bộ loại trên, chỉ có Tu Đa La, Kỳ Dạ và Dà Đà
là thể tài chính thức của kinh giáo. Còn chín loại kia, chẳng
qua là y theo các sự kiện sai biệt của pháp điển mà lập
ra vậy thôi.
Và
mười hai phần giáo này, không phải trong kinh nào cũng có
đủ cả. Có thứ kinh chỉ được một hai phần, có thứ kinh
gồm đến năm sáu phần chẳng hạn. Ấy là tùy theo thời
tiết, cơ duyên riêng biệt của mỗi thứ kinh, mà có những
sự sai khác hoặc ít hoặc nhiều.