Thiên
Thứ Ba
Chương
8
Luân
Hồi Và Nhân Qủa
Tiết
Mục:
V.
Thuyết luân hồi qua phương diện sự, lý.
VI.
Vài chứng nghiệm về thuyết luân hồi.
VII.
Ý nghĩa và các yếu điểm về nhân quả.
VIII.
Những tương quan giữa nhân và quả.
Kinh
sách trích dẫn: - Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Phạm Võng, Trì Bắc
Ngẫu Ðàm, Tư Quy Tập, Phật Học Phổ Thông, Kinh Kim Cang Bát
Nhã, Kinh Luân Chuyển Ngũ Ðạo, Kinh Ðịa Tạng Bản Nguyện.
Ðề
yếu: - Con người từ đâu sanh ra? Chết rồi đi về đâu?
Tại sao giữa đời lại có những kẻ giàu, nghèo, sanh, hèn,
đẹp, xấu, trí, ngu sai biệt? Tại sao có người hiền lành
mà thường gặp việc khổ sở không may, kẻ hung ác lại được
an vui phát đạt? Ðây là mối nghi nan thắc mắc chung của
đa số người. Và theo Phật giáo, tất cả sự việc nầy
bao gồm trong vấn đề "Luân hồi nhân quả".
Luân
hồi và nhân quả là hai sự kiện tương quan. Bởi chúng sanh
còn nghiệp trái của nhân quả thiện ác nên mới bị luân
hồi. Và sự luân hồi khổ vui trong sáu nẻo, đều do ảnh
hưởng tốt xấu của nhân quả thiện ác. Về nhân quả, có
thể gồm chung trong ba nghiệp: Phước, Phi phước, Bất động;
mà nơi phát sanh lại từ thân, ngữ, ý. Nhân nào quả ấy,
trạng thái vô cùng! Còn luân hồi là sự xoay vần quanh sáu
nẽo, tóm tắt không ngoài hai lối khổ, vui.
Từ
xưa đến nay, cảnh đời trải biết bao cuộc bể dâu diễn
biến, và người đời mãi tranh đua ganh ghét tàn hại nhau
vì mối danh, lợi, sắc, tài. Chúng sanh có bao nỗi khổ là
bởi gây nhiều tác nghiệp, mà sở duyên của nghiệp, lại
từ nơi vọng tâm mê hoặc chấp lấy cái ta. Nếu biết trở
lại nguồn chân, chặt dứt cội gốc vô minh ngã chấp, thì
cành lá của nghiệp và bông trái của khổ phải điêu tàn.
Muốn đi đến cảnh chân lạc bên miền bỉ ngạn nầy, trong
những đêm thanh vắng, ta nên lặng tâm xét nghĩ, mà thao thức
chuyển hướng lòng mình qua mối suy tư:
Trời
đêm in bóng mái chùa xưa
Lòng
tĩnh cuộc đời đầy khổ nhọc!
Trăng
sáng đầu non thoảng tiếng chuông
Canh
khuya cầm quyển Lăng Nghiêm đọc.
Tiết
I - Thuyết Luân Hồi Qua Phương Diện Sự, Lý
Các
học giả Âu Tây trong khi nghiên cứu về tôn giáo Ðông phương,
đều cho rằng vấn đề "Luân hồi nhân quả", có thể gọi
là giáo lý cốt yếu của nhà Phật. Riêng về thuyết luân
hồi, nếu nhìn khái quát, có hai phương diện: sự và lý.
Về
phần lý, danh từ "luân hồi" dịch ở chữ Samsera của Phạm
ngữ. "Luân" là bánh xe, "hồi" có nghĩa xoay tròn. Hình ảnh
bánh xe quay tròn là một tượng trưng rất rõ ràng, mà đức
Phật đã dùng để ví cho sự lên xuống xoay vần của chúng
sanh trong lục đạo. Tất cả loài hữu tình đều theo luật
sanh, trụ, dị, diệt, khi ở cõi nầy, lúc đến nẻo khác,
sự sống chết mãi tiếp nối không biết khi nào cùng tận,
dường như bánh xe lăn. Và luân hồi là một thuyết có chứng
nghiệm, không phải hoang đường.
Sở
dĩ Phật giáo nói ra thuyết luân hồi, là để phá lối chấp
đoạn và thường của thế gian cùng ngoại đạo. Về lối
chấp đoạn, có kẻ cho rằng loài người cũng như loài vật,
khi chết rồi thì cả linh hồn và thể xác đều tiêu hoại,
không có đời sau. Thuyết này không đúng, vì xưa nay trong
thế giới, Ðông cũng như Tây phương, rất nhiều sự thật
chứng minh con người có chuyển kiếp ở đời sau. Vả lại,
nếu cho rằng không có việc tội phước liên quan đến đời
sau, thì xã hội không yên, thế giới nầy đại loạn, con
người tha hồ tạo đủ những việc ác, không ai tu thiện
làm gì, bởi chết rồi là mất. Cho nên lối chấp đoạn đã
sai lầm, lại còn rất nguy hiểm.
Ðến
như lối chấp thường, có nhiều kẻ quan niệm tất cả chúng
sanh khi chết rồi, linh hồn vẫn mãi tồn tại, kiếp sau loài
người vĩnh viễn làm người, loài vật vĩnh viễn làm vật.
Hoặc có kẻ bảo: nếu biết đặt hết lòng tin tưởng, vâng
lời một đấng thiêng liêng, thì sẽ được sanh lên cõi thiên
đường, vĩnh viễn hưởng mọi sự khoái lạc. Bằng trái
lại, tất bị đọa xuống địa ngục, chịu cực hình khổ
sở đời đời. Hai lối chấp thường sau nầy đã không đúng
lại nguy hiểm. Vì nếu con người vẫn mãi được làm người
không bị sa đọa, thì không ai cần phải tu thiện, nhơn loại
sẽ dùng tất cả thủ đoạn xảo trá, làm đủ các điều
ác, để hưởng mọi thú vui. Còn nếu bảo: biết tin tưởng
vâng lời đấng thiêng liêng, sẽ được hưởng phước thiên
đường mãi mãi, trái lại phải vĩnh viễn bị khổ ở địa
ngục, lại cũng sai lầm. Theo sự nhận xét thông thường,
mọi người đều nghiệm thấy trong đời không vật gì có
thể vĩnh viễn ở yên một chỗ, mà trái lại luôn luôn biến
đổi và xê dịch. Còn gì bất công và vô lý hơn, là chỉ
gieo nhân trong một thời gian ngắn ngủi, mà phải chịu kết
quả vui khổ vĩnh viễn ở tương lai.
Theo
Phật giáo, chúng sanh tùy nơi nghiệp thiện ác mà luân hồi
trong sáu nẻo. Loài hữu tình sở dĩ bị sống chết xoay vần,
là bởi còn có tâm chấp ngã. Nếu dứt trừ ngã chấp, hành
giả sẽ trở về tánh bản chân thanh tịnh, mà thoát khỏi
luân hồi. Vĩnh Gia đại sư đã bảo: "Quả báo vui khổ đều
do tâm tạo ra. Tâm nóng giận, tà dâm, độc ác là nghiệp
Ðịa ngục. Tâm tham lam, bỏn sẻn là nghiệp Ngạ quỉ. Tâm
ngu si, hôn ám là nghiệp Bành sanh. Tâm ngã mạn, cống cao là
nghiệp Tu la. Giữ tròn năm giới là nghiệp Người. Tinh tu
mười điều lành là nghiệp Trời. Chứng ngộ nhơn không là
nghiệp Thanh Văn. Rõ pháp nhân duyên là nghiệp Duyên Giác.
Tu hành sáu độ là nghiệp Bồ Tát. Lòng chân từ bình đẳng
là nghiệp Phật. Nếu tâm trong sạch thì hóa sanh về Tịnh
độ, ở nơi bảo cát, hương đài. Tâm dơ nhiễm thì gởi
chất nơi uế bang, ở cõi núi gò hầm hố. Muôn cảnh đều
do tâm tạo, lìa nguồn tâm ra không có hình thể chi. Vậy muốn
hưởng quả lành, phải tu nhân tịnh!"
Những
lời của Vĩnh Gia đại sư trên đây, tuy vắn tắt, nhưng đã
thuyết minh lý luân hồi trong sáu nẻo, và đề cập rõ ràng
nhân quả của mười pháp giới. Cho nên khi chúng ta đã rõ
biết luật nhân quả, thì cũng chẳng thể từ chối không
công nhận thuyết luân hồi. Bởi luân hồi chẳng qua là nhân
quả liên tục nhưng vì chúng sanh tùy theo nghiệp duyên, khi
còn lúc mất, khi biến hiện lên xuống, lúc thay dạng đổi
hình, nên nhiều người lầm tưởng cho là gián đoạn. Kỳ
thật trong ấy có những ảnh hưởng chi phối lẫn nhau từ
kiếp nầy sang kiếp khác, duy những bậc đã chứng nhơn không
mới thoát khỏi vòng chi phối đó mà thôi.
Lý
luân hồi đã thế, về phần sự luân hồi, có thể tóm tắt
trong lục đại là: đất, nước, gió, lửa, hư không và thức
tánh.
Về
sự luân hồi của địa đại: như một cái ly trước kia là
đất, qua một thời gian nó sẽ bể nát thành ra cát bụi.
Cát bụi nầy làm phân bón để thành thức ăn và sắc chất
của cây cỏ. Cây cỏ lại làm thực phẩm và thành máu thịt
loài động vật. Thân thể của các động vật khi chết rồi
lại trở thành đất bụi.
Về
sự luân hồi của thủy đại: như nước về sông biển bị
sức nóng của ánh mặt trời bốc lên thành hơi. Hơi bay lên
hư không tụ lại thành mây. Mây gặp gió lạnh, kết đọng
rơi xuống thành mưa. Nước mưa chảy xuống ao hồ, gặp khí
lạnh quá biến thành băng giá. Băng giá gặp hơi nóng mặt
trời tan trở lại thành nước.
Về
sự luân hồi của phong đại: như gió là sự vận chuyển
của không khí. Không khí bị sức nóng của mặt trời, giản
ra bốc lên cao làm thành những khoảng trống. Ðể bù vào
những khoảng trống ấy, không khí ở các nơi khác chạy tới
điền vào, gây thành luồng gió. Không khí xê dịch chậm thì
thành gió nhỏ, xê dịch mau thành gió to, xê dịch nhanh nữa
lại thành ra bão.
Về
sự luân hồi của hỏa đại: như lửa là sức nóng làm cháy
được vật, khi đủ nhân duyên nó sẽ phát ra. Chẳng hạn
như hai thanh gỗ khô, khi cọ xát nhau một hồi thì phát ra
lửa. Lửa nầy có thể đốt củi, củi bị đốt một phần
hóa ra tro than, một phần biến thành thán khí. Các thứ cây
khác dùng rễ mình để rút lấy phân tro, dùng lá mình thu
hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để ngày kia gặp
đủ nhân duyên lại bừng cháy lên.
Về
sự luân hồi của không đại: như nơi một khoảng hư không,
nếu cất nhà lên thì khoảng trống ấy phải mất; khi nhà
đó tiêu hoại lại hoàn phục thành hư không. Lại như giữa
một vùng đất đặc chẳng có hư không, nếu đào nơi đó
thành những đường hầm rộng, tức thêm một phần hư không,
và nếu lấp đường hầm đi thì hư không chỗ ấy phải mất.
Và như thế giới nầy đến kiếp hoại của thủy tai, từ
cõi Tam thiền trở xuống đều thành hư không, sang lúc kiếp
thành thì khoảng hư không ấy bị lấn mất một phần lớn
bởi non sông vạn hữu.
Ðến
sự luân hồi của thức đại, thì thức tánh của chúng sanh
vẫn không phải cố định. Nếu loài hữu tình gặp nhân duyên
tốt, có thể đổi thành tánh hiền lành, gặp nhân duyên xấu
có thể trở thành tánh hung dữ. Cho đến người học môn
nầy có cái biết của môn nầy, học môn khác có cái biết
của môn khác.
Ðại
khái, trong lục đại, có sự luân hồi của cảnh giới, tức
là khí thế gian; và sự luân hồi của chúng sanh, tức là
hữu tình thế gian. Sự luân hồi về khí thế gian duy thuộc
năm đại trước, sự luân hồi về hữu tình thế gian gồm
cả sáu đại. Sáu đại nầy lan tràn khắp vũ trụ, nên kinh
Lăng Nghiêm nói: "Tánh thủy là chân không, tánh không là chân
thủy, đương xứ mà xuất sanh, tùy xứ mà hoại diệt, tánh
nó vẫn bản nhiên trong sạch và đầy khắp cả pháp giới".
Thủy đại đã như thế, thì các đại kia cũng vậy. Kinh Phạm
Võng cũng bảo: "Tất cả đất, nước, gió, lửa đều là
thân trước và cũng là bản thể của ta". Hai đoạn kinh trên,
có thể tiêu biểu cho sự luân hồi của hữu tình và khí
thế gian.
Tuy
nhiên, bản hoài ra đời của Như Lai, là đưa chúng sanh thoát
khỏi nỗi khổ sanh tử, chứng lên cực quả Niết bàn. Cho
nên trọng tâm thuyết luân hồi của Phật giáo, điểm chính
là chỉ cho sự sống chết xoay vần của chúng sanh. Muốn thoát
nỗi khổ luân hồi nầy, người tu Phật phải đi trên con
đường vô ngã. Còn sự luân hồi của cảnh giới, tức khí
thế gian, chẳng qua là một điểm bàn thêm, để chúng ta hiểu
rộng về thuyết nầy đấy thôi.
Tiết
II - Vài Chứng Nghiệm Về Thuyết Luân Hồi
Trong
kinh Phật có đoạn tranh biện về vấn đề "Có đời sau hay
không?" giữa Tê Túc Bà la môn và Ca Diếp đồng nữ. Cuộc
tranh luận rất dài và kết cuộc Bà la môn đuối lý, phải
công nhận là có đời sau. Nhưng đó chỉ là lý thuyết, mà
lý thuyết thì không bằng chứng nghiệm. Khi có những việc
chứng thật về luân hồi, tất trong ấy đã bao hàm những
lý thuyết hùng hồn và vững vàng nhất.
Việc
luân hồi xưa nay, ở Ðông cũng như Tây phương rất nhiều,
hoặc do sự truyền khẩu, hoặc ghi chép trong truyện báo chí.
Như cách đây vài mươi năm, tờ báo Mai có chụp ảnh và đăng
một câu chuyện như sau:
1.
Chuyện luân hồi ở Ấn Ðộ:
Tại
Ấn Ðộ, ở thành Delhi có một cô gái tám tuổi tên Phatidevin.
Cô đã nhiều lần khóc lóc với cha mẹ đòi về thành Mita
thăm chồng là một giáo viên. Thành Delhi cách Mita trên 200
cây số. Cha mẹ cô gái lấy làm lạ, mời một phóng viên
nhà báo đến để nhờ anh điều tra giùm. Khi anh ký giả đến
hỏi, thì được cô cho hay kiếp trước mình là vợ một giáo
viên, ở với chồng có sanh một đứa con. Lúc đứa con lên
11 tuổi, thì cô lâm bịnh và từ trần. Người phóng viên
hỏi xem cô ta có cái gì để làm bằng chứng không. Cô trả
lời rằng khi chết mình có để lại vàng bạc và đồ đạc
chôn ở một nơi trong nhà. Và cô còn nhớ rõ mình có cái
quạt do người chị em bạn tặng, trên quạt có ghi mấy dòng
chữ, rồi cô đọc mấy dòng chữ ấy cho vị phóng viên ghi
chép vào sổ tay.
Anh
phóng viên liền đến thành Mita, tìm hỏi tên họ vị giáo
viên, thì quả có thật không sai. Anh hỏi ông giáo:
-
Ông có người vợ chết cách đây độ 8, 9 năm có phải không?
-
Thưa vâng. Từ khi vợ tôi chết đến nay đã chín năm. Chẳng
hay ông hỏi có việc chi?
Anh
ký giả trình bày những lời cô bé đã nói. Ông giáo nghe
đều cho là đúng cả. Anh lại lấy quyển sổ tay, đưa mấy
dòng chữ cho ông giáo đọc và hỏi:
-
Khi vợ ông mất, có để lại một cây quạt, trên ấy có
ghi mấy dòng chữ như thế nầy phải không?
-
Thưa, đúng y như vậy cả.
Qua
ngày sau, phóng viên lại mời cô Phatidevin và cha mẹ cô cùng
đi xe đến thành Mita. Từ khi sanh ra đến tám tuổi, cô chưa
từng đi xa, thế mà đường đi đến thành Mita, cô đều thuộc
cả. Cô chỉ đường nầy là đường gì, đi về đâu, đường
kia tên đường gì đi về đâu; và còn nói trúng cả tên những
nhà quen ở hai bên đường nữa. Gần đến nhà ông giáo, cô
bảo xe đi chậm lại và dừng ngay trước nhà ấy. Vào nhà,
gặp ông lão độ 80 tuổi đầu tóc bạc phơ, cô vừa mừng
vừa khóc mà nói rằng:
-
Ðây là cha chồng tôi.
Lại
chỉ ông giáo mà bảo:
-
Kia là chồng tôi.
Rồi
cô chạy lại ôm đứa con vừa khóc và nói:
-
Ðây là con tôi.
Mọi
người trông thấy, ai cũng đều ngạc nhiên và cảm động.
Việc
nầy đã làm sôi nổi dư luận Ấn Ðộ. Các báo chí thế
giới cũng đều bàn tán xôn xao. Và những nhà bác học ra
sức tìm tòi nghiên cứu, nhưng không sao giải thích được.
Nhưng đối với những nhà đạo học Ðông phương đã rõ
lý luân hồi, thì việc nầy cũng tầm thường không có chi
lạ.
2.
Chuyện luân hồi ở Trung Hoa:
Nước
Trung Hoa, đời vua Thuận Trị nhà Thanh, có một học giả danh
tiếng ở huyện Tế Ninh, là Thiệu Sĩ Mai. Ông đậu Tiến
sĩ khoa Kỷ Hợi, tự nhớ kiếp trước mình vốn người ở
huyện Thế Hà, tên là Cao Ðông Hải. Bà vợ của Thiệu Sĩ
Mai chết lúc tuổi hãy còn trẻ, khi lâm chung trối dặn chồng
rằng: "Tôi có nhân duyên làm vợ anh ba đời. Kiếp nầy là
một. Ðời sau tôi sẽ sanh vào nhà họ Ðông ở huyện Ðào.
Ngày kia anh bãi chức, về trụ nơi chùa Tiêu xem kinh Phật,
xin tìm tôi ở ngôi nhà thứ ba tại khúc quanh sông Tân thuộc
vùng ấy".
Hơn
mười năm sau, Sĩ Mai đổi về làm Giáo thọ ở phủ Ðăng
Châu, gần huyện Thê Hà. Một hôm nhân rảnh rỗi, ông đến
viếng ở chỗ ở kiếp trước, thì nhà của Cao Ðông Hải
đã không còn. Hỏi thăm tìm được đứa cháu nội của Ðông
Hải, ông giúp tiền cho gầy dựng ruộng nhà. Kế đó ông
thuyên chuyển làm Tri huyện ở Ngô Giang, rồi cáo bịnh về
nghỉ. Nhân lúc vô sự, Sĩ Mai đến thăm người bạn đồng
niên ở huyện Ðào, và ngụ tại chùa Tiêu. Chùa nầy có bộ
đại tạng kinh, trong khi vắng vẻ ông thường mượn để
duyệt lãm. Một hôm, bỗng nhớ lại lời người vợ trước
đã dặn bảo, ông ra Tân Giang đi dọc theo mé đến một khúc
quanh tìm hỏi, quả thật có họ Ðông ở ngôi nhà thứ ba
ven sông. Ông vào thăm thì nhà nầy có đứa con gái chưa gả,
nhân thuật lại duyên cớ trước, xin cầu hôn, liền được
gia chủ ưng thuận.
Cưới
vợ được mấy năm, cô gái họ Ðông lại qua đời. Khi lâm
chung, lại dặn chồng rằng: "Lần giã biệt đây, tôi sẽ
tái sanh nơi nhà họ Vương ở Tương Dương. Ngôi nhà nầy
cũng ở ven sông, trước cửa có hai cây liễu, sau anh đến
tìm tôi tại nơi đó. Cuộc tái hợp lần cuối cùng nầy,
tôi sẽ sanh cho anh hai đứa con". Thiệu Sĩ Mai nhất nhất đều
xin ghi nhớ. Về sau sự việc diễn tiến quả đúng y như lời
người vợ đã nói.
Năm
Kỷ Mùi đời vua Khang Hy, Thiệu Sĩ Mai ở tại kinh sư, đã
đem việc nầy thuật lại rõ ràng với những bạn đồng niên
như Vương Ngư Dương, Phan Trần Phục...
Việc
của Thiệu Sĩ Mai trên đây, thật đã đúng với hai câu thi:
"Lưỡng thế đốn khai sanh tử lộ. Nhứt thân tằng tác cổ
kim nhơn". (Một thân từng diễn người kim cổ. Ðôi kiếp
mở liền lối tử sanh). Cuộc thế bể dâu, thân người huyễn
mộng, xem việc nầy, những ai có mối thâm tư, chi khỏi sanh
niềm cảm khái.
3.
Chuyện luân hồi ở Việt Nam:
Cách
đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu
tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng
Phật kính Tăng, nên các sư thường đến ghé thăm, có khi
được mời nghỉ đêm tại nhà. Thời đó, ảnh hưởng chánh
pháp chưa được lan rộng, tuy cô đã thọ quy giới nhưng chưa
hiểu rõ về đạo, nên trong nhà cũng có nuôi heo để thêm
rộng rãi cho cuộc sống. Khi nọ, có một vị Hòa thượng
đến nghỉ đêm tại nhà cô, nửa đêm chợt thức giấc nghe
tiếng động dưới bộ ván mình nằm, và có giọng nói nho
nhỏ rằng: "Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị
Hòa (vì liên hệ gia đình xin giấu tên) bởi có thiếu bà
chủ nhà nầy một số tiền, nên phải đầu thai ra thân xúc
vật để trả nợ". Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ
lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói
chuyện với mười hai heo con đang bú.
Sáng
ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:
-
Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền
như thế, có phải không?
-
Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã
qua đời, nên con kể như bỏ luôn. Ủa! Mà chuyện nầy chỉ
riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay,
tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy?
Hòa
thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh,
vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con, thì thêm một việc
lạ, số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa
đã thiếu mình khi trước.
Trải
qua sự nầy, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả
hiển nhiên là có thật. Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và
cải gia vi tự, thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ.
Tại chùa nầy, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức
đã bảo: "Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi
cổ đáo kim!" (Súc sanh kia trước là người. Xưa nay người,
súc luân hồi đổi thay!) Việc trên đây là một chứng minh
cho lời nầy vậy. (Thuật theo lời Thượng tọa Thanh Từ,
khi Thượng tọa đến diễn giảng và thăm chùa Phước Trường
ở Thủ Ðức).
Tiết
III - Ý Nghĩa Và Các Tiêu Ðiểm Về Nhân Qủa
Nhân
Quả là gì? Nhân là nguyên nhân, Quả là kết quả, nguyên
nhân gây thế nào, kết quả ra thế ấy. Người xưa đã bảo:
"Muốn làm việc gì, trước phải bình tĩnh nghĩ đến kết
quả về sau của nó". Nếu mỗi Phật tử biết lấy câu nầy
làm điều tâm niệm, tất sẽ tránh được nhiều lỗi lầm
thất bại trên đường đạo cũng như đường đời.
Nói
theo lối khác, Nhân là hại giống, Quả luận với tánh cách
rộng hơn, là hoa trái. Gieo trồng hạt giống thuộc hoa trái
nào, tất sẽ được hoa trái ấy. Một vị thiền sư cũng
khuyên dạy: "Xem hết kinh Di Ðà. Tụng xong chú Ðại Bi. Trồng
dưa thì được dưa. Trồng đậu lại được đậu. Kinh chú
vẫn quý lành. Kết oán làm sao cứu? Soi lại lòng bản lai.
Người tạo người phải chịu. Mình làm mình thọ quả".
Mấy
lời trên đây không phải phủ nhận oai lực của kinh chú.
Nhưng chủ ý của thiền sư là để nhắc nhở cho những người:
một phương diện thì ăn chay tụng kinh trì chú, phương diện
khác lại sát sanh gian xảo lường gạt; hay chỉ biết làm
lành, cúng dường, bố thí bên ngoài, nhưng không biết dứt
trừ tâm niệm tham lam, ích kỷ, tật đố, si mê, độc ác
bên trong. Một đàng tu thiện, một đàng tạo ác như thế,
nghiệp thì dễ tạo, phước lại khó tu, lấy công trừ tội
sợ e không rồi, làm sao tiêu giải oan kết cho được? Những
kẻ gây hạnh nghiệp như thế, rồi trở lại trách Phật,
Bồ Tát sao không cứu, trách kinh chú sao không linh nghiệm,
chẳng hóa ra là sai lầm lắm ư?
Nhân
tiện lại xin bàn thêm một việc, trong giới Phật tử có
hai hạng người: Một hạng thuần tín ngưỡng, chỉ cực đoan
nương tựa nơi tha lực, tức là cầu sự giúp đỡ của chư
Phật, Bồ Tát, không kiểm điểm sửa đổi tâm hạnh của
mình. Một hạng duy y cứ nơi tự lực, cho rằng mình làm lành
sẽ được kết quả lành, không cần sức giúp đỡ của chư
Phật, Bồ Tát, nghĩa là không ỷ lại nơi tha lực. Cả hai
quan niệm đó đều sai lầm. Về hạng trước, tuy chư Phật,
Bồ Tát có bi tâm, bản nguyện cứu độ chúng sanh; nhưng ít
nữa hành giả phải tự lực cố gắng một phần nào, sự
giúp đỡ ấy mới có công hiệu, nếu chẳng thế thì các
hiền thánh cũng đành không phương cứu trợ. Ví như một
sinh viên thường siêng năng cố gắng chăm học, thầy bạn
mới có thể chỉ bảo giúp đỡ thêm được; nếu mãi biếng
nhác lêu lõng, thì cha mẹ sư hữu cũng vô kế khả thi. Cho
nên Tịnh độ tông và Mật tông tuy thuộc về tha lược pháp
môn, nhưng muốn đạt được kết quả, hành giả cần phải
cố gắng nhiều trên phương diện tự lực. Về hạng sau,
tuy tự lực của mình là cần thiết, nhưng cũng cần có tha
lực hộ trì mới mau đạt được kết quả. Ví như một học
sinh tuy siêng năng chăm chỉ, nhưng nếu được thầy hay bạn
tốt thường giúp đỡ, thì sự học sẽ tăng tiến biết bao
nhiêu! Vì thế, nên Thiền tông tuy chú trọng về tự lực,
nhưng vì sợ hành giả khó giữ tâm trước cảnh ngũ ấm ma,
cho đến bậc phá trừ Tưởng ấm chứng quả A Na Hàm, trong
một giây phút sơ hở còn có thể bị thiên ma làm cho sa đọa,
nên đức Phật ân cần khuyên phải trì chú Lăng Nghiêm để
nhờ sự hộ trì của tha lực. Lại vì e bậc A la hán ở yên
nơi cảnh hóa thành mà quên đến miền bảo sở, chỉ lo tự
độ mà chán việc lợi tha, đức Thế Tôn mới khuyến tấn,
quở là giống khô mộng héo. Cho đến bậc Bồ Tát khi chứng
lên ngôi Bất động địa, thấy thế giới mười phương như
huyễn, lặng lẽ tợ không hoa, thường sanh quan niệm an trụ
nơi tịch tĩnh. Ðức Như Lai e hành giả đại thừa say chìm
trong cảnh đó, nên hiện thân khuyến tấn nhắc cho nhớ lại
bản nguyện độ sanh, để đương nhơn tiến lên cực quả.
Vậy Thiền tông đâu phải không cần đến tha lực? Cho nên
gọi đạo Phật là tôn giáo hay phi tôn giáo, thần quyền hay
phi thần quyền, đều không đúng. Phật giáo là Phật giáo,
là toàn thể pháp giới, gồm đủ mọi mặt. Quảng Nghiêm
đại sư, một vị thiền đức Việt Nam, khi thị tịch có
câu: "Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành
xứ hành". (Tung trời là chí tài trai đó. Hà tất theo đuôi
Phật mới lành!) Hai câu nầy chẳng qua là để nung thêm ý
chí tự cường của người tu mà thôi. Hành giả đừng nên
hiểu lầm, vội bác sự hướng dẫn của chư Phật, Tổ, rồi
sanh tâm tự cao mà đắc tội, nhứt là đối với bậc trung,
hạ căn.
Sở
dĩ có đoạn trên đây, là bút giả muốn khuyên nhắc sự
sai lầm của những hành nhơn duy biết ỷ lại vào tha lực
mà quên việc nhân quả tiến tu của mình. Và một hạng người
cầu cao, chỉ y cứ nơi nhân quả của tự lực mà khinh thường
sự kiện hữu ích rất cần thiết của tha lực.
Trở
lại phần chính của bài nầy, về phương diện nghiệp nhân,
trong kiếp sống, loài hữu tình khi gây Nhân có ba điều khái
yếu: Phước nghiệp, Phi phước nghiệp và Bất động nghiệp.
Phước nghiệp là những nhân lành như kính thờ Tam Bảo, bố
thí, phóng sanh... Phi phước nghiệp là những nhân ác, như
khinh báng Tam Bảo, bất hiếu với song thân, cùng những điều
giết, trộm, dâm, vọng... Bất động nghiệp là những nhân
thiền định, như thế gian thiền, ngoại đạo thiền, xuất
thế gian thiền...
Ba
nghiệp nhân trên phát sanh từ thân, ngữ, ý. Nhân lành của
thân là giữ những giới không sát sanh, không trộm cướp,
không tà dâm, đoan chính trong các oai nghi đi, đứng, nằm,
ngồi, mắt không đắm sắc, tai không nhiễm thanh... Nhân lành
của ngữ là không nói dối, không nói thêu dệt, không nói
đôi chiều, không nói thô ác, không nói vô ích, không nói
lời hí hước, không khen mình chê người, thường dẫn chuyện
nhân quả với tánh cách nêu gương để khuyên nhắc kẻ khác.
Nhân lành của ý là không tham lam bỏn sẻn tật đố, không
giận dữ hờn oán sâu độc, không si mê tà kiến. Nếu thân,
ngữ, ý không làm những việc như trên, lại tạo thêm các
điều thiện, gọi là ba nghiệp lành. Trái lại, là ba nghiệp
ác. Tóm tắt, về phần "Nhân", nơi phát sanh không ngoài thân,
ngữ, ý, và chỗ tạo tác không ngoài Phước, Phi phước cùng
Bất động nghiệp.
Theo
lời Phật dạy, trong ba nghiệp, khẩu nghiệp dễ tạo hơn
cả. Người xưa đã bảo "Ða ngôn đa quá", nghĩa là "nhiều
lời tất nhiều lỗi". Vì thế người tu nên ít nói, và khi
thốt ra lời gì phải dè dặt suy nghĩ kỹ. Bởi khi nói nhiều,
ta không thể kiểm soát hết lời nói của mình, như thế làm
sao cho khỏi điều lầm lỗi; đôi khi gây sự phiền muộn
cho kẻ khác mà ta không hay. Thuở xưa, ngài Mục Kiền Liên
ngồi thiền định trong rừng, thấy một vị thần, thân thể
đoan nghiêm phát ánh quang minh, nhưng nơi miệng lại tuôn ra
máu mủ vòi tửa, bay mùi hôi khó chịu. Sáng ra, ngài đem việc
ấy bạch Phật. Ðức Thế Tôn bảo: "Vị thần đó, tiền
thân là một Tỷ khưu, bởi giữ thân nghiệp thanh tịnh, nên
sắc tướng đoan nghiêm có ánh quang minh; nhưng vì không khéo
gìn khẩu nghiệp, thường buông lời thô lỗ, khen mình chê
mắng người, nên nơi miệng mới có những ác tướng như
thế".
Nếu
trong ba nghiệp, khẩu nghiệp đã dễ tạo, thì ý nghiệp lại
có năng dụng mạnh hơn cả. Phàm phu chỉ có thể kiểm soát
tâm niệm thô của mình, song không thể kiểm soát tâm niệm
tế. Ngài Di Lặc Bồ Tát khi nhập định, dùng trí huệ cực
thanh tịnh sáng suốt, thấy mỗi chúng sanh trong một sát na
có đến ba mươi sáu muôn ức niệm vi tế, mỗi niệm biến
mỗi hình, niệm lành biến tướng lành, niệm dữ biến tướng
dữ. Ðiều nầy nhắc cho ta nhớ, người tu không những giữ
gìn nhân quả nơi thân, khẩu, mà còn phải dè dặt nhân quả
trong mỗi tâm niệm. Nếu thờ ơ để cho tâm xấu thường
nổi lên, khi dồn chứa lâu ngày, nó có đủ năng lực sai
sử ta làm việc quấy, và chịu thân ác thú trong tương lai.
Một
Phật tử Trung Hoa, ông Trần Hải Lượng, có người bạn tên
Hoàng Ðồng Sanh. Ðôi mắt cư sĩ họ Hoàng rất lạ, có thể
thấy được ma quỉ và điện quang của mỗi người. Theo lời
ông, những vị tu hành chân chánh, tâm trong sạch, thì xung
quanh mình có vòng ánh sáng sắc trắng mát mẻ dịu dàng. Người
giàu, có ánh sáng sắc đỏ. Bậc sang quý, có ánh sáng màu
tím. Kẻ buồn rầu thất chí, hoặc đau yếu, có ánh sáng
màu xám như khói. Hạng người tầm thường, phần nhiều có
ánh sáng màu lục. Ai có điện quang màu đen thì một là người
sắp chết, hai đó là kẻ rất độc ác. Và tùy theo tâm niệm
tốt xấu, điện quang của mỗi người thay đổi không lường.
Ðại khái, người tâm lành ít thì vòng ánh sáng lành nhỏ
hẹp; bậc tâm lành hay thanh tịnh nhiều, thì vòng ánh sáng
lành rộng lớn. Quang lượng rộng hẹp của kẻ ác cũng như
thế. Cho nên khi ta khởi một niệm ác, tuy người ngoài không
biết, song mình biết, quỉ thần biết; còn những bậc thánh
đắc đạo thì thấy rõ ràng như nhìn các làn chỉ trong bàn
tay, hay nhìn bóng hiện trong gương sáng. Mình biết, thì lương
tri tự khiển trách làm cho hổ thẹn hối hận không yên. Quỉ
thần biết, thì phẩn nộ quở phạt. Chư Phật, Bồ Tát khi
biết dù xót thương không làm tổn hại, song kẻ gây nhân
tất phải chịu quả, chẳng thế nào tránh khỏi. Từ hành
vi đến tâm niệm của ta, sự phản ứng của luật nhân quả
mỗi mỗi đều rất công minh. Cho nên tiên hiền đã bảo:
"Quả báo của việc lành dữ như bóng theo hình. Khi khởi một
niệm lành, tuy phước chưa đến mà thiện thần đã đến.
Lúc sanh một niệm dữ, tuy họa chưa tới mà ác quỷ đã theo".
Mấy lời nầy rất phù hợp với lý nhân quả của đạo Phật.
Như
trên đã nói khái quát về phần Nhân, kế lại xin bàn tổng
quát về phần Quả. Quả báo tuy nhiều, song có thể tóm tắt
trong mười hai điểm:
1.
Hiện báo: Ðây là quả báo trong kiếp hiện tại; có nghĩa
hiện thế gây nhân thì hiện đời chịu quả. Quả báo nầy
có tánh cách mau, ví như trồng loại cà, ớt hay gieo giống
lúa, chỉ trong vòng một mùa, một năm đã thu được kết
quả. Hiện báo còn gọi là Hoa báo, danh từ nầy hàm ý nghĩa
mau lẹ, ảnh hưởng không đợi đến thời kỳ sanh trái, mà
đã phát lộ trong thời kết bông. Tục ngữ có câu: "Ðời
xưa trả báo thì chầy. Ðời nay trả báo một giây nhãn tiền".
Hai câu nầy chỉ cho tánh cách của Hiện báo hay Hoa báo.
2.
Sanh báo: Sanh báo là gây nhân kiếp nầy, đời kế sau mới
chịu quả báo. Quả báo nầy có tánh cách hơi lâu, ví như
trồng mụn chuối con, hạ thổ năm nay, sang năm mới có trái.
Trong kinh có câu: "Muốn biết nhân kiếp trước, hãy xem sự
thọ hưởng đời nay. Muốn rõ quả kiếp sau, nên xét sự
tạo tác trong hiện tại". Hai câu nầy có thể chỉ cho ảnh
hưởng của sanh báo.
3.
Hậu báo: Ðây là nói sự gây nhân trong đời nầy, đến ba,
bốn, trăm, ngàn hay vô lượng kiếp sau mới thọ quả báo.
Hậu báo có tánh cách lâu hơn, ví như trồng những loại cây
trong năm nay, đến năm, mười hay đôi ba mươi năm sau mới
kết quả. Thuở xưa, khi Phật còn ở đời, có ông Thi Lợi
Bật Ðề đến một trăm tuổi mới cầu xin xuất gia. Các
vị Trưởng lão như Ca Diếp, Xá Lợi Phất, nhập định quán
sát trong vòng 84000 kiếp về trước thấy ông thiếu căn lành
nên không cho. Ðến khi Như Lai đi khất thực trở về, thấy
ông khóc lóc cầu xin, liền chấp thuận. Các vị Trưởng lão
hỏi duyên cớ. Ðức Thế Tôn đáp: "Thi Lợi Bật Ðề trước
84000 kiếp, tiền thân là lão tiều phu, bị cọp đuổi gấp
leo lên cây niệm một câu "Mô Phật". Do thiện căn ấy đến
nay mới gặp ta, và sẽ được đắc độ. Vì nhân lành kiếp
trước của người này quá lâu xa, nên sức đạo nhãn của
các ông không thể thấy biết được". Trong kinh có bài kệ:
"Giả sử trăm ngàn kiếp. Nghiệp đã tạo không mất. Khi nhân
duyên gặp nhau, lại tự chịu quả báo". Ðại ý bài kệ này
chỉ cho trường hợp Hậu báo.
4.
Ðịnh báo: Ðịnh báo là quả báo nhứt định phải chịu,
không thể chuyển biến được, bởi sức nghiệp đã quá thuần
thục, trong mười phần thành tựu cả mười. Ví như cái nhà
hư hao chút ít hay nửa phần, còn có thể sửa chữa được;
nếu kèo cột tường nóc đều hư mục, tất phải chờ cho
nó hư hoại để làm ngôi khác. Và như bịnh ung thư trong thời
kỳ nhẹ còn có thể chữa được, sang lúc quá nặng duy có
phương chờ đến mãn phần. Cổ ngữ có câu: "Dược y bất
tử bịnh. Tửu bất giải chân sầu". (Thuốc chỉ trị những
bịnh không chết. Rượu không thể giải mối buồn hiện thật).
Mấy câu này có thể tượng trưng phần nào cho sự việc trên.
Thuở
xưa vua Lưu Ly cử binh đến đánh dòng họ Thích, đức Thế
Tôn can ngăn ba lần mà không được. Tôn giả Mục Kiền Liên
bạch hỏi sao Phật không cứu độ hàng tộc thuộc, thì ngài
bảo đó là định nghiệp. Tôn giả không tin, dùng thần thông
đem giấu năm trăm người họ Thích trên cung trời. Nhưng khi
Lưu Ly vương dẹp xong hàng Thích Chủng, thì năm trăm người
ấy cũng đều thành huyết mà chết. Ðây là một sự kiện
chứng minh sức định nghiệp có công năng tuyệt đối mạnh
mẽ. Cho nên chư Phật có ba việc làm được, ba việc làm
không được, gọi là "Tam năng tam bất năng". Các điều ấy
là: chư Phật có thể không tất cả tướng, thông suốt tất
cả pháp, nhưng không thể diệt được định nghiệp; có thể
biết cùng tận nghiệp tánh của chúng sanh, rõ thấu tất cả
việc trong vô biên kiếp quá khứ và vị lai, song không thể
độ những chúng sanh vô duyên; có thể độ vô lượng chúng
sanh, song không thể độ hết chúng sanh giới. Bởi thế, sức
người cố nhiên là hữu hạn, nhưng sức Phật vẫn chưa phải
toàn năng. Nếu chúng sanh không tín hướng đức Như Lai, không
thật hành đúng theo lời Ngài dạy, thì chư Phật, Bồ Tát
cũng không thể hóa độ được.
5.
Bất định báo: Ðây là nghiệp báo có thể chuyển biến sửa
đổi được. Như có người trước đã tạo nghiệp lành,
đáng lẽ phải hưởng phú quý trọn đời. Nhưng trong lúc
làm quan, nếu kẻ ấy tham mê tài sắc, ăn của lót, cưỡng
hiếp, hãm hại người, thì phước lộc lần lần tiêu giảm,
có thể bị tù ngục, ô danh, hoặc chết bất đắc kỳ tử.
Và như kẻ kiếp trước kém nhân lành, nên đời này thân
phận nghèo khổ, hèn hạ. Song nếu người ấy biết xét lẽ
nhân quả tội phước, gắng sửa đổi tâm tánh, hết sức
làm việc phước thiện, thì tội chướng lần tiêu giảm,
phước đức lần tăng thêm, có thể trong hiện tại chính
mình hay con cháu sẽ tiến đến cảnh vinh quang. Ví như trong
đời, người tước vị cao mà ỷ thế làm quấy, thì có thể
bị cách chức; kẻ có tội nhưng gắng lập công, có thể
đem công chuộc tội, và nếu lập công thêm mãi tất sẽ được
tấn chức thăng quan.
Nghiệp
quả của chúng sanh phần nhiều đều có tánh cách bất định.
Nếu chúng ta biết gắng sức dùng tâm lực để chuyển nghiệp
lực, thì cảnh thiên cung, Phật quốc nào phải không nẻo
tiến lên. "Bụi hồng có lối về hương quốc. Cửa tội không
tâm mở dạ đài", chính là ý này vậy.
6.
Cộng báo: Cộng báo là quả báo chung. Như thuở đức Thế
Tôn còn ở đời, ba mươi hai người con của bà Tỳ Xá Ly
đều bị vua Ba Tư Nặc nghi lầm mà giết. Xét theo hiện thời
thì dường như đó là hàm oan. Song thật ra trong tiền kiếp
vua Ba Tư Nặc là con trâu, ba mươi hai người kia đều là kẻ
trộm. Trong khi con trâu biết mình sắp bị giết, quỳ xuống
rơi nước mắt tỏ ý van xin, nhưng ba mươi hai kẻ trộm quyết
tâm sát hại để ăn thịt. Lúc ấy lại có một bà lão tán
thành giúp cho phương tiện nấu nướng. Bà lão ấy chính là
tiền thân của cận sự nữ Tỳ Xá Ly. Bà Tỳ Xá Ly và ba
mươi hai người con vì đồng gây cộng nghiệp, nên ba mươi
hai đứa con bị giết; còn bà mẹ bởi kiếp trước tùy hỉ
việc ấy, nên hiện tại cũng vương nỗi buồn lây. Ðiều
này do đức Phật thuật lại tiền nhân, nên mối oan kết
đôi bên mới được giải thích.
Lại
nữa, trong thời kỳ chiến tranh này, có nhiều người tuy không
ra trận tuyến, nhưng cũng bị bom đạn, sự kinh khủng, cảnh
nghèo đói, hoặc nỗi buồn khổ về tử biệt sanh ly. Ðó
đều là ảnh hưởng nặng nhẹ thuộc Cộng báo, do việc tự
mình giết, bảo người giết, hoặc tùy hỷ sự giết của
nghiệp sát sanh từ nhiều kiếp về trước.
7.
Biệt báo: Ðây cũng gọi Bất cộng báo, là quả báo riêng
của mỗi cá loại trong loài người hay loài vật. Chẳng hạn
như đồng là chim, nhưng có loại chim quý đẹp như bạch hạt,
anh võ, trỉ, thanh tước, phượng hoàng; có loại chim thường
như quốc, cò, sẻ, én; và loại xấu như chim heo, chim ụt.
Lại cũng đồng là loài người, mà có kẻ xấu, người đẹp,
kẻ giàu sang, người nghèo khổ, kẻ ngu tối, người thông
minh. Hoặc như trong cảnh khói lửa tang tóc lan tràn, mà có
người vẫn sống đoàn tụ an vui, hầu như không biết chiến
tranh là gì cả. Ðó là những trường hợp thuộc về Biệt
báo.
8.
Cận tử báo: Cận tử báo là quả báo lúc sắp chết. Con
người khi già yếu sắp chết, những nghiệp thiện ác từ
kiếp này hoặc kiếp trước dồn lại, ảnh hưởng mạnh mẽ
hơn lúc bình thường. Nếu là nghiệp thiện thì khiến cho
người ấy vui vẻ hòa nhã hiền lương, mắt tai không lờ
lãng, khi lâm chung xả báo an lành. Như thuộc về nghiệp ác,
thì kẻ đó trở nên nóng nảy, ưa buồn giận khó khăn, tâm
trí lờ lẫn, lúc sắp chết đau yếu mê man. Trong đời kẻ
tu thiện thì ít, làm ác lại nhiều, nên đa số người đến
lúc lớn tuổi thường đổi tánh; những vị không hiểu lý
này cho là "già hay sanh tật".
Thuở
bút giả còn ở chùa Linh Thứu, tại xã Thạnh Phú, tĩnh Ðịnh
Tường, có biết ông hương ấp Nghé. Ông này ưa ăn thịt
chó, mỗi tháng trung bình độ sáu con, nên khi ông đi đâu
thì chó sủa dồn đến đó, ai cũng đều biết. Khi ông đau
sắp chết, thì tự chui xuống gầm giường nằm khoanh một
góc, lâu lâu lại tru lên như chó. Lúc ấy có người đồng
bạn là chú năm Thiện đến thăm, hỏi: "Anh hương ấp làm
chi lạ vậy? Thôi anh lên giường nằm, đừng để cho bà con
chê cười!" Nói chưa xong, thì ông thình lình nhảy ra táp chú,
hình trạng như con chó giận dữ cắn người, may nhờ chú
năm lẹ làng tránh khỏi. Ðây là một việc tượng trưng cho
Cận tử báo thuộc về nghiệp ác.
9.
Thục vị thục báo: Ðiều này là trạng thái của nghiệp
báo lúc chưa thuần thục và đã thuần thục. Tiên đức nói:
"Người mang nghiệp ví như người mắc nợ, mối nào mạnh
thì nó kéo lôi trước". Khi xưa, một hôm đức Phật bảo
ngài A Nan: "Có người trọn đời làm lành mà khi chết bị
đọa vào ác đạo, bởi nghiệp lành đời này chưa chín muồi,
song nghiệp dữ kiếp trước đã đến lúc thuần thục. Có
kẻ trọn đời làm ác nhưng khi chết sanh lên thiên cung, bởi
nghiệp ác đời này chưa thuần thục mà nghiệp lành kiếp
trước đã đến thời kỳ chín muồi. Việc nhân quả rất
phức tạp, tùy theo thế lực mạnh yếu mà đến trước hoặc
sau. Cho nên các đệ tử của ta chớ nên thờ ơ, phải gắng
chuyên tu cho đạo nghiệp được tinh thuần. Vì biết đâu,
có kẻ tuy đời nay yên ổn hưởng lạc làm lành, nhưng nghiệp
ác những kiếp về trước đã sắp đến thời kỳ thuần
thục!"
Bởi
chưa hiểu rõ lý trên, nhiều vị thấy người làm lành mà
chết xấu, kẻ hung dữ lại chết tốt, vội phê bình cho rằng
không có việc nhân quả tội phước, chẳng cũng là sai lầm
lắm ư?
10.
Chuyển báo: Chuyển báo là những biến trạng khổ vui, do sức
tu thiện hay làm ác của đương nhơn. Biến trạng này là sự
dồn dập để chuyển đổi những quả báo sắp đến. Như
có người làm đủ những điều ác, song đời sống hiện
tại càng thêm an ổn vinh quang. Trong đây có hai nguyên nhân:
Một là do túc phước của họ quá nhiều, tuy có phần tổn
giảm bởi làm ác, nhưng dư phước hãy còn. Hai là do thế
lực của nghiệp ác quá mạnh, khiến cho bao nhiêu phước đời
này và đời trước đều phát hiện cho kẻ ấy hưởng, để
rồi sẽ chịu quả báo ác đạo ở kiếp sau. Sự kiện Chuyển
báo nơi đây, chính thuộc về trường hợp thứ hai này. Nói
theo các cụ bình dân ta, đây gọi là trạng thái "dồn phước".
Lại có những vị chí tâm tu hành, nhưng lại thường gặp
những việc thất bại, đau yếu, tai nạn, mang tiếng thị
phi. Theo tiên đức, đó là do sức tu thiện, khiến cho chuyển
quả báo nặng ác đạo ở đời sau, thành ra quả báo nhẹ
trong hiện tại, để kẻ ấy khi mạng chung sẽ hưởng phước
nhơn thiên, hay sanh về Phật quốc. Và đây gọi là trạng
thái dồn nghiệp.
Nhiều
Phật tử không hiểu lẽ này, khi gắng tu mà gặp việc không
may, vội sanh tâm sợ sự niệm Phật tụng kinh, hoặc thối
chí bảo: càng tu nhiều càng có lắm việc phiền phức, rồi
lần lần đi đến sự giải đải, xin đem một thí dụ để
trần thích: như người có bịnh phong hay ban, uống thuốc vào
chất độc bị giải tán, làm cho nước tiểu vàng hoặc cả
mình nổi mận đỏ, đó là trạng thái bịnh sắp lành. Việc
ấy nên đáng mừng hay là lo sợ? Kẻ tu hành cũng thế, do
công đức tụng kinh niệm Phật, khiến cho nghiệp chướng
phát hiện để tiêu trừ. Nếu có chút ảnh hưởng khổ báo,
trong mười phần ta chỉ còn chịu đôi ba phần, cho nên hành
giả đừng lấy việc đó làm nản chí. Và điều này, trong
kinh Kim Cang, đức Phật cũng đã bảo: "Tu Bồ Ðề! Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì đọc tụng kinh này mà bị
người khinh rẻ, nên biết kẻ ấy đời trước tội chướng
rất nhiều, đáng lẽ phải đọa vào ác đạo. Do sức tụng
kinh, khiến đời nay bị người chê bai, nên tội chướng đời
trước được tiêu diệt, kẻ đó sẽ đắc quả A nậu đa
la tam miệu tam bồ đề".
Trong
Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục có thuật chuyện ông Ngô Mao tu
hành chân chánh, lúc sắp chết bị giặc đâm bảy thương.
Khi người anh đến, ông bỗng tỉnh lại bảo: "Ðời trước
tôi tạo nhiều nghiệp ác, đáng lẽ phải còn đầu thai làm
heo bảy kiếp nữa. Nhưng nhờ đời này tôi biết ăn chay niệm
Phật, nên phải chịu bảy vết thương để trả bảy kiếp
làm heo ấy. Hiện thời tôi sắp sanh về Tịnh độ". Cứ theo
việc ông Ngô Mao, kẻ không biết cho là tu hành mang họa. Nhưng
chỉ chịu bảy vết thương trả xong bảy kiếp làm heo, để
rồi được sanh về Cực Lạc; nếu so lại thì việc tu hành
đâu phải luống uổng, và công đức niệm Phật chính thật
không thể nghĩ bàn! Nhưng tu hành không phải mỗi người đều
bị chuyển báo, nếu kẻ có căn lành từ kiếp trước thì
càng tu càng được an vui. Hành giả đừng in trí theo một
phương diện trên mà sanh lòng e ngại.
11.
Thế gian báo: Ðây là những quả báo khổ vui trong ba cõi:
Dục, Sắc và Vô sắc. Nguyên nhân chánh của sự lưu trệ
trong tam giới, là vì khi gây nhân chúng sanh còn chấp ngã.
Chẳng những thế gian và ngoại đạo mà các vị tu theo chánh
giáo, nếu chưa dứt hết tâm chấp ngã, còn tham nhiễm lục
trần, cũng vẫn còn ở trong vòng luân hồi sáu nẻo. Tuy nhiên,
những sở hành theo Phật pháp đều gây nhân duyên đắc độ
về sau, nhưng kiếp tương lai trong khi tu, điểm chánh yếu
của sự giải thoát vẫn là điều kiện dứt ngã chấp. Trong
truyện ký nhà Phật có chép việc một ni cô tụng kinh Pháp
Hoa ba mươi năm, nhưng tâm còn nhiễm thanh sắc, nên kiếp sau
chuyển làm nàng kỷ nữ thanh sắc vẹn toàn; nơi miệng thường
bay ra mùi thơm hoa sen. Tại Việt Nam, đời nhà Lê, một vị
sư tu Tịnh độ ở chùa Quang Minh, bởi tâm lợi danh chưa sạch,
nên kiếp sau chuyển sanh làm vua Khang Hy bên Trung Hoa. Khi được
biết tiền nhân, nhà vua viết mấy bài thi hoài cảm, trong
ấy có hai câu: "Ngã bản Tây phương nhất Phật tử. Vân hà
lạc tại đế vương gia?" (Ta vẫn là con của Phật A Di Ðà
ở Tây phương. Tại sao nay lại lạc vào giòng vương thất?)
Ðời
Tống bên Trung Hoa, Giới Diễn và Quang Huệ đại sư đồng
tu thiền, song Giới Diễn vì còn chút tâm niệm luyến sắc,
nên kiếp sau đầu thai làm nhà văn hào lỗi lạc, đa tài mà
cũng đa tình, là Tô Ðông Pha. Sau khi được ngài Quang Huệ
chuyển kiếp làm Phật Ấn thiền sư để hóa độ Tô Ðông
Pha trở lại đường tu. Có lẽ nhớ biết những kiếp về
trước, nên lúc lớn tuổi, trong cuộc tái du thăm viếng chùa
Kim Sơn, ông đã viết mấy câu thi:
Kim
Sơn chùa núi gần mây nước
Tóc
bạc Ðông Pha lại đến đây.
Tiền
kiếp Ðức Vân, nay chính tớ
Mơ
màng còn nhớ Diệu Cao đài!
12.
Xuất thế gian báo: Thế gian báo là quả báo thuộc lục phàm.
Trái lại, xuất thế gian báo là quả báo của tứ thánh: Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật. Quả báo tứ thánh do bởi
khi tu lìa ngã chấp mà được thành tựu. Trong hạnh vô ngã
này, hàng nhị thừa hãy còn hẹp, song Bồ Tát thừa thì rất
rộng rãi nhiệm mầu. Bồ Tát chẳng những tu tam vô lậu học
của pháp xuất thế gian, mà còn làm tất cả việc từ thiện
của thế gian. Tâm của Bồ Tát không thấy có sở đắc sở
chứng; không có tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả; tuy
độ vô lượng hữu tình nhưng không thấy mình là người
hóa độ, chúng sanh là kẻ được độ; tuy quanh mình thị
hiện vô biên quyến thuộc, nhưng lòng hằng vắng lặng không
thấy có quyến thuộc; tuy tu vô lượng phước đức, nhưng
không thấy mình có phước đức. Ðây là hạnh vô tướng.
Người biết thật hành hạnh vô tướng, dù là làm việc thiện
thế gian, song đều thành kết quả giải thoát. Bằng trái
lại, tuy tu thánh đạo, cũng hóa ra phước báo thế gian. Về
hạnh vô tướng này, trong kinh Kim Cang, có đoạn đức Phật
dạy: "Nầy Tu Bồ Ðề! Như có vị Bồ Tát dùng số lượng
thất bảo đầy cả hằng hà sa thế giới để bố thí. Nếu
lại có người biết tất cả pháp đều vô ngã, được thành
vô sanh nhẫn, thì công đức của vị Bồ Tát sau này hơn bậc
Bồ Tát trước kia. Tại sao thế, Tu Bồ Ðề? Bởi thật ra,
chư Bồ Tát đều không thọ phước đức". Tu Bồ Ðề thưa:
"Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ Tát không thọ phước đức?"
- Này Tu Bồ Ðề! Vì Bồ Tát tuy làm những việc phước đức,
song chẳng tham trước, nên ta nói không thọ phước đức!"
Thông
thường hàng Phật tử tại gia khi mới quy y, duy thích cúng
dường chùa mình, phụng sự thầy của mình, hay chỉ làm những
Phật sự mà họ cho là có công đức hơn việc thế gian. Nhưng
nếu họ hiểu rộng hơn, vừa dùng tâm bình đẳng phụng sự
Tam Bảo, vừa làm các việc từ thiện ở đời, như giúp đỡ
kẻ nghèo khổ đau yếu, chu cấp cho hàng quả phụ cô nhi,
rồi đem công đức ấy hồi hướng về Tịnh độ cùng đạo
Vô thượng bồ đề, thì tất cả việc làm lành đều đi
đến kết quả giải thoát cả.
Tóm
lại, sự lý nhân quả thật vô lượng, chuyển biến chập
chồng, có thể gọi là khó bàn khó nghĩ. Nhưng về Nhân không
ngoài sự hơn kém của nghiệp thân, ngữ, ý qua ba hạnh Phước,
Phi phước và Bất động. Về Quả lại tổng quát trong mười
hai điều trên. Nếu nắm được mấy điểm chánh yếu như
đã kể mà suy rộng ra, về vấn đề này, người học Phật
có thể hiểu quán xuyến tất cả.
Tiết
IV - Những Tương Quan Giữa Nhân Và Qủa
Trạng
thái nhân quả thật vô cùng, gây nhân nào tất cảm quả ấy,
duy sự báo ứng hoặc đến sớm hay muộn mà thôi. Trong đây,
nếu có sự chuyển biến, là do những ảnh hưởng xấu hoặc
tốt khác xen vào. Thí dụ, một ly nước trong, như ta chỉ
bỏ muối vào, tất nước phải mặn; nhưng nếu lại để
xen thêm đường, vị nước sẽ đổi khác. Sự chuyển biến
của nhân quả thiện ác cũng như thế. Nay ở đây chỉ luận
bàn về những tương quan trực tiếp giữa nhân và quả. Với
mục đích thủ tín cùng duyệt giả, xin dẫn toàn những thánh
giáo để chứng minh:
Trong
kinh Luân Chuyển Ngũ Ðạo, đức Phật bảo: - Này A Nan! Muôn
vật giữa đời đều có túc duyên. Người được quả báo
hào quý làm bậc quốc vương, trưởng giả, từ nơi nhân lễ
kính, phụng sự Tam Bảo mà đến. Người được quả báo
giàu có, của cải vô hạn, từ nơi nhân bố thí mà đến.
Người được quả báo sống lâu, không đau bịnh, thân thể
mạnh khoẻ cao lớn, từ nơi nhân giữ giới mà đến. Người
được quả báo đoan trang xinh đẹp, nước da trắng tươi
sáng rỡ, ai thấy cũng đều ưa thích mến chuộng, từ nơi
nhân nhẫn nhục mà đến. Người tánh nết siêng năng mau mắn,
ưa làm việc phước thiện, từ nơi nhân tinh tấn mà đến.
Người dáng điệu an nhàn, lời và hạnh đều có suy nghĩ,
chừng mực, chắc chắn, từ nơi nhân thiền định mà đến.
Người thông minh tài trí, hiểu suốt thâm pháp, từ nơi nhân
tu huệ mà đến. Người được tiếng nói thanh thao rõ suốt,
ai cũng ưa nghe, từ nơi nhân tụng kinh, ca ngợi Tam Bảo mà
đến. Người dáng vẻ sáng sạch hiền hòa, không đau yếu,
ai thấy cũng mến, từ nơi nhân từ tâm mà đến.
Ngài
A Nan thưa: - Bạch Thế Tôn! Sao gọi là "từ tâm"? Ðức Phật
bảo: "- Từ tâm có bốn điều: 1- Thương tất cả chúng sanh
như mẹ thương con. 2- Thấy chúng sanh khổ, xót xa muốn cứu
độ. 3- Thấy chúng sanh hiểu đạo, biết làm lành, hướng
về nẻo giải thoát, sanh lòng vui mừng. 4- Thường ái hộ
chúng sanh, chẳng những săn sóc giữ gìn thân mạng, mà còn
không có lời vô ý làm cho người bất mãn, buồn rầu. Ấy
là những tướng trạng của từ tâm.
-
Lại này A Nan! Kẻ nào thân thể cao lớn, là do nhân ưa lễ
bái, khiêm nhường, cung kính tất cả mọi người. Kẻ nào
lùn thấp, là do nhân khinh mạn, tự cao. Kẻ nào dung mạo thô
xấu, là do nhân giận hờn, nóng nảy. Kẻ nào sanh ra ngây
ngô kém hiểu biết, là do nhân không thích học hỏi. Kẻ nào
ngu si, là do nhân không chịu dạy dỗ người. Kẻ nào câm
ngọng, là do nhân khinh ngạo, chê bai người. Kẻ nào đui điếc
là do nhân hủy báng Tam Bảo, không chịu nghe chánh pháp. Kẻ
nào làm thân tôi đòi là do nhân mắc nợ không trả, hoặc
không kính lễ Tam Bảo. Kẻ nào thân hình đen xấu, là do nhân
che ánh sáng của Phật. Kẻ nào sanh ra ở nước Lỏa hình,
là do nhân ăn mặc hở hang vào tinh xá, hay đến trước chỗ
Phật. Kẻ nào sanh vào nước Mã đề (thân người, bàn chân
ngựa), là do nhân mang giày dép đi trước chỗ Phật. Kẻ nào
sanh ở nước Xuyên hung (mọi người đều xoi hông), là do
nhân bố thí làm phước mà sanh lòng hối tiếc.
-
A Nan! Chúng sanh nào làm loài hưu nai, là do kiếp trước ưa
làm cho người sợ hãi. Chúng sanh nào sanh làm loài rồng, là
do kiếp trước ưa bởn cợt và giận hờn, làm cho người
phiền muộn. Kẻ nào nơi thân bị bịnh lát, ghẻ độc làm
cho đau nhức khó chịu, chữa trị không lành, là do kiếp trước
ưa đánh đập chúng sanh. Kẻ nào mọi người trông thấy đều
vui mừng cảm mến, là do kiếp trước khi thấy người, niềm
nở vui mừng cảm mến. Kẻ nào mọi người trông thấy đều
chán ghét, là do kiếp trước khi thấy người, rẻ rúng chán
ghét. Kẻ nào thường bị gông cùm tù ngục, là do kiếp trước
hay trói buột hoặc giam nhốt chúng sanh trong lồng chậu, khiến
cho nó không được tự do. Kẻ nào bị rách miệng sứt môi,
là do kiếp trước ưa câu cá.
-
A Nan! Kẻ nào trong hội thuyết pháp không để ý lắng nghe,
lại nói trái ngược làm loạn ý người khác, kiếp sau sanh
làm con lừa tai dài, hoặc loài chó xụ tai. Kẻ nào kiêu căng
bỏn sẻn tham lam, thích lén ăn uống, chỉ hưởng thụ riêng
một mình không đoái hoài đến người thân sơ, hạng nghèo
khổ; lúc chết rồi bị đọa vào địa ngục, kế làm loại
ngạ quỉ, khi được sanh làm người thì nghèo hèn đói khát,
mặc chẳng kín thân, ăn không no bụng. Kẻ nào thường ăn
riêng thức ngon, cho người món dở, kiếp sau bị đọa làm
loài chó, lợn, bọ hung. Kẻ nào thường tách mai, đánh vảy,
lột da loài vật, đời sau làm sanh vật bị quả báo y như
hành động của mình kiếp trước. Kẻ nào ưa giết hại,
kiếp sau sẽ bị đọa vào tam đồ, cho đến làm con phù du
trên mặt nước, sớm sanh chiều chết. Kẻ nào trộm cướp,
kiếp sau sẽ làm thân tôi tớ, hoặc trâu bò, lừa, ngựa để
trả nợ người. Kẻ nào hay nói dối, nói đâm thọc, mắng
chưởi, nói lời cay độc, bêu rêu việc xấu của người,
khi chết sẽ sa xuống địa ngục, bị rót nước đồng sôi
vào miệng, hoặc bị cắt lưỡi, cày lưỡi, sau lại làm thân
ác điểu, người nghe tiếng kêu đều kinh sợ bảo là điềm
quái gở, nguyền rủa muốn cho nó chết. Kẻ nào quyến rũ
dâm loạn vợ chồng con cái người, khi chết đọa vào địa
ngục, nam ôm cột đồng lửa, nữ nằm giường sắt nóng,
sau lại làm loài thú đa dâm, hoặc làm loài ngỗng, vịt. Kẻ
nào ưa uống rượu, phạm nhiều tội ác, lúc chết bị đọa
vào địa ngục, sau sanh làm loài dã nhơn, khi được thân người
lại ngu si khờ dại. Kẻ nào vợ chồng không biết nhường
nhịn hòa thuận, thường hay tranh cãi, nặng lời xua đuổi
nhau, kiếp sau đọa làm thân chim cưu (tu hú), chim bồ câu.
Kẻ nào ưa lạm dụng sức người, kiếp sau sanh làm loài voi,
bị người dùng sức lại.
-
Này A Nan! Trừ những vị làm quan, y theo pháp luật, hạch hỏi
xử phạt một cách công minh, thì không tội. Nếu hạng quan
liêu ỷ quyền thế xâm đoạt tài sản của dân, hoặc ăn
hối lộ dung túng kẻ ác, tra tấn, gông cùm, xử hiếp người
vô tội hay không đáng tội, thì khi chết sẽ bị đọa vào
địa ngục chịu thống khổ ngàn muôn kiếp, sau lại sanh vào
loài trâu bò bị xỏ mũi, đánh đập, mang kéo nặng nề để
đền tội trước.
-
Lại nữa, A Nan! Người nào từ thân thể đến cách ăn ở,
lôi thôi không sạch sẽ, do từ loài lợn mà đến. Người
nào tham lam bỏn sẻn không ưa bố thí, do từ loài chó mà
đến. Người nào ngược ngạo, tự tung tự tác không chịu
nghe lời ai, do từ loài dê mà đến. Người nào tánh lao chao,
gặp việc không nhẫn nại, do từ loài khỉ vượn mà đến.
Người nào có tâm độc ác ngầm, do từ loài rắn rết mà
đến. Người nào thích ăn ngon, hung dữ, ưa khủng hại chúng
sanh, không có tâm lành, do từ loài cọp, sói, mèo, chồn mà
đến..."
Trong
kinh Ðịa Tạng Bản Nguyện, đức Phật bảo: "- Này Tứ thiên
vương! Ðịa Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát sanh, thì nói
về quả báo do túc ương mà chết yểu. Nếu gặp kẻ trộm
cắp, nói về quả báo nghèo hèn khổ sở. Nếu gặp kẻ tà
dâm, nói về quả báo làm chim se sẻ, bồ câu, uyên ương.
Nếu gặp kẻ thốt lời thô ác, nói về quả báo quyến thuộc
chống đối nhau. Nếu gặp kẻ hay khinh chê, nói về quả báo
lở miệng, không lưỡi.
-
Nếu gặp kẻ ưa nóng giận, ngài nói về quả báo thọ thân
hình thô xấu, tàn tật. Nếu gặp kẻ tham lam bỏn sẻn, nói
về quả báo sự mong cầu không toại ý. Nếu gặp kẻ uống
ăn vô độ, nói về quả báo đói khát, đau cuống họng. Nếu
gặp kẻ buông lung săn bắn, nói về quả báo kinh hãi điên
cuồng mất mạng. Nếu gặp kẻ phản nghịch cha mẹ, nói về
quả báo bị tai nạn đất trời tru lục. Nếu gặp kẻ đốt
núi rừng cây cỏ, nói về quả báo mê cuồng đến chết.
Nếu gặp cha mẹ ghẻ ăn ở độc ác, nói về quả báo thác
sanh trở lại bị sự roi vọt đánh đập. Nếu gặp kẻ ưa
lưới bắt chim non, nói về quả báo cốt nhục chia lìa.
-
Nếu gặp kẻ hủy báng Tam Bảo, ngài nói về quả báo đui,
điếc, câm ngọng. Nếu gặp kẻ khinh chê chánh pháp, nói về
quả báo hằng ở trong ác đạo. Nếu gặp kẻ lạm phá của
thường trụ (của chùa chiền tăng chúng), nói về quả báo
ức kiếp bị luân hồi nơi địa ngục. Nếu gặp kẻ làm
ô nhục người tu hạnh thanh tịnh, cùng vu báng tăng ni, nói
về quả báo thường ở trong loài súc sanh. Nếu gặp kẻ dùng
nước sôi, dao gậy, hay lửa, giết hại chúng sanh, nói về
quả báo luân hồi thay nhau để thường mạng. Nếu gặp kẻ
phá giới phạm trai, nói về quả báo làm cầm thú bị đói
khát. Nếu gặp kẻ phung phí tiền của một cách vô lý, nói
về quả báo sự mong muốn tiêu dùng thường thiếu hụt. Nếu
gặp kẻ kiêu mạn tự cao, nói về quả báo làm thân hèn hạ
bị người sai khiến. Nếu gặp kẻ nói đâm thọc cho người
sanh sự gây gổ, nói về quả báo thọ thân không lưỡi hoặc
trăm lưỡi. Nếu gặp kẻ tà kiến mê tín, nói về quả báo
sanh nơi chỗ hẻo lánh không được nghe chánh pháp.
-
Này Tứ thiên vương! Như thế, chúng sanh trong cõi Diêm phù
đề, từ nơi thân, ngữ, ý tạo nghiệp, kết quả bị trăm
ngàn sự báo ứng. Và tùy theo những nghiệp cảm sai biệt
ấy, Ðịa Tạng Bồ Tát cũng dùng trăm ngàn phương tiện để
hóa độ. Nay ta chỉ kể đôi phần sơ lược thế thôi!"
Như
trên, việc luân hồi nhân quả thật vô cùng, như bánh xe quay
tròn, vay trả trả vay, không biết khi nào là kết cuộc! Trong
luân hồi đã hàm nhân quả bởi nhân quả nên mới có luân
hồi. Cho đến chư Phật muốn thành đạo chánh đẳng bồ
đề, trong nhân hạnh cũng phải tu vô biên phước huệ. Nhưng
đối với các bậc thánh giả, bởi đã dứt sạch ngã chấp,
nên tùy ý đến hóa độ các cõi, hay muốn sống chết lúc
nào cũng phải được tự tại. Và bởi chư thánh lấy pháp
giới làm thân, đã thoát ly ngũ uẩn, nên tuy thị hiện ở
cõi trời, người, hay nơi ác đạo, cũng không bị sự khổ
vui chi phối. Nên một vị thiền sư đã bảo: "Lão tăng tự
có phương nhàn tịnh. Nào ngại trăm phiền tám khổ vây!"
Về
sự luân hồi, duy có hai nghiệp ái dục và sát sanh là nặng
nhất. Do sát sanh mới thành cảnh oan cừu hờn giận, chém
giết lẫn nhau. Do ái dục mới thành mối ân tình của vợ
chồng quyến thuộc. Sát sanh phần lớn là do vì tham món ăn
ngon. Ái dục lại bởi say đắm việc tình nhiễm giữa nam
nữ. Nhưng so lại trong các thứ nhiễm lạc đời, thì nghiệp
ái dục sâu nặng và mạnh mẽ hơn cả. Từ xưa đến nay,
biết bao bậc vương hầu khanh tướng, vì thanh sắc mà mất
nước, lụy thân. Cho đến đức Phật cũng công nhận, nếu
có cái thứ hai mạnh hơn ái dục, thì đệ tử của Ngài cũng
không phương giải thoát. Lấy một việc để nêu gương: như
Ðường Minh Hoàng nếu không say đắm trong vòng thanh sắc,
thì cũng có thể thành anh quân, đâu để An Lộc Sơn gây thành
cảnh đào vong bỏ nước. Và nếu Ðường Vương có duyên
với Phật pháp, xét biết ba ngàn thế giới, sắc tức là
không, thì chi đến nỗi: Xiêm nghê tiếng ngọc, hồn tiêu
Kim cốc vườn xuân. Trăng khuyết hoa tàn, lòng nát Mã ngôi
trạm lạnh!
Thế
nên, trong việc nhân quả luân hồi, hai nghiệp dâm, sát, chẳng
những người tu tại gia, mà bậc xuất gia cũng đều phải
tự kiểm soát lấy lòng, và hết sức tránh duyên, dè dặt!