Thiên
Thứ Hai
Chương
Thứ Hai
Thân
Trung Hữu Và Sự Thọ Sanh
Tiết
Mục:
-
I. Thân
trung hữu
-
II. Trạng
thái lúc vào thai
-
III. Trạng
thái khi ở trong thai
-
IV. Sanh
về ác đạo
-
V. Sanh
về thiện đạo
-
VI. Nghiệp
duyên thọ sanh
Pháp
tạng trích dẫn: Tỳ Nại Gia Tạp Sự, Luận Du Già, Kinh Đại
Bảo Tích, Kinh Thủ Hộ Quốc Giới, Tạp Sự Lục, Đại Thừa
Trang Nghiêm Kinh Luận, Kinh Chánh Pháp Niệm, Luận Thuận Chánh
Lý, Luận Câu Xá, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Giới Tập.
Đề
yếu: Loài hữu tình sau khi mạng chung, đã bỏ thân tiền hữu,
chưa thọ thân hậu hữu thì ở vào giai đoạn cảm thân trung
hữu. Thân trung hữu này do năm ấm thân. Trong đây, trừ những
chúng sanh tạo nghiệp cực thiện thuộc cõi Vô Sắc, hoặc
nghiệp cực ác thuộc nẻo A tỳ, thì liền hóa sanh ngay những
nơi đó, mà không trải qua trung ấm thân. Ba tiết trước của
bản chương thuật lại hình dáng xấu đẹp sai biệt của
những trung ấm thân thuộc các nẻo thiện ác, trạng thái
của trung hữu lúc vào thai và khi chuyển thọ thân hậu hữu
ở trong thai. Hai tiết mục kế, nói về tiên triệu khi chúng
sanh lâm chung sẽ sanh về ác đạo hay thiện đạo, cùng những
cảnh tướng hiển hiện khi trung hữu sắp sanh về các nẻo.
Tiết sau cùng nói tổng quát về nghiệp duyên của chúng sanh
thăng trầm trong tam giới, hoặc được siêu sanh về Tịnh
độ.
Mục
đích của chương này là trình bày cảnh duyên thiện ác, cho
người học Phật bỏ điều dữ tu pháp lành, và biết trước
các nghiệp tướng để tìm nẻo thiện sanh, tránh đường
sa đọa.
Tiết
I: Thân Trung Hữu
Sao
gọi là Trung hữu? Trung hữu là thân quả báo ở khoảng giữa
của đời này và đời sau, vì quả báo ấy có mà chẳng phải
không, nên gọi là "hữu". Trung hữu cũng gọi là trung ấm,
vì thân ấy do năm ấm tạo thành.
Đức
Phật bảo Nan Đà: Khi cha mẹ giao hợp lúc là thân trung hữu
vào thai. Trung ấm có hai loại: hình sắc xinh đẹp, và dung
mạo xấu xa. Trung hữu của địa ngục hình rất xấu, sắc
đen như than. Trung hữu của bàng sanh sắc nám như khói. Trung
hữu của ngạ quỉ sắc đạm như nước. Trung hữu của người
và trời Dục giới sắc như vàng ròng. Trung hữu của chư
thiên cõi Sắc rất đẹp, màu tươi trắng sáng rõ. Thân trung
ấm của hàng nhơn thiên ở cõi Dục, đại để bằng đứa
trẻ năm bảy tuổi. Thân trung ấm của chúng sanh cõi Sắc
lớn bằng thân bản hữu và có y phục vì do nhiều chủng
tử tàm tu. Chúng sanh ở cõi Vô Sắc không có trung ấm thân,
bởi vì không hình sắc. Loài hữu tình cực thiện như nghiệp
báo cõi Vô Sắc và cực ác như nghiệp báo ngục A Tỳ, khi
chết rồi liền thọ sanh ngay, không trải qua thân trung hữu.
Trung ấm thân có loại hai tay hai chân, có loại bốn chân,
nhiều chân, hoặc không chân. Đại khái, chúng hữu tình tùy
theo nghiệp đã tạo, phải thác sanh về nẽo nào, loài nào,
thì trung ấm thân có hình dáng giống như loài ấy. Trung hữu
của chư thiên đầu hướng lên, Trung hữu của người, bàng
sanh và quỉ nằm ngang mà bay đi. Trung hữu của chúng sanh cõi
địa ngục đầu trúc xuống. Các trung ấm thân đều có thần
thông, nương hư không mà đi, thị tuyến rất xa và sáng suốt,
trong khoảng khắc đã tìm đến chỗ phải thọ sanh (Tỳ Nại
Gia Tạp Sự).
Trung
ấm thân cũng có đủ các căn. Trung hữu của kẻ tạo nghiệp
ác, ánh ra sắc đen xám cũng như đêm tối tăm. Trung hữu của
kẻ tạo nghiệp thiện ánh ra sắc trắng như đêm trong sáng.
Mắt của trung ấm thân nhìn suốt xa như thiên nhãn, không
bị chướng ngại, thấy các trung hữu khác và chỗ mình sẽ
thọ sanh. Trong giây phút, trung ấm thân có thể bay vòng quanh
giáp núi Tu Di, lại có thể đi xuyên qua tuờng vách núi non
không chi chướng ngại, trừ ra thai mẹ và tòa Kim Cang của
Phật. Những trung hữu thuộc về nghiệp ác, úp mặt nhìn
xuống mà bay đi, còn những trung hữu thuộc về nghiệp thiện
thì đầu ngước lên.
Trung
ấm thân chỉ trụ được bảy ngày đêm, nếu trong thời hạn
ấy không tìm được chỗ thác sanh, thì chết rồi sống lại,
nhưng đại khái trong vòng 49 ngày là được thọ sanh. Trung
hữu khi chết, hoặc sanh trở lại như thân trước, hoặc do
nghiệp lành dữ chuyển biến, đổi lại thành thân của các
loại khác. Trung ấm cũng có tên là Kiền Đạt Phược (hương
hành), vì đi tìm mùi, dùng mùi mà tự nuôi sống. Lại trung
hữu, khi sắp diệt để thọ thân hậu hữu, tùy theo nghiệp
đã tạo, thấy nhiều tướng khác nhau; bấy giờ tâm thức
mơ màng dường như ở trong mộng. Những kẻ tạo nghiệp sát,
hay giết heo, dê, gà, vịt, tôm, cá, thì lúc ấy thấy những
loài đó, lại thấy có người đang làm thịt, tùy theo túc
nghiệp tự nhiên sanh ra ưa thích muốn đi đến xem. Khi đến
nơi liền bị cảnh sắc làm trở ngại không thể thoát ly,
trung hữu liền diệt mà thọ thân hậu hữu. Lúc sắp diệt,
trung ấm thấy nhiều màu sắc sanh diệt liên tục, như người
sắp chết thấy những hình tướng tạp loạn, mắt chăm chú
nhìn, tay chỉ chỗ nầy chỗ khác. (Luận Du Già).
Tiết
II: Trạng Thái Lúc Vào Thai
Trường
hợp nào thân trung hữu không vào thai được? Đó là những
lúc cha mẹ không giao hợp, hoặc khi giao hợp tinh cha ra tinh
mẹ không ra, tinh mẹ ra tinh cha không ra, hoặc đều không ra.
Lại nữa, hoặc khi người mẹ quá mập, nhiều thịt dư, hay
có các chứng bịnh như tử cung lạnh, khí huyết kết thành
cục, vàng vã nhiều đàm, hoặc do uống thuốc cấm thai, cùng
các chứng bịnh riêng của người cha. Về phần nghiệp báo,
nếu cha mẹ tôn quý con ty tiện, hay là trái lại, thì không
thể thành thai. Hoặc có khi cha mẹ cùng con đều tôn quý hay
đều ty tiện, nhưng nghiệp duyên không hợp cũng không thể
thành thai.
Đức
Phật bảo: Này Nan Đà! Nếu không có các trường hợp như
trên, thì trung hữu mới vào thai mẹ. Như các duyên đều thuận,
khi cha mẹ giao hợp, thân trung ấm ở xa trông thấy ánh sáng
liền bay đến đó. Lúc ấy, do túc nghiệp, trung hữu liền
khởi ra các sự vọng tưởng; như trung ấm nam thì đối với
mẹ sanh lòng mến yêu, với cha lại ganh ghét; trung hữu nữ
thì đối với mẹ sanh lòng ganh ghét, với cha lại mến yêu.
Bấy
giờ trung ấm bổng có cảm giác nóng hoặc lạnh, hay thấy
mưa to, gió lớn, mây mù nổi lên, hoặc nghe nhiều tiếng huyên
náo đáng chán buồn, hay tiếng thanh tao đáng ưa thích. Khi
các vọng tâm, huyễn cảnh nầy hiện ra, tùy nghiệp hơn kém,
trung hữu lại khởi sanh mười huyễn tướng khác như: nay
ta vào nhà, ta muốn lên lầu, ta lên đền đài cao đẹp, ta
lên ngồi trên giường ghế, ta vào am tranh, ta vào chòi lá,
ta đi vô rừng, ta vào lùm bụi, ta xuyên qua lổ tường vách,
ta chui vào hàng rào. Khi khởi các tưởng niệm như trên xong,
trung hữu liền vào thai. Sự kết thai đây có ba điều kiện
hổn hợp: tinh cha, huyết mẹ và nghiệp thức. Trạng thái
nầy vì như người để sửa chín vào bình, rồi lấy đủa
quậy đánh mãi cho đến khi dậy lên thành ra vị tô. Kết
quả hổn hợp của tinh cha, huyết mẹ, nghiệp thức hòa thành
một khối gọi là Yết La Lam.
Này
Nan Đà! Ví như loại thảo trùng nương nơi cỏ mà sanh, cỏ
không phải trùng, trùng không lìa cỏ, nhưng do nhân duyên cỏ
hòa hợp mà con trùng thân sắc màu xanh. Trường hợp này cũng
như con bọ hung sanh nơi phân trâu, thân sắc màu vàng sậm.
nên biết thân Yết La Lam do tinh cha huyết mẹ cũng lại như
thế.
Lại
nữa, thân Yết La Lam phải có đủ bốn giới: địa, thủy,
hỏa, phong, tức là các tánh chất: cứng đặc, ướt nhuần,
nóng ấm và khinh động. Nếu thân ấy chỉ có địa giới
thiếu thủy giới thì không thành; ví như người dùng tay nắm
bột hoặc tro khô, khi buông tay ra, tro bột đều bay tan. Trường
hợp có thủy giới thiếu địa giới cũng như thế; ví như
người chỉ nhồi nước hoặc dầu, rốt cuộc vẫn là chất
tan lỏng không kết thành khối được. Nên biết do thủy giới
nên địa giới không rã, do địa giới nên thủy giới không
tan. Và, nếu Yết La Lam thiếu phong giới thì không thể tăng
trưởng, thiếu hỏa giới thì không thể thành thục. Cho nên
sắc thân con người khởi thỉ từ Yết La Lam do các duyên
hòa hợp mà có sanh, trụ, tăng trưởng, suy hoại, thật rất
đáng chán, ta không chút chi ưa thích! Xét ra sanh tức là khổ,
trụ là bịnh, tăng trưởng, suy hoại tức là già, chết. Kẻ
nào đối với biển hữu vi mà sanh lòng ưa thích, tất phải
nằm trong thai mẹ, chịu đủ các điều khổ (Luận Du Già,
Tỳ Nại Gia Tạp Sự).
Tiết
III: Trạng Thái Khi Ở Trong Thai
Đức
Phật bảo: Này A Nan! Thân Yết La Lam ở nơi thai mẹ trong bảy
ngày đầu, hình dáng như sữa tươi, từ đó do sức nội nhiệt,
lần lần tăng trưởng. Trong khoảng bảy ngày thứ hai, cảm
phát gió nghiệp tên là Biến mãn, thổi hai bên hông người
mẹ, khiến cho Yết La Lam đọng lại như sữa đặc, sắp hiện
ra tướng trạng người, gọi là An phù đà. Trong khoảng bảy
ngày thứ ba, cảm phát gió nghiệp tên là Tàng khẩu; so sức
gió này thân An phù đà có hình dáng hai cánh tay khép lại,
giống như cái chày đâm thuốc. Trong khoảng bảy ngày thứ
tư, cảm phát gió nghiệp tên là Nhiếp thủ; do sức gió này
biến tướng hai cánh tay khép lại thành ra Dà na (mật hậu,
mật hiệp), hình như chiếc giày cong cong. Trong khoảng bảy
ngày thứ năm, cảm phát gió nghiệp tên là Nhiếp trì; do sức
gió này chuyển biến Dà na thành Bát la xa khê (nhục đoàn
vị), hiện ra tướng hai bên mông, hai vai, thân và đầu. Trong
khoảng bảy ngày thứ sáu, cảm phát gió nghiệp tên là Vi
phạn; do sức gió này chuyển thành bốn tướng là hai cánh
tay và hai bắp chơn. Trong khoảng bảy ngày thứ bảy, cảm
phát gió nghiệp tên là Toàn chuyển; do sức gió này, thai nhi
lần hiện ra hai bàn tay hai bàn chơn. Trong khoảng bảy ngày
thứ tám cảm phát gió nghiệp tên là Phiên chuyển; do sức
gió này, mười ngón tay và chơn sanh ra đầy đủ. Trong khoảng
bảy ngày thứ chín, cảm phát gió nghiệp tên là Phân tán;
do sức gió này sanh ra các tướng; mặt, tai, mũi, miệng và
đường đại tiểu tiện. Trong khoảng bảy ngày thứ mười,
cảm phát hai luồng gió nghiệp tên là Kiên tiên và Phổ môn,
hai thứ gió này làm cho thai nhi đọng chắc lại và phồng
no đầy đủ dường như cái pháo. Trong khoảng bảy ngày thứ
11, cảm phát gió nghiệp tên là Kim cang, sức gió này làm cho
thai nhi cửu khiến đều thông, tay chơn máy động, miệng tươm
máu bầm, mũi chảy ra nước. Trong khoảng bảy ngày thứ 12,
cảm phát hai luồng gió tên là Khúc Khẩu, Xuyên phát; sức
thổi của hai thứ gió này khiến cho sanh ra đại tiểu trường,
320 chi tiết và 101 yếu huyệt. Trong khoảng bảy ngày thứ
13, cảm phát gió nghiệp tên là Cơ khát; do sức gió này, thai
nhi bỗng sanh ra niệm đói khát, từ nơi cuống rún thâu rút
chất bổ ăn uống từ người mẹ vào, để tự nuôi dưỡng.
Lúc ấy, đức Thế Tôn nói bài kệ:
-
Đứa
bé trong thai mẹ
-
Mười
ba lần bảy ngày
-
Cảm
giác thân trống không
-
Liền
sanh niệm đói khát
-
Thức
ăn của người mẹ
-
Tư dưỡng
vào thai nhi
-
Do đó
thân mạng còn
-
Lần
lần được thêm lớn.
Này A
Nan! Trong khoảng bảy ngày thứ 14, cảm phát gió nghiệp tên
là Tuyến khẩu; do sức gió này 900 đường gân sanh ra. Trong
khoảng bảy ngày thứ 15, cảm phát gió nghiệp tên là Liên
hoa, sức gió này làm cho sanh ra 20 mạch lớn, chất ăn uống
chạy theo đó mà tư dưỡng thai nhi. Mỗi mạch lớn có 40 mạch
trung, mỗi mạch trung lại có 100 mạch nhỏ, thành ra tám vạn
mạch có đủ màu sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng. Những mạch
này liên quan với các lỗ chân lông. Trong khoảng bảy ngày
thứ 16, cảm phát gió nghiệp tên là Cam lộ, sức gió này
làm cho cửu khiếu đều thông các tạng bên trong, hơi thở
lưu chuyển theo thân thai nhi không còn trở ngại. Trong khoảng
bảy ngày thứ 17, cảm phát gió nghiệp tên là Mạo ngưu diện;
sức gió này làm cho đôi mắt thai nhi sáng sạch, các căn khác
lần lần thành tựu. Trong khoảng bảy ngày thứ 18 cảm phát
gió nghiệp tên là Đại kiên cường, sức gió này làm cho
các căn tươi sạch, như gió thổi mây tan lộ ánh nhựt nguyệt.
Trong khoảng bảy ngày thứ 19, cũng do sức gió trước, từ
thân căn, mạng căn, ý căn, cho đến các căn khác thảy đều
thành tựu đầy đủ. Trong khoảng bảy ngày thứ 20 cảm phát
gió nghiệp tên là Kiên cố; do sức gió này, các thứ xương
thân đều sanh ra. Trong khoảng bảy ngày thứ 21, cảm phát
gió nghiệp tên là Sanh khởi, sức gió này làm cho sanh ra thịt.
Trong khoảng bảy ngày thứ 22, cảm phát gió nghiệp tên là
Phù lưu, sức gió này làm cho sanh ra máu. Trong khoảng bảy
ngày thứ 23, cảm phát gió nghiệp tên là Tịnh trì; sức gió
này làm cho sanh ra da. Trong khoảng bảy ngày thứ 24, cảm phát
gió nghiệp tên là Trì vân, sức gió này làm cho bì phu có
sắc tươi nhuần. Trong khoảng bảy ngày thứ 25, cảm phát
gió nghiệp tên là Trì thành, sức gió này làm cho máu thịt
của thai nhi lần lần được tư nhuận. Trong khoảng bảy ngày
thứ 26, cảm phát gió nghiệp tên là Sanh thành, sức gió này
làm cho sanh ra tóc, lông, móng tay và chơn. Trong khoảng bảy
ngày thứ 27, cảm phát gió nghiệp tên là Khúc dược; sức
gió này làm cho thân tướng được thành tựu. Khi ấy, đức
Thế Tôn nói bài kệ:
-
Đứa
bé trong thai mẹ
-
Hăm bảy
lần bảy ngày
-
Do các
nghiệp lành dữ
-
Thân
tướng hiện xấu đẹp.
-
Nếu
thai nhi là trai
-
Ở hông
bên mặt mẹ
-
Ngồi
co, tay che mặt
-
Hướng
về phía xương sống.
-
Như thai
nhi là gái
-
Thì ở
hông bên trái
-
Hai tay
úp vào mặt
-
Ngồi
hướng về trước bụng.
-
Khi người
mẹ đi mau
-
Hoặc
ngồi nằm hơi lâu
-
Hoặc
ăn các mùi vị
-
Nóng,
lạnh không hợp thân
-
Hoặc
ăn ít ăn nhiều.
-
Thai nhi
đều chịu khổ.
-
Cho nên
người có trí
-
Chớ
mến nẻo luân hồi.
Lại
nữa, A Nan! Trong khoảng bảy ngày thứ 28, thai nhi sanh ra tám
thứ vọng tưởng điên đảo, như: mình ngồi xe ngựa hoặc
đi thuyền, ở lầu cao, nằm trên giường, nghe suối chảy,
đến đầm ao, thấy sông rộng, ở khu vườn nhỏ, vào hoa
viên to. Trong khoảng bảy ngày thứ 29, cảm phát gió nghiệp
tên là Hoa điều, sức gió này làm cho thai thân sáng sủa,
các tướng phân minh; do nghiệp lành dữ đời trước, thai
nhi hoặc đen, hoặc trắng, hoặc không đen trắng, hoặc có
các màu sắc khác, hoặc khô khan, hoặc tươi nhuận. Trong khoảng
bảy ngày thứ 30, cảm phát gió nghiệp tên là Thiết khẩu
do sức gió này, tóc lông móng tay chơn đều dài ra. Trong khoảng
bảy ngày thứ 31, đến 35, thai thân lần lần lớn, nhơn tướng
đầy đủ. Trong khoảng bảy ngày thứ 36, thai nhi sanh lòng
nhàm chán, không vui. Trong khoảng bảy ngày thứ 37, thai nhi
khởi ra năm tưởng niệm điên đảo: tưởng tướng bất tịnh,
tưởng sự hôi nhơ, ở trong tù ngục, ở chỗ tối tăm, mình
thấy buồn chán. Trong khoảng bảy ngày thứ 38, cảm phát hai
luồng gió nghiệp tên là Câu duyên và Thú hạ; sức thổi
của hai thứ gió này làm cho thai nhi xoay chuyển, đầu trở
xuống dưới, xuôi hai tay như sắp muốn ra. Nếu đứa bé đời
trước có tạo nghiệp đọa lạc, thì tay chơn ngang dọc xoay
trở không được, chết trong bụng mẹ; làm cho người mẹ
rất đau đớn khổ sở hoặc có thể mạng chung. Như đứa
bé đời trước tạo những nghiệp lành hay gây nhân sống
lâu, thì khi sanh ra, mẹ con đều an ổn (Kinh Đại Bảo Tích).
Nếu
thai nhi ở trong bụng mẹ được chín tháng hay hơn chín tháng
mới sanh ra gọi là viên mãn. Như chỉ có tám, bảy hay sáu
tháng, thì không gọi là viên mãn. Thai tạng khi sanh trưởng
có tám vị sai biệt: yết la lam, yết bộ đàm, bế thi, kiền
nam, bát la xa khê, phát mao trảo, căn vị, hình vị. Yết la
lam vị là lúc tinh huyết mới kết động còn hơi lỏng hình
như mũi tên. Yết bộ đàm vị (cũng gọi là an phù đa) là
lúc thai tạng chưa sanh thịt, trong ngoài như sữa đặc. Bế
thi vị là lúc thai nhi mới tượng hình, có dáng hai cánh tay
khép lại, thịt đã sanh mà còn rất mềm. Kiền nam vị (cũng
gọi là dà na) là lúc khối thịt đã hơi cứng có thể xoa
rờ được. Bát la xa khê vị (cũng gọi là ban la xa khê) là
lúc thai nhục lớn lên hiện ra tướng tay chân và đầu. Phát
mao trảo vị là lúc tóc, lông, móng tay và chơn hiện ra. Căn
vị là lúc phát sanh mắt, tai, mũi, miệng, và đường đại
tiểu tiện. Hình vị là lúc các tướng nơi thân hiện ra đầy
đủ rõ ràng.
Lại
thai nhi còn do nghiệp đời trước của mình, hoặc ảnh hưởng
bởi người mẹ gây ra, mà tóc lông, màu sắc làn da, hoặc
chi phần có sự biến đổi. Nếu trong lúc mang thai, người
mẹ ăn nhiều chất vôi, chất mặn, đứa con bị nguyên nhân
ấy mà tóc lông thưa ít. Như người mẹ ở nơi chật hẹp
nóng bức, hoặc thường gần chỗ lửa nóng, đứa con bị
ảnh hưởng đó, màu da trở nên đen đúa; nếu trái lại,
thường ở chỗ lạnh, thì đứa con màu da trắng. Hoặc người
mẹ thích ăn nhiều chất nóng, về sau hài nhi sẽ có màu da
hung đỏ. Nếu trong lúc cấn thai, người mẹ còn nhiều dâm
dục, đứa con sẽ có làn da ghẻ chốc, sần sùi. Trong lúc
thai nghén, người mẹ không khéo giữ gìn, thường chạy nhảy
làm việc xốc xáo nặng nề, do ảnh hưởng đó, các chi phần
của đứa con hoặc xiên xẹo không đầy đủ (Luận Du Già).
Tiết
IV: Sanh Về Ác Đạo
Con
người khi sắp chết, thân tâm hôn muội như ngủ mà không
có chiêm bao. Lúc ấy minh liễu ý thức không hiện khởi, không
thể biết được cảnh sở duyên của sáu chuyển thức, đó
là tán hữu tâm cũng gọi sanh tử tâm. Bấy giờ do nghiệp
lành dữ, thân phần lần lần lạnh, chỗ nào còn nóng sau
rốt, là thần thức ra nơi đó. Có bài tụng rằng: "Đảnh
sanh cõi thánh mắt sanh trời. Bụng nóng ngạ quỉ, tim nóng
người. Bàng sanh thần thức ra đầu gối. Nóng ở bàn chơn
địa ngục thôi!". (Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận).
Người
nào khi lâm chung, sắp đọa vào loài bàng sanh, thì có những
tiên triệu như sau: 1. Thân mang bịnh nặng tâm mê mờ tán
loạn như ở trong mây mù. 2. Sợ nghe danh hiệu Phật, không
chịu ai khuyên bảo điều lành. 3. Ưa thích mùi cá thịt. 4.
Quyến luyến vợ con, đắm đuối không bỏ. 5. Các ngón tay
và chơn đều co quắp. 6. Cả mình toát ra mồ hôi. 7. Khóe
miệng chảy ra nước. 8. Tiếng nói khò khè hoặc rít róng
khó nghe. 9. Miệng thường ngậm đồ ăn.
Người
nào khi lâm chung, sắp đọa vào đường ngạ quỉ, thì có
những tiên triệu như sau: 1. Thân mình nóng như lửa. 2. Lưỡi
luôn luôn liếm môi. 3. Thường cảm thấy đói khát, ưa nói
đến việc ăn uống. 4. Miệng hả ra không ngậm lại. 5. Tham
tiếc tiền của, dây dưa khó chết. 6. Mắt thường trương
lên mà không nhắm. 7. Đôi mắt khô khan như mắt chim gỗ.
8. Không có tiểu tiện nhưng đại tiện thì nhiều. 10. Đầu
gối bên mặt lạnh trước. 10. Tay bên mặt thường nắm lại,
tiêu biểu cho lòng bỏn sẻn. 11. Lúc tắt hơi thở hai mắt
vẫn mở.
Người
nào khi lâm chung, sắp đọa vào nẽo địa ngục, thì có những
tiên triệu như sau: 1. Nhìn ngó thân quyến bằng con mắt giận
ghét. 2. Đưa tay lên quờ quạng hư không. 3. Đi đại tiểu
tiện không tự biết. 4. Thân thường có mùi hôi hám. 5. Nằm
úp mặt xuống hoặc che giấu mặt mày. 6. Hai mắt đỏ ngầu.
7. Nằm co về bên trái. 8. Xương lóng đau nhức. 9. Thiện tri
thức dù có chỉ bảo, họ cũng không tùy thuận. 10. Nhắm
nghiền đôi mắt không mở. 11. Mắt bên trái hay động đậy.
12. Sống mũi xiên xẹo. 13. Gót chân đầu gối luôn luôn run
rẩy. 14. Thấy ác tướng vẻ mặt sợ sệt mà nói không được,
hoặc sảng sốt kêu la bảo là quỉ hiện. 15. Tâm thức rối
loạn. 16. Cả mình giá lạnh, tay nắm lại, thân thể cứng
đơ (Kinh Thủ Hộ Quốc Giới).
Thân
trung ấm nào sắp sanh về cõi A tu la, thì sẽ thấy có những
vườn cây khả ái và những vần lửa lẫn lộn chuyển xoay.
Nếu thấy cảnh tượng ấy sanh lòng vui vẻ đi đến đó,
tức là thác sanh vào nẻo này.
Trung
ấm nào sắp đọa vào loài chó lợn, thường thấy nhiều
cô gái đẹp, mình ưa thích chạy theo; do nhân duyên đó mà
bị thác thai. Trung ấm nào sắp đọa vào các loài bàng sanh
khác, cảm thấy có luồng gió mãnh liệt cuốn lôi không tự
cưỡng lại được, hoặc thấy vô số quỉ thần cầm binh
trượng đuổi theo hoặc thấy lửa cháy lan tới rần rần,
sấm sét phủ đầu dữ dội, sương mù phủ giăng mịt mịt,
núi lở biển dậy ầm ầm, tự mình sợ hãi chạy vào rừng
bụi, hang đá mà lẩn trốn; hoặc đang khi ấy thấy ba cái
hố trắng, đỏ, đen, liền nhảy nhào xuống mà ẩn thân.
Do nhân duyên đó bị thọ sanh vào dị loại như hùm, beo, nai,
chồn, rắn, rít...
Những
trung ấm nào sắp đọa vào đường ngạ quỉ, thì tự thấy,
có một bãi sa mạc rộng lớn mênh mông không cây cối, hoặc
chỉ có những hang hố cỏ cây khô héo. Lúc ấy tự mình bị
sức gió nghiệp đưa đến đó, liền thác sanh vào ngạ quỉ
đạo, chịu nhiều sự nóng bức, đói khát khổ sở vô cùng!
Trung
ấm nào sắp sanh vào địa ngục bỗng nghe những khúc ca hết
sức bi ai buồn thảm, thấy cảnh giới mù mịt tối tăm, nhà
cửa sắc đen hay trắng, hoặc thấy hang hố sâu thẳm, đường
sá lờ mờ. Lúc ấy chính mình bị quỉ xua đuổi vào trong
đó, khi vào rồi thì thân không được tự do, liền bị thác
sanh.
Trung
ấm nào sắp đọa vào ngục hàn băng, do sức nghiệp, bỗng
nhiên thân thể nóng bức không kham, gặp hơi lạnh ở hàn
ngục xông lên, tự cảm thấy mát mẻ dễ chịu. Khởi lòng
ưa thích vội vã bay xuống nơi đó, lúc ấy liền bị thác
sanh. Trung ấm nào sắp đọa vào ngục viêm nhiệt, do sức
nghiệp, bỗng nhiên thân thể giá rét không kham, gặp hơi nóng
ở hỏa ngục xông lên, tự cảm thấy ấm áp dễ chịu, khởi
lòng ưa thích vội vã bay xuống nơi đó, lúc ấy liền bị
thọ sanh. Trung ấm nào sắp đọa vào ngục phẩn uế, do sức
nghiệp, bỗng cảm thấy một mùi thơm ngạt ngào chịu không
kham, bấy giờ trong tâm ước ao muốn tìm nơi có mùi hôi thúi
để đánh át bớt mùi thơm đó; bởi nhân duyên ấy mà bị
thọ sanh.
Lại
trung ấm nào thấy ánh sáng màu lục lờ mờ, ưa thích đi
vào đó, liền thác sanh về cõi A tu la. Trung ấm nào thấy
ánh sáng màu hơi xanh, ưa thích đi vào đó, liền bị thọ
thân bàng sanh. Trung ấm nào thấy ánh sáng màu hơi đỏ, ưa
thích đi đến đó, liền thác sanh vào loài ngạ quỉ. Trung
ấm nào thấy ánh sáng mờ đục như khói đen, ưa thích đi
đến đó, liền thác sanh vào nẻo địa ngục. (Tạp Sự Lục).
Đức
Phật bảo Đại Dược Bồ tát: Những chúng sanh tạo nghiệp
ác, sắp đọa vào Nại lạc ca, tự nhiên có lòng buồn thảm
kinh sợ tùy theo bản nghiệp thấy hình tướng của các địa
ngục, khi thần thức lìa thân liền sanh vào nơi đó. Hoặc
có kẻ thấy phương khác có dáng đỏ tươi dường như máu
rưới, liền sanh lòng nhiễm truớc, do nhân duyên đó mà thọ
sanh. Bấy giờ ngài Bạt Đà La Bà Lê thưa: Bạch Thế Tôn!
Các chúng sanh ở Nại lạc ca thân hình có những màu sắc
gì? Sự thọ thân như thế nào? Đức Phật bảo: nếu chúng
sanh nào nhiễm trước sông Tỳ la ni (Nan độ hà), thì thân
thể như sắc mây không trắng không đen. Nếu chúng sanh nào
nhiễm trước Khôi hà, thì thân thể có sắc vằn. Chúng sanh
ở những nơi đó thọ thân to lớn, cao tám chẩu rưỡi, râu
ria cùng tóc rất dài, bàn chơn hướng về phía sau. Giả sử
người ở cõi Diêm phù được trông thấy hình tướng ghê
gớm của các chúng sanh ấy, cũng phải kinh sợ mà chết! (Kinh
Đại Bảo Tích).
Tiết
V: Sanh Về Thiện Đạo
Người
nào khi lâm chung, sẽ sanh lại cõi người, thì có những tiên
triệu như sau: 1. Thân không bịnh nặng. 2. Khởi niệm lành,
sanh lòng hòa dịu, lòng vui vẻ vô tư, ưa việc phước đức.
3. Ít sự nói phô, nhớ nghĩ đến cha mẹ vợ con. 4. Đối
với việc lành hay dữ, tâm không lầm loạn. 5. Sanh lòng tịnh
tín, thỉnh Tam Bảo đến đối diện quy y. 6. Con trai con gái
đều đem lòng thương mến và gần gũi, coi như việc thường.
7. Tai muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bè bạn. 8. Tâm
chánh trực không dua nịnh. 9. Rõ biết bạn bè giúp đỡ cho
mình, khi thấy bà con săn sóc sanh lòng vui mừng. 10. Dặn dò
giao phó các việc lại cho thân quyến, rồi từ biệt mà đi.
Người
nào khi lâm chung, sẽ sanh lên cõi trời, thì có những tiên
triệu như sau: 1. Sanh lòng thương xót. 2. Phát khởi tâm lành.
3. Lòng thường vui vẻ. 4. Chánh niệm hiện ra. 5. Đối với
tiền của vợ con không còn tham luyến. 6. Đôi mắt có vẻ
sáng sạch. 7. Ngước mặt trông lên miệng mỉm cười, hoặc
tai nghe thiên nhạc, mắt thấy thiên đồng. 8. Không có những
sự hôi hám. 9. Sống mũi không xiên xẹo. 10. Lòng không giận
dữ.
Người
nào lúc bình thời giữ giới niệm Phật không được tinh
tấn khi sắp chết không có các tướng lành dữ, nhắm mắt
đi xuôi như người ngủ; kẻ ấy nghi tình chưa dứt, sẽ sanh
về nghi thành ở biên phương Tịnh độ.
Người
nào khi lâm chung biết ngày giờ trước, chánh niệm rõ ràng,
tự tắm gội thay đổi y phục, hoặc thấy quang minh chiếu
thân, hoặc thấy tướng hảo của Phật, các điềm lành hiển
hiện, kẻ ấy sẽ sanh về cõi Tịnh độ (Kinh Thủ Hộ Quốc
Giới).
Chúng
hữu tình ở ba đường ác, khi nghiệp hết, nếu có túc phước
cũng được sanh ngay trên cõi trời, như loại bàng sanh, lúc
mạng chung sắp chuyển sinh lên thiên cung, tự thấy có ánh
sáng rực rỡ, lòng si nhẹ bớt, trí tuệ mở mang, trong lòng
an vui, liền thoát hóa về thiên giới. Các ngạ quỉ lúc mạng
chung sắp sanh lên cõi trời, tự có cảm giác không còn đói
khát, tuy thấy các thức ăn uống, chỉ lấy mắt mà nhìn,
nơi tâm vui vẻ, liền được thọ sanh. Chúng sanh ở địa
ngục khi nghiệp hết sắp sinh lên thiên cung thì đang lúc bị
các hình phạt như: quỉ tốt đánh đập, bỏ vào vạt dầu
sôi, để trên giường sắt nóng, hay trong khi chim sắt, ác
thú cắn mổ liền chết ngay không còn sống lại. Bấy giờ,
tự nghe thấy chư thiên múa hát cười nói, cảm biết gió
thơm thổi vào mình, liền được thọ sanh.
Các
hữu tình khi mạng chung, thân trung ấm đang bơ vơ không nơi
nương tựa, thì lúc ấy có ánh sáng yếu ớt của lục phàm
soi đến. Tùy theo nghiệp duyên thân trung ấm sẽ sanh về cõi
nào luồng ánh sáng của đạo ấy càng rực rỡ hơn lên. Ánh
sáng của tứ ác đạo như trước đã nói, còn ánh sáng của
nẻo trời thì hơi trắng, ánh sánh của nẻo người thì hơi
vàng.
Lại
nữa, các cõi Phật ở mười phương cũng phóng ra những hào
quang rực rỡ và mạnh như: hào quang sắc xanh chói lòa, hào
quang sắc trắng trong sạch, hào quang sắc đõ mãnh liệt. Như
thế có rất nhiều thứ hào quang của chư Phật chói suốt
lẫn nhau. Nhưng vì nghiệp lực, nên thân trung hữu sợ hãi
những hào quang mãnh liệt của chư Phật đã soi đến, mà
chỉ ưa thích những hào quang yếu ớt trong lục đạo. Vì
thế nên chúng sanh thường bị xoay vần quanh nẻo luân hồi,
chịu nhiều điều khổ nảo.
Loài
người hiện tại khi mạng chung sắp sanh trở lại châu Nam
Thiệm Bộ, trước tiên thấy có tòa núi to như muốn rớt
trên mình, tự đưa tay ra đỡ. Liền khi ấy, lại thấy tòa
núi đó đổi hình lại như giãi nệm trắng, chính mình ngồi
nơi niệm ấy mà bay đi. Trong khi bay lên, lại thấy nệm hóa
ra màu đỏ. Kế đó, lại thấy ánh sáng, trong ánh sáng có
nam nữ hội hiệp. Nếu sẽ sanh làm thân nam, đối với cha
cho là chướng ngại, có lòng ghét; như sẽ sanh làm thân nữ
thì trái lại. Bấy giờ hốt nhiên tướng trung ấm diệt liền
vào thai.
Chúng
hữu tình ở châu Nam Thiệm Bộ sắp sanh về châu Đông Phất
Bà Đề, khi lâm chung thấy tất cả đều là màu xanh, có một
giải niệm xanh rũ xuống, lúc ấy do sợ giải nệm xanh rớt,
tự đưa hai tay lên đỡ lấy, vẻ mặt dường như có sắc
kinh hãi. Kế đó lại thấy một cái hồ, bầy ngựa chạy
giỡn trên bãi cỏ, cha là ngựa đực, mẹ là ngựa cái. Nếu
trung ấm sẽ sanh làm người nam, thì tự thấy mình là ngựa
đực, đối với cha sanh lòng ghét, với mẹ sanh lòng yêu.
Như trung ấm sẽ sanh làm người nữ, thì tự thấy mình là
ngựa cái, đối với cha yêu mến, với mẹ lại ganh ghét.
Lúc ấy liền được thọ sanh.
Chúng
hữu tình ở Châu Nam Thiệm Bộ khi lâm chung sắp sanh về châu
Tây Cù Đà Ni, thì trước tiên thấy một giãi nệm vàng vây
quấn, nhà cửa đều biến thành sắc vàng. Kế đó lại thấy
một cái hồ, bốn bên bờ có trâu ngặm cỏ, thân mình là
trâu, cha là trâu đực, mẹ là trâu cái. Lúc ấy tùy nghiệp
duyên sẽ sanh làm trai hay gái, đối với cha hoặc mẹ sanh
lòng điên đảo yêu ghét. Bấy giờ liền được thọ sanh.
Chúng
hữu tình ở châu Nam Thiệm Bộ khi lâm chung sắp sanh về châu
Bắc Uất Đan Việt, trước tiên thấy một giải nệm đỏ
mịn màng, trong lòng ưa thích đưa tay khuấy động như muốn
tiếp lấy. Kế lại trông thấy một hồ sen xanh, các loài
bạch nga, hồng, nhạn, oan ương lội đùa trên mặt nước,
mình cũng vào đó chơi giỡn. Khi ở dưới hồ bước lên,
vừa lúc cha mẹ dục nhiễm bất tịnh, do nghiệp điên đảo
thấy mình là chim ngỗng, cha là ngỗng trống, mẹ là ngỗng
mái. Bấy giờ tùy nghiệp duyên sẽ sanh làm trai hay gái, đối
với cha mẹ sanh lòng điên đảo ghét yêu. Trong khi đó liền
được thọ sanh.
Chúng
hữu tình ở Đông, Tây, Bắc châu, từ nơi đây sanh nơi kia,
khi lâm chung thấy trong hang tối có lá phướn dài rũ xuống:
ánh sáng như làn điển đỏ. Lúc ấy tự mình nắm phăng theo
ngọn phướn đi vào, mà thọ trung ấm thân. Còn các tướng
sanh về châu nào thì tùy mỗi nơi hoặc thấy hai con ngựa,
hai con trâu, hai chim ngỗng như trước.
Chúng
hữu tình ở châu Nam Thiệm Bộ, khi lâm chung sắp sanh lên
cõi trời, trước tiên thấy một giải nệm trắng tế nhuyễn
rũ xuống như muốn rớt, lại trông thấy các tướng vườn
cây, ao hoa, chư thiên múa hát. Lúc đó dù quyến thuộc có
than khóc kêu gọi, do bởi phước nghiệp, kẻ ấy cũng không
nghe biết, chỉ ngửi thấy mùi thơm, nghe tiếng âm nhạc, trong
lòng vui vẻ không còn nhớ nghĩ chi cả, liền được thiện
chung.
Chúng
hữu tình ở châu Phất Bà Đề, khi lâm chung sắp sanh lên
cõi trời, tự thấy cung đền nghiêm đẹp, xung quanh có thiên
tử, thiên nữ đang vui vẻ nhàn du. Lúc đó trong lòng sanh hoan
hỷ, tự có cảm giác như người mới thức dậy. Bấy giờ
liền được thọ sanh.
Chúng
hữu tình ở châu Cù Đà Ni, khi lâm chung sắp sanh lên cõi
trời, trước tiên thấy nước chảy xao xuyến trong ao đầm
rộng lớn. Lúc ấy thần thức nương theo ngọn nước trôi
qua đến bờ bên kia. Kế đó lại thấy các thiên nữ xinh
đẹp, tự mình chạy đến mà ôm. Khi ấy chính là lúc hóa
sanh.
Chúng
hữu tình ở châu Uất Đan Việt, khi sanh lên cõi trời, có
nhiều tướng trạng. Nếu là người phước đức bậc hạ,
thì lúc lâm chung, mũi ngửi mùi thơm lạ, mắt thấy hoa quí
đẹp, trong lòng ưa thích muốn leo lên cây cao. Đang khi leo
cây chính là lúc trung ấm bay lên núi Tu Di. Khi đến nơi liền
thấy thế giới của chư thiên, cung điện vườn hoa, tất
cả đều trang nghiêm xinh đẹp. Lúc ấy tùy theo nhân nhơn
duyên kẻ đáng làm cha mẹ mà hóa sanh. Như kẻ phước đức
bậc trung, thì khi lâm chung thấy có bầy ong vần vũ xung quanh
một hoa sen trong hồ, tự mình bước lên hoa sen ấy, bay đến
thiên cung. Lúc ấy tùy nơi nhân duyên của kẻ đáng làm cha
mẹ mà hóa sanh. Còn người phước đức bậc thượng, thì
khi lâm chung thấy cung điện tốt đẹp trang nghiêm, thân trung
hữu nương nơi cung điện ấy mà bay lên hóa sanh nơi thiên
giới.
Chư
thiên khi thọ chung sắp sanh lại cõi trời, tự thấy các đồ
trang nghiêm nơi thân không mất, không có vị thiên tử nào
ngồi ở bản tòa của mình. Lúc ấy tự thân bỗng diệt rồi
lại sanh, như ngọn đèn tắt rồi lại cháy. Nếu sanh lên
cõi trời cao hơn, thì có những tướng trạng thù thắng đáng
mến. Như sanh xuống cõi trời thấp hơn, thì thấy vườn cây
ao đều không bằng khi trước, tự có cảm niệm u buồn đói
khát. Lúc đó liền hóa sanh. (Kinh Chánh Pháp Niệm, Tạp Sự
Lục).
Bấy
giờ, Đại Dược Bồ tát hỏi Phật rằng: Bạch Thế Tôn!
Loài hữu tình sau khi mạng chung, tướng trạng thọ thiên thân
như thế nào? Đức Phật bảo: Này Đại Dược! Những chúng
sanh có phước nghiệp khi sắp sinh lên thiên giới, thì có
thiên nhãn, thấy được y báo và chánh báo ở cõi lục dục.
Chúng sanh đó thấy nhiều cung điện tốt đẹp, ao hoa, vườn
cây quí lạ, rừng hoan hỷ.... Nơi ấy có những tòa cao trải
lót bằng thiên y cùng vô lượng sự trang nghiêm khác. Chư
thiên vị nào cũng xinh đẹp, trang sức bằng hoa tai, vòng xuyến,
chuổi anh lạc. Những thiên tử và ngọc nữ dạo chơi khắp
các nơi, đối nhau tươi cười. Lúc thấy các tướng như thế,
chúng sanh ấy tự nhiên sanh lòng vui mừng. Khi người đó mạng
chung, tâm không điên đảo, mũi không xiên vẹo, miệng không
có mùi hôi, tai và mắt giống như sắc hoa sen xanh, thân thể
không chảy máu cũng không ra đồ bất tịnh, tay chân không
co rút. Lại khi lâm chung, kẻ ấy hoặc thấy xe kiệu tốt
đẹp hiện ra trước. Xe đó rộng lớn có đến ngàn cây cột,
trang nghiêm bằng hoa thơm, chuỗi ngọc, lưới châu, linh báu.
Từ nơi bảo linh phát ra các tiếng nhiệm mầu. Mùi hương
bay lan phưởng phất. Vô lượng thiên đồng cũng theo xe đi
đến. Khi thấy các tướng trạng như thế, người ấy thân
tâm vui vẻ, yên ổn mà xả thân. (Kinh Đại Bảo Tích).
Chư
thiên cõi lục dục khi mới sanh, tùy theo thiên giới cao thấp,
thân hình có lớn nhỏ sai biệt, hoặc như đứa bé năm, sáu,
bảy tuổi, hoặc như đứa bé tám, chín, mười tuổi. Sau khi
hóa sanh, thiên đồng cảm thấy đói khát, liền có các vị
tô đà, cam lộ, đựng trong bảo khí hiện ra. Lúc đó tùy
theo phước báo ít nhiều, tự mình thấy thức ăn có những
sắc hoặc trắng, vàng, đỏ khác nhau. Khi ăn uống xong, thân
thể hóa hiện trang nghiêm, cao lớn. Thường thường thiên
nam hóa sanh ở đầu gối bên trái của mẹ. Hoặc có khi chư
thiên nam, nữ đều hóa sanh ở đóa hoa nơi tay của thiên mẫu.
Chư thiên cõi Sắc khi mới sanh, thiên tướng liền viên mãn,
không trải qua sự ăn uống. Tất cả thiên chúng đều tự
biết thánh ngữ, không cần học tập. (Luận Thuận Chánh Lý).
Chư
thiên khi sắp mạng chung có năm tướng tiểu suy: 1. Y phục
và đồ trang nghiêm như vòng xuyến, chuổi anh lạc, kêu vang
ra tiếng không được thanh tao êm dịu. 2. Ánh sáng nơi thân
hốt nhiên mờ yếu. 3. Khi tắm, gội, các giọt nước dính
đọng nơi mình. 4. Tánh tình thường thung dung phóng khoáng,
nay bị trệ lại một cảnh. 5. Mắt luôn luôn máy động, không
được trong lặng như mọi khi. Nhưng năm tướng này hiện
ra cũng có khi nhằm trường hợp khác, không phải nhứt định
là sẽ chết. Kế đó lại có năm tướng đại suy: 1. Y phục
dính bụi. 2. Vòng hoa trên đầu rũ héo. 3. Hai nách chảy mồ
hôi. 4. Thân có mùi hôi bay ra. 5. Không ưa chỗ ngồi của mình.
Lúc năm tướng này hiện ra, quyết định sẽ mạng chung (Luận
Câu Xá. Theo kinh Nhân Quả thì năm tướng đại suy điều một
là hai mắt máy động; điều 4 là ánh sáng nơi thân tắt mất).
Tiết
VI: Nghiệp Duyên Thọ Sanh
Đức
Phật bảo: Này A Nan! Tất cả loài hữu tình chết nơi đây,
sanh nơi kia, sống chết nối nhau không dứt. Mỗi khi lâm chung,
các nghiệp lành dữ trong một đời đều hiện. Chúng snh nào
thuần tưởng thì bay lên hóa sinh nơi cõi trời. Nếu trong
sự thuần tưởng gồm có phước huệ và tịnh nguyện, thì
tự nhiên tâm khai được thấy mười phương chư Phật, tùy
nguyện sanh về cõi Tịnh độ. Chúng sanh nào tình ít tưởng
nhiều thì vào hàng phi tiên, bay đi rất nhẹ nhàng, nhưng không
được xa bằng hạng thuần tưởng. Chúng sanh nào tình, tưởng
bằng nhau, sẽ thác sinh vào cõi người; bởi tưởng là thông
sáng, tình là tối mê, nên không lên không xuống. Chúng sanh
nào tình nhiều tưởng ít, sẽ lạc vào đường bàng sanh,
nhẹ thì làm loài phi cầm, nặng thì làm loài tẩu thú. Chúng
sanh nào bảy phần tình ba phần tưởng, sẽ bị đọa làm
thân ngạ quỉ, thường chịu nóng bức đói khát trải qua
trăm ngàn kiếp. Chúng sanh nào chín phần tình, một phần tưởng,
sẽ bị đọa vào Nại lạc ca nhẹ thì sanh nơi ngục hữu
gián, nặng thì sanh nơi ngục vô gián. Chúng sanh nào thuần
tình sẽ bị đọa ngục đại A Tỳ. Nếu trong tâm ấy còn
kiêm các tội như: Hủy cấm giới của Phật, khinh báng kinh
Đại thừa, thuyết pháp sai lầm, tham của tín thí, lạm thọ
sự cung kính và phạm ngũ nghịch thập ác, thì sẽ bị quả
luân chuyển sanh về ngục vô gián ở mười phương. (Kinh Thủ
Lăng Nghiêm)
Bởi
ba cõi định ngôi, sáu đường chia loại, nên hình hài xấu
đẹp, quả có khổ vui! Tìm ra điểm sanh khởi chẳng rời
sắc tâm; xả đến chổ hội quy không ngoài sanh diệt. Mà
sanh diệt luân hồi chính thật vô thường, sắc tâm hư huyễn
nguyên là cội khổ! Thế nên, kinh Pháp Hoa dụ cho nhà lửa,
kinh Niết Bàn ví với sông to: Bậc thánh nhơn thuyết giáo
để đưa sanh loại vượt ra ba cõi, về nẽo chân tâm là do
lẽ trên vậy. Đến như thiên báo, tuy lầu quỳnh áo gấm,
người đẹp cảnh xinh, nhưng trên trời Tha Hóa còn có thiên
ma, trong cõi Vô Vân vẫn nhiều ngoại đạo. Huống nữa bậc
Phi tưởng định còn đạo phi ly, trời Đâu Xuất Đà hãy
mê ngũ dục; nên biết phước báo dễ sanh kiêu mạn, cảnh
vui khó học Niết bàn! Đến khi thắng nghiệp hết rồi, thì
tóc tiên hoa héo, áo ngọc bụi vương, điện vàng tắt ánh
quang minh, thân nhớp còn chi vẻ đẹp? Khắp khuyên rửa lòng
sám hối, niệm Phật làm lành, xa thì vui quả chân thường,
gần được về nơi Tịnh độ (Pháp giới tập thuật ngữ).