1.
Dẫn Nhập
2.
BảngTóm Lược Các Mốc Lịch Sử
3.
Thời Đại Gupta (320-550)
4.
Triều Đại Harshavardhana (606-647)
5.
Phật Học Viện Nalanda
6.
Vài Nét Về Các Đại Sư Nổi Danh Chiêm Bái Tây Trúc Đương
Thời
I)
DẪN NHẬP:
Ở
Việt nam trong quá khứ, xem ra số học giả về lịch sử,
văn học và tôn giáo ở Trung quốc thực khá đông đảo, nhất
là thơ văn đời Đường, Tống, Minh, Thanh nhưng lại có rất
ít chuyên gia khảo cứu về văn minh Ấn-độ dù đại đa số
dân chúng Việt sùng bái Phật Gíao (PG), một tôn giáo bắt
nguồn từ lưu vực sông Hằng; để tìm hiểu xem nguyên do
gì mà đạo Phật bị tàn lụi ở trên quê hương mình, hầu
từ đó rút tỉa được nhiều bài học hầu chấn hưng tín
tâm cho Phật tử.
Như
chúng ta đã biết lịch sử và văn minh Ấn Độ đã từng
để lại dấu ấn lớn cho nhân lọai trong các sáng tạo về
tôn giáo, học thuật, ngôn ngữ, tóan học, y học, kiến trúc,
thiên văn...; thế nhưng, lại giống như Trung Hoa, những phát
kiến của họ không được ứng dụng triệt để vào thực
tiển đời sống nên sớm bị mai một, và bị kỷ thuật của
người tây dương qua mặt. Ngay cả lịch sử của Ấn cũng
không hề được ghi lại rõ nét chỉ vì họ quá quan tâm đến
đạo học huyền bí, cho nên đất nước nhiều lần bị ngọai
xâm cai trị. Những ngành học thuât của Ấn chỉ mới được
hệ thống hóa gọi là Ấn học (Indology) và truyền bá dưới
thời thực dân Anh (1757-1947). Hai người được xem là cha đẻ
của ngành học này là William Jones (1746-1794) và Charles Wilkins
(1749-1836). Năm 1784, the Asiatic Society of Bengal (Học Hội Á đông
ở Bengal) được thành lập cùng với tập san Asiatic Researches
đã đẩy mạnh những nghiên cứu, sao lục và ấn hành về
văn minh Ấn.
Ở
lục địa Ấn, trong thời đức Phật Thích Ca còn tại thế,
đã có khá nhiều vua chúa các tiểu quốc quanh sông Hằng rất
sùng bái PG và hổ trợ tăng già. Về sau, cũng nhờ những
sự ủng hộ tích cực của các hòang đế lừng danh của đất
Phật này mà PG đã được truyền bá khắp nơi trong và ngòai
nước Ấn.
Sử
sách Ấn và PG thường tôn vinh các vị hòang đế Phật tử,
không những đã làm cho quốc gia thêm vĩ đại mà còn đem
lại cho PG những giai đọan phát triển rực rỡ; đó là Ashoka
Maurya (269-227 TTL.), Menander I (173-130 TTL.), Kanishka I (100-164 TL),
các vua cuối của triều đại Gupta ở thề kỷ thứ 5 và Harshavardhana
hay còn gọi là Harsha (606-647 TL).
II)
BẢNG TÓM LƯỢC CÁC MỐC LỊCH SỬ
Chúng
tôi đã từng đề cập đến các vị hoàng đế hộ pháp trước
(xin xem những bài viết của cùng tác giả trên các websites
PG); bài khảo lược này xin nói về các vị vua cuối của
thời đại Gupta và hoàng đế Harshavardhana của triều kế
tiếp; về các vị đại sư đã qua Tây Trúc chiêm bái cùng
thời; và những liên hệ của họ với Phật Học Viện Nalanda
nổi danh. Để có cái nhìn khái quát về giai đoạn ấy, chúng
tôi đã tham khảo và xin trình bày bảng đối chiếu tóm lược
các mốc Lịch Sử Ấn - Hoa cho đến thiên niên kỷ đầu TL
để quý độc giả tiện theo dõi:
Lưu
ý: Những tên danh nhân địa lý Ấn vốn bằng tiếng Hindu,
khi được ghi âm theo chữ Latin thì có khá nhiều cách viết,
nên dễ lẫn lộn.
|
NIÊN
KỶ
|
ẤN
ĐỘ
|
TRUNG
QUỐC
|
| 2700
TTL |
Văn
minh Harappa |
Thời
Tam Hoàng, Ngũ Đế: Hoàng Đế (Hiên viên thị); Thiếu Hiệu
(Kim thiên thị); Chuyên Húc (Cao dương thị) |
| 1000
TTL |
Giống
Aryans tràn vào thung lũng sông
Hằng |
Nhà
Tây Chu.
Kinh
Dịch được biên tập |
| 900
TTL |
Trận
chiến Mahabharata |
Vua
Hiếu vương nhà Tây Chu |
| 800
TTL |
Giống
Aryans tràn đến vịnh Bengal. Bắt đầu thời đại Sử thi:
Mahabharata được kết tập. |
Vua
Tuyên vương; Vua U-vương và Bao Tự, Tây Chu |
| 550
TTL |
Kết
tập kinh Upanishads |
Thời
Xuân Thu (722 TTL – 481 TTL) |
| 544
TTL |
Đức
Phật nhập Niết Bàn |
Vua
Cảnh Vương nhà Đông Chu |
| 327
TTL |
Đại
đế Alexander xâm lăng Ấn |
Thời
Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
| 324
TTL |
Vua
Chandragupta Maurya đánh bại vua
Seleacus
Nicator |
Thời
Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
| 322
TTL |
Triều
Mauryas khởi đầu. Chandragupta
thiết
lập đế quốc đầu tiên của Ấn |
Thời
Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
| 298
TTL |
Bindusara
lên ngôi |
Thời
Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
| 272
TTL |
Vua
Ashoka trị vì |
Thời
Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
| 180
TTL |
Triều
đại Mauryas sụp đổ của. Triều
Sungas
nối tiếp |
Cuối
Tần Sơ Hán - Huệ Đế, nhà Tây Hán (hay Tiền Hán) |
| 173-130
TTL |
Vua
Menander (Milinda) lập đế quốc Hy-
Ấn. |
Từ
Triều của Vũ Hậu đến Hán Vũ Đế |
| 145
TTL |
Vua
xứ Chola xâm lấn Tích Lan (Ceylon) |
Vua
Cảnh Đế, nhà Tiền Hán |
| 58
TTL |
Kỷ
nguyên Krita-Malava-Vikram |
Vua
Tuyên Đế, Tiền Hán |
| 30
TTL |
Khởi
đầu của triều Satvahana ở xứ Deccan |
Vua
Thành Đế, Tiền Hán |
| 40
TL |
Người
Sakas cai trị thung lũng Indus và
phía
tây Ấn |
Vua
Quang
Vũ Đế, Đông Hán hay Hậu Hán |
| 50
TL |
Tộc
Kushan hùng mạnh dần |
Vua
Quang Vũ Đế, Hậu Hán |
| 78
TL |
Khởi
đầu của thời kỳ Saka-Kushana |
Vua
Chương Đế, Hậu Hán |
| 100-164
TL |
Hoàng
đế Kanishka I và đế quốc Kushan |
Từ
vua Hán Hòa đế đến vua Hoàn đế, Hậu
Hán |
| 320
TL |
Vua
Chandra Gupta I lập triều Gupta |
Vua
Nguyên Đế, nhà Đông Tấn |
| 360
TL |
Vua
Samudra Gupta xâm chiếm đất bắc
và
hầu hết xứ Deccan |
Vua
Ai Đế, nhà Đông Tấn |
| 380
TL |
Vua
Chandra Gupta II lên ngôi; Thời đại
hòang
kim của nền văn học phục sinh
Ấn-Gupta. |
Bắc
Triều:
-
Vua An Đế, nhà Tấn
-
Vua Đạo Võ Đế, Bắc Hậu Ngụy |
| 405
TL (*) |
Đại
sư Pháp hiển (Fa-hein) chiêm bái
Phật
tích khắp vương quốc Gupta. |
Bắc
Triều:
-
Vua An Đế, nhà Tấn
-
Vua Đạo Võ Đế, Bắc Hậu Ngụy |
| 415
TL |
Vua
Kumara Gupta I lên ngôi |
Vua
Minh Nguyên Đế, Bắc hậu Ngụy |
| 427
TL |
Vua
Kumara Gupta I cho khởi công xây
dựng
Phật Học Viện Nalanda. |
Vua
Thái Võ Đế, Bắc Hậu Ngụy |
| 440
TL |
Tổ
Bodhidharma sinh ở nam Ấn, xứ của vua Pallava |
Vua
Thái Võ Đế, Bắc Hậu Ngụy |
| 467
TL |
Skanda
Gupta lên ngôi |
Vua
Hiến Văn, Bắc Hậu Ngụy |
| 476
TL |
Năm
sinh của nhà thiên văn Aryabhatta |
Vua
Thuận Đế, Nam Tống |
| 530
TL |
Tổ
Bodhidharma theo thuyền đến Trung
quốc,
cặp bến Quảng châu. |
Vua
Tiết Mân Đế, Bắc: Hậu Ngụy
Vua
Võ Đế, Nam: Lương |
| 606
TL |
Harshavardhana
lên ngôi |
Vua
Văn Đế, nhà Tùy |
| 622
TL |
Bắt
đầu triều đại Hejira |
Cung
đế Hựu, bị ép nhường ngôi cho Đại thừa tướng Lý Uyên,
lập ra nhà Đường |
| 629
TL |
Đường
Tăng Huyền Trang (Huan Tsang)
đi
Ấn thỉnh kinh |
Vua
Cao tổ Nhà Đường |
| 649
TL |
Vua
Harshavardhana băng hà |
Vua
Thái Tôn, nhà Đường |
| 672
TL |
Đại
sư Nghĩa Tịnh (I-Tsing) đến chiêm
bái
ở Ấn. |
Vua
Đường Cao Tôn, Vũ Hậu Tắc Thiên |
| 711
TL |
Muhammad
Bin Qasim xâm lăng xứ Sind |
Vua
Duệ tôn, nhà Đường |
| 892
TL |
Khởi
đầu của triều Chalukyas ở phía
đông |
Vua
Chiêu tôn, nhà Đường |
| 985
TL |
Triều
Chola: Vua Rajaraja đăng quang |
Vua
Thái tôn, nhà Tống |
| 1001
TL |
Sultan
Mahummad đánh bại Jaipal |
Vua
Chân tôn, Nhà Tống |
*(Có
chỗ ghi là 399) đến 414
Qua
bản tóm lược đối chiếu trên, ta nhận thấy có hai triều
đại huy hòang của Ấn đã được thiết lập bởi hai vị
vua cùng tên nhưng cách nhau đến gần 8 thế kỷ, là Chandragupta
lập ra triều đại Maurya ở TK thứ 4 TTL (324-180 TTL), và vua
Chandragupta I sáng lập ra thời đại Gupta (320-540) ở TK thứ
4 TL. Với tên vị vua sau đúng ra phải viết là Chandra Gupta
I.
Có
vài tác giả đã gom Hoàng đế Harsavardhana vào với giòng họ
Gupta, có nơi lại còn viết là Harsavardhana Gupta. Điều này
không đúng với lịch sử bởi vì thời đại Gupta huy hoàng
đã chấm dứt vào cuối thế kỷ thứ 5, và triều đại của
Harsavardhana mới xuất hiện ở đầu thế kỷ thứ 7.
III)
THỜI ĐẠI GUPTA (320 – 550)
A.
Sự Thịnh Suy:
Đại
sư Nghĩa Tịnh đến Ấn vào khoảng năm 672, sau HT Huyền Trang
đến hơn 40 năm, và đã nghe nói đến danh hiệu vua ‘Maharaja
Sri-Gupta’ của vương quốc Magadha xây một tăng viện gần
Mrigasikhavana khoảng ‘500 năm trước’ cho những vị sư chiêm
bái đến từ Trung quốc tạm trú. Các học giả về sau không
đối chiếu được với lịch sử Ấn, và họ cho rằng Nghĩa
Tịnh chỉ phỏng đoán theo cảm quan tôn giáo mà thôi. Nhưng
ngày nay người ta đã chứng minh được đó là thời đại
Gupta dựa vào bộ Bhagwatam. Dòng Gupta khởi đầu từ xứ Bengal,
theo các ghi chú tại ngôi tháp "Varendra Mrigashihavan Stupa" trên
đồi ở Nepal, rồi sau đó trở thành tiểu vương từ xứ
Prayaga, Đông Uttar Pradesh, bây giờ là Allahabad từ năm 240 TL.
Vị
tiểu vương đầu tiên là Sri-Gupta khoảng từ 240-280 TL. Bản
bia ký bằng đồng ở Poona (gần Bombay bây giờ) do công chúa
Prabhavati Gupta (con gái của Chandragupta-II về sau) ghi rằng Sri-Gupta
là Adhiraja của Gupta. Vua kế vị là Ghatotkacha (280-319) mà bia
ký cũng còn có truy hiệu là Đại vương (Maharaja). Đến triều
thứ ba, khoảng năm 320 vua Chandra Gupta I (320-335) dựa vào hôn
nhân với công chúa Kumaradevi dòng Licchavi xứ Magadha (Ma-Kiệt-Đà)
đã làm cho lãnh thổ bành trướng thêm; xưng là Đại đế
(maharajadhiraja). Kể từ đó các triều đại Gupta mới trở
nên vẻ vang, và lịch sử Ấn ghi về thời đại Gupta chỉ
kể từ đây.

Kumardevi
và Chandragupta I trên đồng tiền vàng do vua con là Samudragupta
cho đúc. Mặt trái là Nữ thần Ambika (Durga).
Khi
vua Samudra Gupta (335-375) kế vị thì đến năm 360 kinh đô được
dời về thành Hoa thị (Pataliputra), tức Patna bây giờ. Sử
liệu về ông đã được bia ký ở Allahabad do Harisena ghi và
trong ký sự của Đại sư Huyền Trang. Dưới triều này lãnh
thổ lại còn được mở rộng thêm từ lưu vực sông Hằng
đến tây, trung và đông Ấn cùng các hải đảo sau khi thâu
tóm hơn 20 tiểu quốc khác. Nhiều tiểu vương lân bang phải
triều cống để được bảo hộ, xa mãi đến tận Tích Lan
(Sinhala hay Sri Lanka). Sau khi toàn trị vua Samudragupta làm lễ
tế ngựa chiến Ashwamedha Yagna, một phong tục hiếm thấy,
và cho đúc tiền vàng lưu hành trên đó khắc lại những chiến
cụ và nhạc cụ đã từng xữ dụng trong triều. Việc đúc
tiền vàng, triều Samudra Gupta đã mô phỏng theo kiểu cách
của đế quốc Kushan trước đó. Thời đại Kushan đã đúc
chuẩn mực tiền vàng 8 gram gọi là dinara, bắt nguồn từ
tiền vàng La-mã Denarius Aurius.


Vua Samudragupta
đang gãy huyền cầm. Mặt trái: Nữ thần Thịnh vượng Shri-Laxmi.
Dưới
triều ông, Bà-la-môn giáo (BLM) chiếm ưu thế vì ông thờ
thần Vishnu (Vaishnava). Vì vậy các thánh tích PG, ngoại trừ
Nalanda và Sanchi, theo Đại sư Pháp Hiển thì Bồ đề đạo
tràng (Bodhgaya), Ca tỳ la vệ (Kapilavastu) và Câu-thi-na (Kusinagara)
còn bị hoang phế. Vào giữa thế kỷ thứ IV, nhiều tăng sĩ
từ xa đến chiêm bái Bồ đề đạo tràng không có nơi tá
túc; vua xứ Tích Lan là Sri-Meghavarman đã cho sứ thần mang
phẩm vật đến dâng tặng vua Samudra Gupta để xin được xây
dựng một ngôi chùa tại Bồ-đề Đạo tràng (‘Bodh-Gayà”)
và đã được tán thành.
Vua
Rama
Gupta (375-380) tại vị chẳng được bao lâu. Truyền
sử ‘Devichandraguptam’ kể rằng trong cuộc viễn chinh đánh
xứ Malwa nhà vua bị bại trận và bị vua Saka Satrap (hậu duệ
của dân Scythian) bắt sống. Để được thả về nhà
vua đồng ý sẽ đem trao hoàng hậu Dhruvadevi cho Saka Satrap.
Điều này làm người em trai tức giận xin giả trang làm hoàng
hậu để đến khi vào được doanh trại địch quân liền
giết chết Saka Satrap, sáp nhập Malwa và còn giữ được thanh
danh của Gupta. Do đó ông hoàng đệ được vinh danh là Shakari
hay Sahasanka (Kẻ giết được Shakas). Dĩ nhiên dân chúng ủng
hộ và hoàng hậu cảm kích nên vua Rama Gupta bị phế bỏ,
nhường ngôi cho em.
Dựa
theo các bia đá ở Mathura và Bilsad, người ta biết được
khá nhiều chi tiết về vua Chandra Gupta II (380-414). Sau
khi lên ngôi, ông đã diệt các tiểu vương Gujarat, Saurashtra
và vùng Bengal để mở mang thêm bờ cõi. Ông còn liên minh
với xứ Naga qua hôn nhân với công chúa Kubernaga; và với dòng
xứ Vakataka (đồng bằng Deccan) bằng cách gã con gái là Prabhavati
Gupta cho vua Rudrasena II vào năm 390. Chính công chúa Prabhavati
Gupta này đã cho ghi lại bia ký bằng đồng ở Poona kể ở
trên về gia phả dòng họ mình. Chiến thắng quân sự vĩ đại
nhất của ông là đã chiếm được xứ Saurashtra (nay là Maharashtra)
cạnh biển Ả-rập, mở rộng thương mãi hàng hải qua phía
tây Ấn.
Ông
được tôn vinh là Thái Dương Anh Hùng (Vikramaditya: Sun of Valour),
vì ông là vị vua nỗi bậc nhất của thời đại Gupta, nhưng
ông lại còn được ca tụng về những thành tựu văn chương,
học thuật hơn là quân sự, bởi dưới triều ông, mọi ngành
văn chương học thuật, nhất là đạo học cả Veda và Phât
pháp, y học, thú-y học, toán học và thiên văn học của Ấn
có một bước nhảy vọt xán lạn mà sử sách về sau tán
dương là thời đại phục hưng của văn học Ấn. Triều ông
còn được rực rỡ thêm bởi có sự trợ giúp của nhóm văn
hào 9 người danh tiếng (navaratna); trong số đó có Kalidasa
bất tử của nền văn học Ấn. Ngoài vương hiệu Vikramaditya,
triều đại của ông còn được gọi thêm là Narendrachandra,
Simhachandra, Narendra Simha, Vikrama Devaraja, Devagupta and Devasri.
Dưới
triều đại này có Đại sư Pháp Hiển (Fa-Hsien) từ Trung quốc
đã đến chiêm bái các Phật tích và đã thăm viếng khắp
đế quốc Gupta dưới triều vua Chandra Gupta II từ 401 (có sách
ghi là 399) đến 410, và ghi lại nhiều ký sự trong bộ ‘Phật
Quốc Ký’.
Vua
kế là Kumara Gupta I (414-455) còn có nhiều vương hiệu
khác là Sri Mahendra, Ajita Mahendra, Sima Mahendra, Asvamedha Mahendra,
Mahendra Karma, Mahendra Kalpa, Sri Mahendra Simha, Mahendra Kumar, Mahendra
Aditya vv. Ông kế thừa một đế quốc rộng lớn, và có công
giữ cho nó được toàn vẹn. Dưới triều ông xã hội Ấn
vẫn còn ở hồi cực thịnh phồn vinh; sự bao dung tôn giáo
có phần rộng rãi hơn. Triều ông còn lưu lại đến nay 14
loại tiền vàng đặc trưng, và về sau có cả tiền bạc miêu
tả ông vừa là mãnh tướng, vừa là nhạc sĩ vv... Ông còn
vang danh nổi bậc là vị vua cho xây dựng Viện Phật Học
nổi tiếng thế giới Nalanda một cách bề thế vĩ đại. Ông
có hai người con trai là Skandagupta (con với hoàng hậu Devaki)
và Purugupta (con với hoàng hậu Ananthadevi). Vào cuối triều
ông có quân Pushyamitra nổi loạn ở thung lũng Narmada đe dọa
triều đình.

Tiền
vàng triều Kumara Gupta I (414-455) với hình nhà vua đang hạ
hổ. Mặt trái hình nữ thần Nimbate, tượng trưng cho sông
Hằng.
Đến
thời vua Skanda Gupta (455-467), theo bia ký Bilsad và Bhitari,
được xem là vị vua cuối của thời đại Gupta huy hoàng,
vì tuy ông đánh bại được quân Pushyamitra, nhưng rợ Hung
(Hephthalites – mà sử Ấn gọi là Huna) từ vùng tây bắc liên
tục tràn xuống uy hiếp đến cả Hoa thị thành. Theo bia ký
Kahaum thì ông đã diệt được hàng trăm tiểu vương (?) kể
cả rợ Hung bị ông đánh bại ở thung lũng Aryavarta năm 467.
Ông cũng rất bao dung với đa tôn gíao. Khi ông mất thì đế
quốc Gupta đã bắt đầu suy yếu.
Skanda
Gupta (455-467)
Vua
Pura
Gupta (467-472) thay anh lên ngôi thì đã già nên trị vì chỉ
có 5 năm thì mất. Con trai của ông với hoàng hậu Shri Vinayadevi
lên thay.
Đến
triều vua Narasimha Gupta (472-476) thì thời đại Gupta đã
bắt đầu suy yếu. Có lúc Ấn lại còn phải cống lễ vật
cho vua Hung nô để cầu hòa. Nhưng khi nghe tin vua Hung nô Mihirakula,
đóng đô ở Malwa mạn tây bắc, ra lệnh sát hại tăng sĩ
PG, hũy diệt tăng viện, đốt bỏ kinh sách ở vùng Ngũ Hà,
vua Narasimha Gupta liền đóng cửa biên giới và không hiến
cống nữa. Mihirakula tức giận kéo quân tấn công kinh đô
Hoa thị Thành của Magadha và truy đuổi Narasimha đến tận
vịnh Bengal. Trên đường hành quân Mihirakula đã trút giận
lên các tăng tín đồ PG, dã man tàn sát những người không
trốn thoát được và đã huỹ diệt PHV Nalanda lần đầu tiên.
[Heras, A Note on the Excavations at Nalanda and its History, J.B.B.R.A.S.,
II, N. S., p. 215-216.] Nhưng sau đó quân của Narasimha Gupta
đã phản công và đánh bại được Mihirakula và đuổi rợ
Hung nô về tận vùng Shakala (Sialkot, Kashmir ngày nay).
Sự
xâm lăng của Hung nô đã nhanh chóng đưa triều đại Gupta
đến chỗ sụp đổ vì đã kéo theo sự xâm nhập ồ ạt của
dân các bộ lạc biên cương từ Trung Á, cộng thêm kinh tế
Ấn bị suy thóai trầm trọng do mất quyền kiểm sóat đường
tơ lụa, con đường thương mãi huyết mạch. Điều đáng lưu
ý ở đây là hậu duệ của dân Hung nô vốn chạy thoát được
về mạn Kashmir đã dần thích ứng với xã hội và nền văn
hóa mới để sau này biến dạng thành giống Rajputs.
Vua
kế vị là Kumara Gupta-II (476-477) không lưu lại được
thành tích gì. Thời gian trị vì của ba triều sau này quá
ngắn tổng cộng chỉ khoảng 10 năm nên sử liệu hiếm hoi.
Và từ đấy việc truyền thừa các ngôi vua cũng không được
ghi lại rõ ràng. Xứ Magadha cứ suy yếu dần và nội loạn
cứ xảy ra mãi. Theo bia ký Apshad ở Adityasena thì vua vua Kumara
Gupta II, rồi vua Damodara Gupta đã đánh bại được kẻ phản
loạn Isanavarman – một dũng tướng đã từng có công đánh
đuổi quân Andhra, Sulika, Gauda và rợ Hung, đã được vinh danh
trên bia ký Haraha. Về sau vua Mahasena Gupta lại còn dẹp được
quân phiến loạn Susthivarman.
Người
ta được biết thêm tên 14 vị vua nối tiếp nhau trong vòng
hơn nửa thế kỷ là Budha Gupta (477-495), Tathagata Gupta, Krishna
Gupta, Harsha Gupta, Jivita Gupta-I, Kumara Gupta-III, Damodara Gupta,
Mahasena Gupta, Madhava Gupta and Deva Gupta-II, Adityasena, Deva Gupta-III,
Jiva Gupta-III. Các triều này cũng chẳng lưu lại công trạng
gì vẻ vang cả cho đến vị vua cuối là Vishnu Gupta thì thời
đại Gupta chấm dứt khoảng 550.
Sau
khi thời đại Gupta suy sụp thì các thế lực nội bộ tranh
nhau ngôi bá vương trong một thời gian khá dài. Trong đó đáng
kể là Valabhi, Gujarata, Nandipuri, Maukhari của xứ Magadha, tiểu
vương hậu Guptas ở Malwa cạnh Magadha, các xứ Bengal, Nepal,
và Kamarupa trong thung lũng Assam.
Đến
đầu thế kỷ thứ 7, các thế lực đối kháng rốt lại gom
vào trong tay của hai dòng họ đáng kể là Shashanka vua của
xứ Gauda (Hạ Bengal) sau khi chiếm được xứ Orissa liền sáp
nhập phần lớn lãnh thổ trong thung lũng sông Hằng; và dòng
họ Puspabhukti ở vùng bắc Delhi đang hùng mạnh; mãi đến
thời vua Harsavardhana mới thống trị được thiên hạ.
B.
Di sản của thời đại Gupta:
Ngày
nay người ta biết nhiều về thời đại này dựa vào đồng
tiền cỗ, bia ký, đền đâi, và các tác phẩm cổ văn Sanskrit.
Tuy lãnh thổ của Ấn dưới triều đại này không rộng lớn
bằng vào thời Maurya và dòng Gupta kéo dài được 200 năm,
nhưng nói chung đã được các nhà sử học xem là thời đại
cổ điển hòang kim của nước Ấn. Các ngành văn học, nghệ
thuật, y học, thiên văn, toán học, kiến trúc, đạo học
và triết học của Ấn khởi sắc; kinh tế sung mãn nên các
đô thị được phát triển và giàu có.
Tượng
Đức Phật vào thời Gupta, TK thứ 5.
Tương
tự nhiều thời đại trước, các tiên vương thì theo đạo
BLM giáo nhưng đến các triều sau thì sùng bái và hổ trợ
PG. Vua Kumara Gupta I đã cho xây dựng và bảo hộ cho PHV Nalanda.
Rồi về sau vua Narasimha Gupta đã nhường ngôi cho con mà vào
Nalanda làm tăng sĩ. BLM giáo và PG hình như có sự pha trộn
dưới thời này. Dù vậy, xã hội Ấn dưới thời Gupta ban
đầu vẫn còn nặng về với nề nếp trật tự theo đẳng
cấp phân biệt của Bà-la-môn giáo.
Dưới
thời Gupta văn chương Sanskrit đạt đến cao điểm; văn học
PG thường được viết bằng Pali trước đây đều được
dịch ra Sanskrit; hai mươi tám hang động của các tăng sĩ ở
Ajanta với những bích họa tuyệt tác đầy sáng tạo linh động
cũng được tạo ra. Ajanta nằm ở phía tây Maharashtra, một
phần của vương quốc Vakataka đồng minh với Gupta. Nghệ thuật
và văn học PG cũng đạt đến tuyệt đỉnh dưới thời này
qua những lò mỹ nghệ danh tiếng Mathura và Sarnath, và từ
đó lan tràn sang các hãi đảo ĐNA và Miến-điện, Xiêm-la,
Thủy chân lạp, Lào và Lâm Ấp. Kiến trúc đền đài, điêu
khắc và luyện kim đạt đến một nghệ thuật rất cao. Trụ
sắt ở Meharulli, Delhi – mà nhiều học giả cho là do vua Chandra
Gupta II cho dựng lên - dù đến nay đã hơn 16 thế kỷ vẫn
còn đứng trơ trơ không rĩ sét. Thế nhưng đến nay những
đền đài xây dựng vào thời này như Vaishnavite Tigawa ở Jabalpur
vào năm 415, ngôi khác ở Deogarhnear Jhansi xây năm 510, và Bhita
ở bang Uttar Pradesh hầu hết đều hoang tàn đổ nát.
Nhiều
văn hào, thi gia, luận gia đạo sĩ trứ danh như Harishena, Vasubandhu
(Thế Thân), Asangha (Vô Trứ), Kalidasa, Dandi, Visakhadatta, Shudraka,
và Bharavi cũng xuất hiện vào thời này. Những kinh sớ (shastras),
truyền thuyết luận (puranas) tôn giáo nổi tiếng cũng đều
được sáng tác, kể cả cuốn kinh về nghệ thuật yêu đương
nổi danh ‘Kama Sutra’. Nhà thơ Sanskrit vĩ đại Kalidasa của
Ấn với hai tác phẩm Meghdoot và Kumarsanhita cũng đã phục
vụ dưới triều Chandra Gupta II.
Riêng
về toán học, Varahamihira đã đưa ra khái niệm về số lẽ,
vô cực trong khảo luận ‘Bhrihatasamhita’. Đồng thời biểu
hiện của con số từ 1 đến số 9, và số ‘không’ (zero:
lấy từ dấu hiệu vòng tròn ‘0’ viên mãn tượng trưng
cho pháp không của PG) đã được phát kiến vào thời này,
mà về sau người Á-rập truyền qua phương tây đã dần thay
thế hệ thống số của La-mã.
Các
nhà thiên văn Aryabhatta đã khám phá ra số pi và đã chứng
minh được quả đất có hình tròn vào năm 499. Họ cũng đã
tính được lịch theo mặt trời có 365.358 ngày và sự chuyển
dịch của các hành tinh một cách tương đối chính xác.
IV)
TRIỀU ĐẠI HARSHAVARDHANA (606-647)
A.
Sự Thịnh Suy:
Triều
đại Harshavardhana hay gọi tắt là Harsha – cùng khỏang thời
gian giữa cuối triều Tùy và đầu triều Đường bên Trung
quốc - được xem như triều đại vững chắc sau các triều
Gupta. Thời ông đã được biết đến nhiều nhờ đại sư
Huyền Trang (Hiuen Tsang) ghi lại trong bộ ‘Tây vực ký’ khi
ngài sang Tây trúc thỉnh kinh từ 629 – 645; nhờ từ các công
văn của Trung quốc; từ các đồng tiền cổ và bia ký; từ
các bài viết của các danh nhân đương thời và nhất là nhờ
tác phẩm Harshacharita (Những thành tích của vua Harsa) do thi
hào trong triều tên là Banabhatta đã ghi chép lại nhiều chi
tiết bằng tiếng Sanskrit kể cả phần thiếu thời của nhà
vua. Harshacharita là cuốn sách đầu tiên viết về danh nhân
lịch sử Ấn. Ông còn là tác giả của cuốn Kadambini được
xem như một viên ngọc quí của nền văn học Sanskrit.
Như
đã nói ở trên, sau thời kỳ nhiểu nhương hậu Gupta đến
đầu thế kỷ thứ 7, dòng họ Pushabhukti trở nên một thế
lực lớn mạnh ở Ấn với vua Prabhakaravardhana cai trị xứ
Thaneshwar. Con gái của Prabhakaravardhana tên là Rajyasri và cũng
là chị của Harshavardhana được gã cho vua Grahavarman của xứ
Maukhari có kinh đô ở Kannauj. Lúc bấy giờ PG vẫn còn thịnh
hành trong vùng, và tín đồ BLM giáo và Kỳ na giáo thường
vẫn chung sống hòa hợp. Tuy vậy trong chương 7 của cuốn
Harshacharita của Banabhatta đã cho thấy luôn có sự tranh chấp
âm ĩ giữa các giới tăng lữ của BLM và PG. Banabhatta
viết “không có một Parasari (nhà sư áo vàng) nào ưa thích
tăng sĩ Bà-la-môn, nhưng các tăng của 17 phái khác nhau đều
sống dung hòa.” [Agrawala 1969: 225].
Sau
khi vua Prabhakaravardhana mất năm 605; vua Deva Gupta xứ Malwa (có
lẽ là hậu duệ xa của thời Gupta cũ) tấn công và giết
chết vua Grahavarman và hạ ngục hòang hậu Rajyasri. Vua Rajyavardhan,
là anh cả của Rajyasri và Harshavardhana liền kéo quân tấn
công Malwa để trả thù và đánh bại được Deva Gupta. Bấy
giờ vua Shashanka của xứ Gauda, vốn đã âm mưu liên minh cùng
Deva Gupta, đến gặp Rajyavardhan giả làm trung gian giảng hoà
và thừa cơ hạ sát Rajyavardhan rồi chiếm đóng Kannauj.
Shashanka
là tín đồ BLM giáo – Śaivites - rất thịnh hành ở phía
nam Ấn. Khi Shashanka chiếm thành Kannauj thì dân chúng Phật
tử không ủng hộ và còn chống đối nên Shashanka đã ra tay
đàn áp và tàn sát rất nhiều tín đồ PG [Sharma 1970: 245].
Vì thế khi Harshavardhana cất quân tái chiếm, quần chúng Phật
tử trong kinh đô đã đồng nổi dậy tiếp tay ủng hộ nên
chiến dịch chóng thành công, và Harshavardhana đã dánh đuổi
Shashanka về cố thủ một vùng nhỏ ở Orissa dọc bờ biển
vịnh Bengal. Trên đường tháo chạy quân của Shashanka còn
đốt phá PHV Nalanda.
Điều
này đã được Huyền Trang ghi lại trong cuốn ‘Tây Vực Ký’;
và cuốn biên niên sử PG, The Arya Manju Sri Mulakalpa, cũng mô
tả Shashanka là một ông vua tàn ác. Theo truyền thuyết thì
vua Shashanka đã cưỡng đoạt một điện thờ Phật ở Bồ
Đề Đạo Tràng Bodhgaya) rồi cho dựng một Shivalinga thay thế.
Thực tế về sau cho thấy chuyện ấy không hề xảy ra; vì
vào năm 1234 có vị sư Tây tạng tên là Dharmaswamin đến viếng
thánh địa đã khám phá ra rằng tượng Phật đã được xây
tường che kín để khỏi bị quân đạo Hồi xâm lăng phá
hũy. Tuy vậy người Hồi tiếp tục đàn áp PG và nương tay
với BLM giáo nên PG bị tàn lụi và ngôi đền bị hoang phế
cho mãi đến năm 1590, quan cai trị địa phương lại giao quyền
quản trị ngôi đền cho người Shaivite Mahant. Nhưng gần đây
ngôi đền đã được chuyển lại cho PG và đã được trông
coi bởi một ủy ban BLM và PG.
Cũng
theo truyền thuyết thì Shashanka đã hũy diệt các thánh tích,
quẳng cả tảng đá có in dấu chân Đức Phật xuống sông,
hoặc đốn ngã cây Bồ đề cổ thụ ở Bồ đề Đạo tràng.
Nhưng rồi nhờ có phép lạ nên tảng đá trở về chỗ cũ
và một cây bồ đề to lớn khác được mọc ra từ nhựa
cây cũ đã bị đốn. [Theo ‘Tây Vực Ký’ - Elst 1992]. Nhưng
có lẽ các chuyện ấy chẳng hề xảy ra. Tảng đá có dấu
chân Phật này vốn đã được Đại sư Pháp Hiển nhắc đến
khi ngài ghé qua Ô trường (Udỳnana), bắc bộ Thiên trúc. Ngài
viết trong ‘Phật Quốc Ký’: “Phật để dấu chân lại
ở đây, và dấu chân ấy thấy dài hay ngắn là tùy tâm niệm
của người nhìn. Dấu chân ấy hiện nay vẫn còn như vậy.
Lại có viên đá Phật phơi y, có chỗ Phật hóa độ rồng
dữ, tất cả hiện nay vẫn còn. Viên đá Phật phơi y thì
cao 1 trượng 4 thước, rộng chừng 2 trượng, một bên bằng
phẳng.”
Tiền
có hình HĐ Harshavardhana
Sau
khi thắng trận, Harshavardhana liền thay anh lên làm vua vừa
lúc 16 tuổi, rồi dời kinh đô từ Thaneshwar đến Kannauj và
từ đó đã bành trướng đất đai tòan vùng bắc Ấn. Năm
612, ông đã cai trị một vùng rộng lớn bao gồm Punjab, miền
đông xứ Rajasthan, thung lũng Hằng Hà, một phần Bihar và Bengal
cho đến xứ Assam; ngoại trừ vùng tây và nam Ấn.
Năm
620 Harshavardhana đem quân xâm lấn các xứ ở phía nam Ấn nhưng
bị vua Pulakesin II của xứ Chalukya phía bắc Mysore ngăn chận;
và ông cũng không thâu tóm được các xứ Valabhl, Nandipurl,
Kashmir, Gujarat và Sind ở phía tây, như dưới thời Gupta. Riêng
ở phía đông thì từ khi đối thủ là vua Shashanka mất vào
năm 636 thì không còn một sự chống cự nào đáng kể.
Hoàng
đế Harshavardhana là một nhà lãnh đạo có tài ngọai giao
giỏi nổi danh khắp vùng. Vua Bhaskravarman của xứ Kamarupa (Assam)
tuy theo đạo Bà-la-môn nhưng đã liên minh chặt chẻ với ông
đánh đuổi được Shashanka và còn giúp cho sự chinh phục
thiên hạ thêm thuận lợi. Harshavardhana cũng đã duy trì mối
quan hệ mật thiết với nhà Đường ở Trung quốc, và vua
Đường Thái Tôn cũng đã gởi nhiều đoàn sứ giả đến
thăm vua Harsa.
Vua
Harshavardhana rất cần mẫn trong việc cai trị vương quốc
rộng lớn ở bắc Ấn. Ông đích thân quán xuyến việc nước
và đốc thúc các quan cai trị dưới triều. Ông đặt các
tiểu vương thuộc hòang gia cai trị các xứ nhỏ. Sử Ấn
ghi nhận về ông như một minh quân, có tài quân sự như Samudra
Gupta và chính trị cùng đạo đức như Ashoka. Ông còn là một
thi sĩ và nhà uyên bác. Ông còn được nhắc đến như là
tác giả của ba bộ kịch thơ viết bằng tiếng Sanskrit là
Ratnavall, Priyadarshika, và Nagananda, mà cuốn sau chứa đựng
nhiều tư tưởng PG.
Vua
Harshavardhana rất sùng kính PG, đồng thời bao dung với các
tôn giáo khác. Sự thực hành tín ngưỡng của tín đồ PG
và BLM giáo vẫn tiếp tục pha trộn lẫn nhau trong việc thờ
cúng đa thần như dưới thời Gupta. Vua Harshavardhana cũng thường
mở đại thí đàn như các vua cuối của thời Gupta (mà theo
bản dịch từ Hán ngữ của HT Trí Quang theo cuốn ‘Cao tăng
Pháp Hiển’ thì gọi là ‘ban giá việt’). Nhà vua mở đại
hội mỗi 5 năm ở Prayag để ông bố thí tài vật cho dân
chúng và cầu nguyện thần linh của các tôn giáo. “Khi
mở đại hội thì mời chư tăng mọi nơi cùng đến vân tập.
Vân tập rồi chỗ ngồi chư tăng được trần thiết, treo
lụa, treo cờ và cắm lọng. Lại làm hoa sen bằng vàng bằng
bạc đặt sau chỗ ngồi chư tăng, trải lên trên chỗ ngồi
ấy những tấm tọa cụ sạch sẽ. Quốc vương cúng dường
đúng phép trong 1 tháng, 2 tháng hay 3 tháng, và phần nhiều
cử hành vào mùa xuân. Cúng dường rồi, quốc vương lại
khuyến khích quần thần cúng dường trong 1 ngày 2 ngày cho
đến 7 ngày. Sau đó quốc vương đem ngựa của mình cho trọng
thần cưỡi, lại đem lụa trắng, mọi thứ quí giá, và những
vật dụng cần dùng của chư tăng, cùng quần thần phát nguyện
cúng dường chư tăng, rồi xin chư tăng mà chuộc lại những
thứ quí giá.”
Dưới
triều Harshavardhana, Kannauj trở nên một trung tâm đạo học
quan trọng và đã được xây dựng to lớn và phồn thịnh
ngang tầm cở với Hoa thị thành (Patilaputra) của thời Gupta
và Ashoka.
Cảnh
HĐ Harshavardhana cung nghinh Đại sư Huyền Trang
Năm
643 để đón tiếp đại sư Huyền Trang đến hành hương thỉnh
kinh Phật từ Trung quốc, vua Harshavardhana đã tổ chức một
cuộc đại hội liên tôn rất trang trọng kéo dài khỏang hai
tháng gồm các cao tăng của BLM giáo, PG và Kỳ na giáo và sự
có mặt của các tiểu vương khác như vua Bhaskaravarman của
xứ Kamrupa (Assam) và vua Dhuvabhatti xứ Vallabhi để nghe đại
sư Huyền Trang thuyết pháp và để cùng nhau trao đổi đạo
học.
Sau
Kannauj, Huyền Trang còn được đưa đến bờ sông Hằng (Ganga),
Yamuna và Saraswati để tiếp tục hoằng pháp. Sau nhiều lần
tiếp xúc với Huyền Trang, vua Harshavardhana rất tín ngưỡng
đại thừa. Vào thời gian Huyền Trang được vua Harshavardhana
tiếp đón trọng vọng thì khối tăng lữ BLM giáo không mấy
hài lòng, và đã âm mưu hạ bệ Harshavardhana. Khi cơ mưu bị
bại lộ, vua Harshavardhana đã đầy 500 người BLM ra biên cương.
Đầu
năm 644, Huyền Trang vượt ông Indus để trở về Trung quốc
sau 10 năm lưu lạI ở Ấn. Ba năm sau thì vua Harshavardhana bị
giết và thêm một đoạn sử rực rỡ của Ấn Độ kết thúc.
Ông
mất năm 647, thọ được 57 tuổi. Sau khi ông mất, lại không
có người kế vị nên vương quốc bắc Ấn lại rơi vào hổn
lọan nhiểu nhương vì nội bộ tranh dành quyền lực. Vua Narasinghavarman,
một tiểu vương của xứ Kanchi trở nên hùng mạnh, và vua
Bhaskravarman của xứ Kamarupa (Assam) thâu tóm đất đai xưa vốn
thuộc vua Harshavardhana.
Mặt
khác khối tăng lữ BLM khi thấy đế quốc của Harshavardhana
bị tan rã liền cấu kết với dân Rajputs ở biên cương xâm
lăng Ấn để “tái lập vai trò chính trị tối cao ở Aryavrata
sau khi nhà vua mất” như Havel đã viết. [E.B.Havell, History
of Aryan Rule in India, p. 217, Quoted by Swami Dharma Teertha, p. 118].
Theo truyền thuyết (Puranas) thì dân Rajputs vốn là hậu
duệ của Hung nô lại được BLM thu phục biến chúng thành
giai cấp Kshatriya, tức giai cấp vương tướng để phục vụ
cho quyền lợi của họ và cả hai phía cùng hưỡng lợi.
Nhưng
đến năm 724 tức khỏang đầu thế kỷ thứ 8 thì quân Hồi
(Turkic Muslim) đã chiếm được đất Sind, vùng viễn tây đất
Ấn, và trở thành mối đe dọa về sau cho sự an nguy của
Ấn. Nhiều bia ký của các tiểu vương ở phía tây đã ghi
lại những cuộc chống các làn sóng xâm lăng của “dân mleccha”,
có nơi khác ghi “dân yavana” (chỉ dân Ả rập). Từ sau triều
đại của Harshavardhana không còn có triều nào của Ấn oai
hùng cả nên đến năm 1193, quân Hồi dưới sự lãnh đạo
của Bakhtiyar Khalji đã xâm lăng thành công và đặt nền thống
trị trên đất Ấn.
V)
PHẬT HỌC VIỆN NALANDA:
A)
Lịch sử:
Nalanda
nằm khoảng 90 km hướng đông nam của Hoa thị thành (Pataliputra),
62 km về hướng đông bắc của Bồ-đề Đạo tràng (Bodh-Gaya),
có diện tích ước khoảng 166 bộ hướng bắc-nam và 800 bộ
hướng đông tây; thuộc bang Bihar ngày nay (mà xưa kia có tên
là Magadha – Ma-kiệt-đà). Nguyên ngữ của Bihar là từ Vihara
(xứ chùa); và Nalanda có nghĩa là nơi trao truyền chánh pháp
(nalam: hoa sen; da: ban bố. Ở Ấn hoa sen tượng trưng cho chánh
pháp).

Khi
Đức Phật còn tại thế, Ngài đã nhiều lần ghé thăm Nalanda
và thuyết pháp ở Vườn Xoài Pavarika (the Mango Grove of Pavarika).
Mahavira, giáo chủ Kỳ na giáo (Jain) cũng đã từng nghỉ ngơi
ở đây trong 14 mùa mưa.
Bấy
giờ Nalanda là một làng nhỏ, nơi sinh trưởng và cũng là
nơi từ trần của Ngài Xá Lợi Phất (Sariputra). Hoàng đế
Ashoka cũng đã đến chiêm bái và cho xây tháp thờ xá lợi
của Ngài Xá Lợi Phất và một tăng-già-lam (sangharama) đầu
tiên ở đây. Chính ngôi đại tháp này về sau trở thành cấu
trúc trung tâm biểu tượng của Phật Học Viện (PHV) Nalanda.
Nhiều đại luận sư nổi danh của PG cũng từng xuất thân
ở PHV này như Nagarjuna (Long Thọ), tương truyền ngài ra đời
vào năm 150, và đã được làm sa-di lúc 7 tuổi ở Nalanda;
Dinnaga (Trần Na – còn gọi là Đồng Thụ hay Vực Long), tổ
của phái ‘Tân Nhân Minh’, tác giả bộ ‘Nhân Minh Chánh
Lý Môn Luận’ (Nyayamukha): ngưỡng cửa của luận lý vv…
Nhưng
Nalanda đã được xây dựng qui mô to lớn và trở thành một
trung tâm cao học nổi danh trong bao nhiêu thế kỷ lại nhờ
vào tín tâm PG và sự bảo trợ dồi dào của những triều
cuối của thời đại Gupta.
Qua
cuốn ‘Tây
vực ký’, đại sư Huyền Trang viết: “Một cựu
vương tên Sakraditya, tôn kính Nhất thừa và tam bảo đã chọn
mảnh đất phước lành (lucky spot) để dựng nên tăng-già-lam
này”. [xem Cf. Edgerton, Vikrama's Adventures, 1, p. LXVI.] Ngài
còn kể lại tên 3 vị vua nổi danh khác đã liên tiếp bảo
trợ PHV Nalanda dưới các truy hiệu thánh hóa là: 1) Buddhagupta-raja.
2) Tathagatagupta-raja. 3) Baladitya-raja đã làm nhiều học giả
về sau không thể đối chiếu được với lịch sử.
Nhiều
tác giả đã dựa vào chi tiết mơ hồ này khi viết về vị
vua đặt viên đá xây dựng Nalanda. Đơn cữ là khi tra cứu
“Na-lan-đà” trong cuốn Từ Điển Phật Học của Chân Nguyên
và Nguyễn Tường Bách ấn hành năm 1999 tại Huế, ta thấy
ghi: “Viện Phật Học danh tiếng của Ấn Độ, được
vua Thước-ca-la Đạt-đa (s. Sascraditya) thành lập trong thế
kỷ thứ hai, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà.” Có
lẽ các tác giả này đã tham chiếu cuốn “The Encyclopedia
of Eastern Philosophy and Religion” do nhà xuất bản uy tín Shambhala,
Boston ấn hành năm 1994; bởi cũng có một đoạn viết như
thế.
Nhưng
trong một tư liệu khảo cứu tĩ mĩ của tăng học giả H.
Heras với tựa đề “The Royal Patrons of the University of Nalanda”
được đăng trong Journal of the Bihar and Orissa Research Society,
PART I. Vol. XIV 1928 pp. 1-23 vào năm 1928 đã rọi sáng nhiều
phát hiện mới. Ông đã cùng với Giáo sư Samaddar phân tích
các truy hiệu của các vị vua trên đồng tiền cổ và dẫn
đến một kết luận rành mạch đó là danh vị của các vị
vua cuối của triều Gupta là: vua Kumara Gupta I, ngoài truy hiệu
Sakraditya còn có truy hiệu khác là Mahendraditya. [Sakra hoặc
Mahendra là thánh hiệu của thần Indra – xem Allan, Gupta Coins,
p. LV Cf. và Heras, The Final Defeat of Mihirakuka, I.H.Q., III, p.12].
Vua Skanda Gupta (tức Buddhagupta-raja); vua Pura Gupta (tức Tathagatagupta-raja),
và vua Narasimha Gupta (tức Baladitya-raja).
Như
thế vua Sakraditya chính là vua Kumara Gupta I (415-455), con của
Chandra Gupta II ở đầu thế kỷ thứ 5, chứ chẳng phải một
vị vua nào ở thế kỷ thứ 2 cả.
Nơi
“đất lành” mà Huyền Trang ghi chính là ngôi tháp thiêng
liêng đồ sộ ngay giữa khuôn viên rộng lớn của PHV – tháp
thờ xá lợi của Bồ tát Sariputra đã nói ở trên. Ông còn
cho dựng bia ký kỷ niệm ngày đại sư Buddhamitra an vị tượng
Phật. [Fleet, o.c., p.47. Hwui Li, Life of Hiuen Tsiang, p.109]. Và
cứ thế các vua về sau lại tiếp tục cho xây dựng các tòa
tăng-già-lam khác bành trướng thêm.
Cũng
qua cuộc nghiên cứu của H. Heras, thì PHV Nalanda đã được
khởi công vào năm 427 do lệnh của vua Kumara Gupta I. Điều
này hợp lý vì xã hội Ấn dưới triều Kumara Gupta I vẫn
còn là thời thịnh trị yên hòa, đất nước giàu mạnh nên
nhà vua chú tâm nhiều đến học thuật tư tưởng, đã bảo
trợ và quy tụ được rất nhiều thức giả trứ danh đương
thời. Điều đáng lưu ý là vua cha Chandra Gupta II thì rất
sùng BLM giáo, nhưng đến triều con Kumara Gupta I thì lại bao
dung và hổ trợ cho PG và Kỳ-na giáo.
PHV
Nalanda thời bấy giờ là một trung tâm học thuật cao cấp
danh tiếng quốc tế, qui tụ rất nhiều đại tư tưởng gia
không chỉ về Phật pháp mà còn thâm cứu về mọi ngành khác
như Vệ đà, văn học, luận lý, thiên văn, toán số, y học
vv… Các luận sư nổi danh của Trung quán tông và Duy thức
tông cũng đã từng giảng dạy ở đây. Vào thời Huyền Trang
lưu học thì Viện đã có đến hai ngàn giảng sư và khoảng
mười ngàn học viên ăn ở học tập. Viện chủ bấy giờ
là đại lão sư Silabhadra (Giới Hiền) đã truyền cho giáo
lý Pháp tướng tông (hay còn gọi là Duy thức tông hoặc Du-già
tông). Cơ sở gồm có tám tăng-già-lam và 300 căn phòng được
bao quanh bởi một vòng tường rất cao, chỉ có một cổng
vào ở phía nam. Viện có một thư viện đặt trong một tòa
nhà 9 tầng có tên Ratnabodhi chứa đầy đủ Kinh Đại thừa,
Tiểu thừa, Veda, sách thuốc, thiên văn, địa lý, toán, kỹ
thuật... mà tương truyền khi bị quân Hồi đốt phá ở thế
kỷ 12 đã cháy âm ỉ đến bảy tháng mới dứt.
Số
học viên không phải chỉ thuần tăng sĩ, mà ai muốn vào học
phải qua một cuộc sát hạch vấn khảo trình độ bởi vị
pháp sư giám môn. Chỉ có khoảng 2-3 người trong số 10 tăng
sinh qua được. Huyền Trang viết ngài “đến tăng-già-lam
Baladitya-raja và đã được lưu trú trong cư xá Buddhabhadra cao
4 tầng”. [Cf. Beal, o.c., II, p.167 Hwui Li, o. c., p. 110.]
Huyền
Trang lại viết: “Vua Buddhagupta-raja [tức vua Skanda Gupta
(455-467)] đã tiếp tục công việc của phụ vương; cho xây
thêm một tăng-già-lam khác về phía nam ngôi của vua cha đã
xây”. Điều này trùng hợp với lịch sử Ấn là vào
giai đoạn sau khi vua Skanda Gupta đánh đuổi được quân Hung
nô ở đồng bằng Aryavarta, đã cảm tạ dâng cúng cho PHV.
[Bhit inscription of Skanda Gupta, Fleet, o.c., p.55, 1.10].
Đến
đời vua Pura Gupta kế vị vua anh Skanda Gupta thì như Paramartha
(Chân-Đế: 499-569) đã viết trong cuốn ‘Cuộc đời của
Vasubandhu (Thế Thân)’, một đại luận thuyêt gia PG ở thế
kỷ thứ 5 và Thiền tổ thứ 21, đang làm viện chủ ở Nalanda;
rằng do ảnh hưởng của Tổ Thế Thân, vua Vikramaditya trở
thành hộ pháp cho PG và còn xây thêm một tăng-già-lam khác
về phía đông của ngôi mà tiên vương đã cho dựng, còn gởi
hoàng hậu và thái tử đến tu học với Ngài. Vikramaditya tức
là Pura Gupta, vì về sau người ta tìm thấy được hàng chữ
Sri-Vikramah trên đồng tiền cổ dưới triều ông; và thái
tử tức là vua Narasimha Gupta. Trong thời kỳ này Phật Giáo
và Sớ Luận đã từng có một cuộc tranh luận quy mô về
Tỳ Bà Sa Luận (vibhasa).
Đến
đời Narasimha Gupta thì thời đại Gupta đã bắt đầu suy yếu.
Có lúc vua Hung nô Mihirakula kéo quân tấn công kinh đô Hoa thị
Thành và truy đuổi Narasimha đến tận vịnh Bengal. Mihirakula
đã dã man tàn sát tăng tín đồ PG, và đã huỹ diệt PHV Nalanda
lần đầu tiên. [Heras, A Note on the Excavations at Nalanda and its
History, J.B.B.R.A.S., II, N. S., p. 215-216.]
Tuy
vậy quân của Narasimha Gupta đã đánh đuổi được Hung nô
về tận Kashmir. Sau khi chiến thắng vua Narasimha Gupta liền
cho tu bổ những tăng-già-lam đã bị hư hại, xây dựng một
tăng-già-lam mới ở phía đông bắc của học viện cũ của
cha. Trong thời Huyền Trang đến học ngôi tăng-già-lam này
vẫn còn, được gọi là đại học viện Baladitya-raja. Thêm
nữa vua Narasimha Gupta còn cho xây cất thêm một ngôi tự viện
(vihara) cao 300 bộ. Huyền Trang đã viết: “Ngôi chùa thực
đồ sộ. Kích thước của nó và pho tượng Phật bên trong
tương tự như đại điện ở Bồ đề đạo tràng.”
[Beal, o.c., p. 173-774.]
Sau
khi hoàn tất ngôi chùa vua Narasimha Gupta đã mở một đại
hội khánh thành rất trọng đại. Ông cho phép công dân mọi
tôn giáo đến tham dự. Có cả đến 10 ngàn tăng sĩ đến
từ khắp nước và cả hai tu sĩ đến từ Trung quốc. Theo
Huyền Trang thì sự hiện diện của hai tăng sĩ từ Trung quốc
đã làm đẹp lòng nhà vua và tăng thêm tín tâm PG của ông.
Về sau Narasimha Gupta đã nhường ngôi cho con để vào làm tăng
sinh trong PHV.
Một
đoạn trong du ký của Huyền Trang ghi “Người con của vua
Narasimha Gupta tên là Vajra đã lên ngôi sau khi vua cha gia nhập
tăng già.” Vajra chính là vua Kumara Gupta II, và ông
tiếp tục cho xây một tăng-già-lam mới ở phía tây của Nalanda.
[Beal, 1. c.]
Nhưng
sau triều đạị của Narasimha Gupta thì Magadha cứ suy yếu
dần và nội loạn cứ xảy ra mãi đã liên lụy đến sự
điêu tàn của PHV Nalanda không ít. Theo bia ký Apshad ở Adityasena
thì vua vua Kumara Gupta II, rồi vua Damodara Gupta đã đánh bại
được kẻ phản loạn Isanavarman – một dũng tướng đã từng
có công đánh đuổi quân Andhra, Sulika, Gauda và rợ Hung, đã
được ghi rõ trên bia ký Haraha. Về sau vua Mahasena Gupta lại
còn dẹp được quân phiến loạn Susthivarman.
Vua
Vajra cũng là vua Kumara Gupta II, là vị vua sau cùng đã được
Huyền Trang ghi lại đã từng có công trạng với PHV Nalanda.
Ngay cả các vua cuối của triều đại Gupta tranh dành lẫn
nhau cũng không được Huyền Trang nhắc đến trong du ký. Ngài
viết tíếp: “Sau đấy một vị vua của Trung Ấn.”
[Beal, o.c., II, p.170.] Rõ ràng Huyền Trang muốn đề cập đến
hoàng đế Harsavardhana ở Kannauj gần hai thế kỷ về sau, vào
thời ngài có mặt ở Ấn. Có hai đoạn Huyền Trang ca tụng
vị vua này đã có liên hệ với PHV trong du ký là vua đã công
bố sự cầu học Phật pháp và đã tổ chức một pháp hội
tuyên dương Đại thừa.
Sau
khi đánh đuổi được Shashanka, vua Harsavardhana mà Huyền Trang
tôn vinh là Siladitya-raja cho tu sữa lại toàn bộ những tăng-già-lam
bị hư hại và lại còn cho xây một ngôi chùa mới bọc đồng
và dựng một tượng Phật cao 25 mét trong chánh điện của
ngôi tăng-già-lam xây bởi vua Kumara-Gupta I. Không những nhà
vua, mà còn cả những vua chư hầu đều noi gương bảo trợ
PHV Nalanda nữa, ta có thể kể tên 6 tiểu vương quốc như
Maukhari với quốc vương Purnavarma, Gauda ở Bengal, Kamarupa ở
Assam, Nepal, Valabhi ở Saurastra và Chalukya ở Deccan [A. S.
I. E. C., 1917--8, p.44—5]. Nalanda được chu cấp lương thực
mỗi ngày, như Huệ Lý (Hwui Li) ghi lại trong cuốn “Cuộc
đời của Huyền Trang” qua sự mô tả của Huyền Trang
ở tiền bán thế kỷ thứ 7 như sau:
“Những
ngôi tháp trang trí mỹ miều và những vọng đài huyền hoặc
cao như những ngọn đồi đều gắn bó với nhau. Các vọng
đài hình như bị chìm khuất trong sương mai và những căn
phòng trên cao thì nằm trên mây. Từ các khung cửa sổ người
ta có thể thấy mây luôn thay hình đổi dạng vì gió, và bên
trên những mái hiên cao vút ta có thể quan sát được sự
nối tiếp giữa mặt trời và mặt trăng. Và xin thêm rằng
trên mặt hồ trong suốt nở đầy những hoa sen màu xanh, chen
với màu đỏ thẩm của hoa Kie-ni (Kanaka) và đều khoảng có
những cây Amra tỏa bóng mát. Ở sân ngoài là nơi chư tăng
trú ngụ gồm bốn tầng. Mỗi tầng đều có tượng rồng
và mái hiên sặc sở, những cột đá hồng ngọc được chạm
trổ và trang trí đẹp đẻ, những hành lang cầu kỳ, và mái
nhà được lợp bằng những mái ngói phản chiếu ánh nắng
thành hàng ngàn bóng càng làm quang cảnh thêm phần hoa lệ.”
Nhà
vua rất kính trọng chư tăng, và đã miễn thuế cho khoảng
100 làng lân cận để lo việc chu cấp cho tăng viện. Hai trăm
gia đình trong những làng ấy thay nhau mỗi ngày cống hiến
vài giạ gạo thường, vài trăm đấu bơ và sữa. Nhờ được
cung phụng đầy đũ như thế mà tăng sinh ở đấy khỏi lo
đến “tứ sự” (y phục, thức ăn, giường nằm và thuốc
men). Do đó mà việc mong cầu tu học của họ đạt được
đến toàn hão.
[The
richly adorned towers, and the fairy-like turrets, like pointed hill-tops,
are congregated together. The observatories seem to be lost in the vapours
of the morning, and the upper rooms tower above the clouds. From the windows
one may see how the winds and the clouds produce new forms, and above the
soaring eaves the conjunctions of the sun and moon may be observed. And
then we may add how the deep translucent ponds, bear on their surface the
blue lotus, intermingled with the Kie-ni (Kanaka) flower, of deep red colour,
and at intervals the Amra groves spread over all, their shade. All the
outside courts, in which are the priests' chambers are of four stages.
The stages have dragon projections and coloured eaves, the pearl-red pillars,
carved and ornamented, the richly adorned balustrades, and the roofs covered
with tiles that reflect the light in a thousand shades, these things add
to the beauty of the scene.
The
king of the country respects and honours the priests, and has remitted
the revenues of about 100 villages for the endowment of the convent. Two
hundred householders in these villages, day by day, contribute several
piculs of ordinary rice, several hundred catties in weight of butter and
milk. Hence the students here, being so abundantly supplied, do not require
asking for the four requisites (clothing, food, bedding and medicine).
This is the source of the perfection of their studies, to which they have
arrived.] [Hwui Li, o.c., p.111-112.]
Lịch
sinh hoạt hàng ngày ở Nalanda, theo Huyền Trang đại khái như
sau: Sáng sớm, theo tiếng gọi mọi trú sinh đều dậy rồi
tắm gội. Sau đó hành lễ tắm tượng Phật, cùng cúng dường
hương hoa và tụng kinh. Tiếp theo là hành thiền, rồi ăn sáng.
Ăn xong, tăng sinh đến giảng đường nghe thầy thuyết pháp
và cùng tham gia tranh luận về những chủ đề đã học; nhiều
khi kéo dài đến chiều tối. Buổi trưa là ngọ thực. Buổi
chiều, có nghi lễ Caitya Vandana, các tăng sinh tập hợp ở
cổng trường chính và hát những bài Thánh ca cúng dường
đức Phật trước khi về phòng tọa thiền và ngủ.
Trong
thời đại Gupta, sự tu học về mahayana (đại thừa), đặc
biệt madhyamaka (trung quán luận) được phát triển mạnh mẽ.
Kể từ 750 dưới thời đại Pala thì nghiên về Tantra (Thiền
định Kim Cang thừa) cho đến những năm cuối của Nalanda.
Ở thê kỷ thứ 8 đại sư Dharmaganj đã có công truyền bá
PG đến Tibet (Tây tạng). Từ năm 1049 đến 1057 có vị viện
chủ ở Nalanda là Naropa. Sau khi quân Hồi giáo xâm lăng Ấn
và tàn phá Nalanda vào thế kỷ thứ 12 thì truyền thống PG
đã được chuyển qua Tây tạng. Vậy mà năm 1235 có nhà chiêm
bái Tây tạng Chag Lotsawa đến viếng Nalanda còn thấy có vị
giảng sư già 90 tuổi Rahula Shribhadra đang dạy cho khoảng 70
tăng sinh.
B)
Phát họa tổng thể của PHV Nalanda:
1)
Ngôi tăng-già-lam xây bởi vua Kumara Gupta I ở mảnh đất phước
lành tại trung tâm. (Beal, o. c., p. 168.)
2)
Phía nam: ngôi tăng-già-lam xây bởi vua Skanda Gupta.
3)
Phía đông: ngôi tăng-già-lam xây bởi vua Purra Gupta.
4)
Phía đông bắc: tăng-già-lam xây bởi vua Narasimha Gupta.
5)
Phía tây: tăng-già-lam xây bởi vua Kumara Gupta II.
6)
Phía bắc: ngôi tăng-già-lam to lớn xây bởi vua Harsavardhana
(Beal, o. c., p. 170.) Trong cuốn ‘Cuộc đời Huyền
Trang’ của Huili thì lại ghi là cạnh ngôi xây bởi vua Kumara
Gupta II.
7)
Ở phía tây ngôi này thì có ngôi chùa. (Beal, o. c, p. 172.)
8)
Về phía nam khỏang 100 bước, có ngôi tháp nhỏ.
9)
Ở phía nam có bức tượng của "Quán Tự Tại Bồ Tát” (Avalokitesvara
Bodhisattva).
10)
Ở phía nam của bức tượng này có ngôi tháp thờ xá lợi
của Đức Phật.
11)
Ở phía tây bên ngòai tường của ngôi tháp, có bồn nước
và thêm một ngôi tháp khác.
12)
Ở phía đông nam khỏang 50 bước, bên trong bờ tường có
một cây cổ thụ khác thường, thân đôi và cao đến 8 hay
9 bộ.
13)
Kế đó bên phía đông có một đại tự cao 200 bộ, tương
truyền xây bởi vua Narasimha Gupta.
14)
Kế đó bên phía bắc khỏang 100 bước, có một ngôi chùa
bên trong tôn tượng "Quán Tự Tại Bồ Tát” (Avalokitesvara
Bodhisattva).
15)
Ở phía bắc của ngôi chùa này có một đại tự khác cao
300 bộ, xây bởi Baladitya-raja (Natrasimha Gupta).
16)
Ở về phía đông bắc lại có một ngôi chùa khác.
17)
Cũng về phía đông bắc có nơi “bốn vị Phật quá khứ
tọa vị”.
18)
Ở phía nam có nôi chùa đồng xây bởi vua Siladitya-raja (Harsavardhana).
19)
Về phía đong khỏang 200 bước bên ngòai bờ tường có một
tượng Phật bằng đồng cao 80 bộ. Có một mái đình 6 tầng
che bên trên do vua Purnavarma xây.
20)
Ở phía bắc từ 2 đến 3 dặm hay lí có một tự viện bằng
gạch thờ Bồ tát Đà-la (Tara).
21)
Bên trong của cổng nam có một giếng nước lớn.
22)
Tòan bộ PHV được bao quanh bởi một vòng tường cao, xây
bởi vua Harsavardhana. (Ibid. p, 179.)
23)
Cửa chính đi vào PHV nằm về phía nam.
VI)
VÀI NÉT VỀ CÁC ĐẠI SƯ NỔI DANH CHIÊM BÁI TÂY TRÚC ĐƯƠNG
THỜI
A)
Pháp Hiển (Fa-Hsien)
Thích
Pháp Hiển họ Cung, người huyện Vũ dương, tỉnh Bình dương.
làm sa di (Sramanera) từ lúc còn rất nhỏ. Ngài thường than
là vì ở Trung quốc kinh luật (Vinaya-pitaka) thiếu sót nên
đạo hạnh của chư tăng thời bấy giờ chưa được tu trì
đúng mức; vì vậy mà quyết tâm sang Tây trúc (Ấn độ) để
tìm cầu.
Năm
399, Đời Tống An đế, lúc 25 tuổi Ngài đã cùng bốn tăng
sĩ khác đi đường bộ về hướng tây vượt sa mạc và núi
tuyết, sau 6 năm, tức năm 405 mới đến được xứ Magadha
vào thời vua Chandra Gupta II (380-414). Ngài ở lại đó 3 năm
học tiếng Sanskrit rồi sưu tập và sao chép được luật tạng
của Đại-chúng-bộ, Thuyết-hữu-bộ, Tạp-a-tỳ-đàm-tâm,
kinh Phương-đẳng nê-hoàn, vân vân. Sau đó lại vượt sông
và biển xuôi nam đến được Tích Lan rồi ở lại 3 năm sao
chép luật bộ Sa-di-tắc, Trường-a-hàm, Tạp-a-hàm, Tạp-tạng,
mà ở Trung quốc chưa hề biết đến.
Năm
411, Pháp Hiển theo thuyền buôn trở về Trung quốc, bấy giờ
đoàn chiêm bái chỉ còn lại một mình ngài. Sau 3 năm đầy
gian truân với phong ba bảo táp, nhiều khi tưởng đã bỏ mình
trên biển cả, mới về được đến Thanh Châu vào năm 414,
là năm thứ 12 niên hiệu Nghĩa Hy của nhà Tấn. Trong bản
dịch cuốn ‘Cao tăng Pháp Hiển truyện’ của HT Trí Quang
có một ghi chú thú vị là sau 90 ngày bị bảo, thuyền của
Pháp Hiển lạc đến một xứ tên là Da-bà-đề, mà ghi chú
của Thái Viêm, soạn giả bộ ‘Phật học đại từ điển’
của Trung quốc cho đó là nước Ecuador, Nam Mỹ. Thái Viêm
kết luận, người phát hiện Mỹ châu đầu tiên là Pháp Hiển,
chứ không phải là Columbus sau này. Thực ra Da-bà-đề là âm
của Vajrabodi thuộc xứ Sri Vijaya – Sumatra.
Sau
đó Pháp Hiển trở về Trường An cùng thiền sư Ấn là ngài
Buddhabhadra (Phật-đà bạt-đà-la) ở chùa Đạo tràng, dịch
Ma Ha Tăng Chỉ Luật (Mahàsàmghika-vinaya) thường được
gọi tắt là “Tăng Chi Luật”, kinh Phương-đẳng nê-hoàn
(Vaipulya-sutra), luận Tạp a-tì-đàm tâm (còn gọi là Tạp A-tì-đàm
tâm luận). Nhưng phần lớn những bộ khác mang về được,
chưa dịch kịp thì bị hỏa hoạn thiêu đốt mất.
Chuyến
du hành chiêm bái của Pháp Hiển đã được ghi lại sau khi
ngài trở về Trung quốc vào thời Đông Tấn. Truyện ký lữ
hành còn gọi là ‘Pháp Hiển truyện’ mà ta hay biết đế
dưới tên khác là ‘Phật quốc ký’ hay ‘Lịch Du Thiên
Trúc Ký Truyện’. Đó là bộ sử liệu và địa dư
quý giá sớm nhất nói về những miền đất nước lạ mà
ngài đã đi qua, cùng những Phật tích và sinh hoạt ở Ấn
độ, Tích Lan vào đầu thế kỷ thứ 5. Dù vậy nhiều nhận
xét lại bị pha trộn với những huyền thoại tôn giáo do
ngài nghe được ở từng địa điểm chiêm bái qua cảm quan
của một tăng sĩ sùng tín PG, nên thiếu tính khoa học đối
với độc giả ngày nay. Thế nhưng có nhiều đoạn ngài lại
có những nhận xét rất rõ nét về tín tâm của Phật tử
của thời đại bấy giờ như: “Quốc vương các nước
Thiên trúc phía tây sa mạc đều tín ngưỡng Phật pháp, cúng
dường chư tăng. Có khi các vị ấy bỏ vương miện, cùng
thân quyến và quần thần tự tay bưng dọn đồ ăn cúng dường
chư tăng. Bưng dọn rồi, các vị ấy trải tấm lót xuống
đất, ngồi đối diện thượng tọa và chư tăng, chứ không
dám ngồi trên giường ghế.
Thời
đại của Phật, phong cách các quốc vương cúng dường thế
nào thì đến nay vẫn truyền lại thế ấy cho nhau.”
Đại
sư Pháp Hiển mất lúc 86 tuổi ở chùa Tân thuộc Kinh Châu.
B)
Huyền Trang (Hsuan-tsang, cách ghi mới Xuánzhuǎng: 600-664)
1)
Tiểu sử:
Ngài
còn được vinh danh là Tam Tạng Pháp sư, một tăng nhân vĩ
đại và là một trong bốn dịch giả lớn nhất của PG Trung
quốc. Ngài còn là người sáng lập Pháp tướng tông (Faxiang),
một dạng của Duy thức tông (yogācāra, vijñānavāda) tại
Trung Quốc.
Tượng
của Huyền Trang ở Chùa Từ Ân, Trường An (Xi'an)
Thích
Huyền Trang, tên là Trần Vỹ, sinh vào năm thứ 16 đời
Tùy Văn Đế Dương Kiên (596 TL) tại tỉnh Hà Nam trong gia đình
sùng kính Khổng học. Năm lên 13 tuổi ngài đã xuất gia và
năm 21 tuổi thọ cụ túc giới. Ngài được kinh sách mô tả
là người rất thông minh mà tánh tình nghiêm cẩn, hòa nhã,
và khiêm tốn và có lòng từ mẫn, đại độ, cương quyết
và trầm tĩnh.
Dù
trong vài thế kỷ qua trước đã có nhiều sự giao lưu của
các tăng sĩ giữa Ấn và Hoa và đã có nhiều dịch bản kinh
Phật lưu hành ở Trung quốc. Tương truyền năm 67 TL, đời
vua Minh Ðế nhà Hậu Hán có hai đại sư Ấn là Kasyapa-matamga
(Ca Diếp Ma Ðằng) và Trúc Pháp Lan truyền pháp đến Trung
quốc. Vua Min Ðế cho cất Bạch Mã Tự để thờ Phật và
để hai vị trú mà dịch kinh. Bản dịch đầu tiên là Tứ
Thập Nhị Chương. Hai vị này là người đã đặt giềng mối
cho Phật Giáo ở Trung quốc từ đấy.
Rồi
những vị sư Ấn Ðộ khác tiếp tục đến Trung Hoa như vào
năm 147 có Arsakes (An Thế Cao) đến Lạc Dương, ngài đã dịch
kinh Tiểu thừa như Tứ Ðế Kinh, Chuyển Pháp Luân Kinh, Bát
Chính Ðạo Kinh rồi sau đó trong khoảng 178-189, ngài Lokaraksa
(Chi Lâu Ca Sấm) đến Trung Hoa đã dịch nhiều kinh điển Ðại
thừa như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Bang Chu Tam Muội, Kinh Vô
Lượng Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác. Nhưng người học kinh lại
vì có nhiều kiến giải Phật học khác nhau nên mới nẩy
sinh các tông phái, hệ phái như Tịnh Độ tông, Luật tông,
Pháp tướng tông, Chân ngôn tông, Cu xá tông, Duy thức tông,
vv... làm ngài càng thêm hoang mang.
Việc
này đã thúc đẩy Huyền Trang lên đường đi Ấn Ðộ để
tự mình tìm hiểu. Năm 627 ngài rời Trường An lúc 27 tuổi;
năm 631 đến Peshawar viếng tháp mộ của vua Kanishka (Ca-Nị-Sắc-Ca
Vương); năm 633 đến Tây trúc chiêm bái các Phật tích như
Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ) quê hương của thái tử Tất Đạt
Đa. Năm 636 đến kinh đô Kanauji của hoàng đế Harshavardhana,
Huyền Trang nhìn thấy hàng trăm tăng viện, hàng chục ngàn
tăng sĩ. Sau đó Huyền Trang đến Savastis (Xá-Vệ) nơi Phật
thường đến thuyết pháp, rồi đến vườn Lumbini nơi Phật
đản sinh, Kusinagara (Câu-thi-ma-kiệt-la) nơi Phật nhập diệt,
Benares (Ba-nại-la) thăm Sarnath (Lộc Uyển) nơi Phật chuyển
thánh luân, Vaisali (Vệ-xá-lị) nơi Phật thường an cư kiết
hạ, Pataliputra (Hoa thị thành) và Bodhgaya (Bồ đề đạo tràng
hay Giác Thành) và cuối cùng tìm đến và trúng tuyển sinh
vào PHV Nalanda khoảng 638. Bấy giờ viện chủ là Đại sư
Giới Hiền (śīlābhadra) tuy tuổi đã cao, đã truyền cho Pháp
môn Duy thức. Hai năm sau, Huyền Trang rời Nalanda đi thăm xứ
Odradeca, Kalinge, Andhra, Pallava và Tích Lan để mở mang liến
thức, rồi trở về lại Nalanda tiếp tục tu học cho đến
643.
Huyền
Trang là người biện luận giỏi, trong 10 năm ở Ấn, đã hóa
giải những cuộc tranh luận với nhiều tăng lữ Tiểu thừa
cũng như Bà-la môn nên danh tiếng lừng lẫy và nhiều vua chúa
mời ngài thuyết pháp. Năm 645, ngài được 44 tuổi, Huyền
Trang về đến Trường An trong sự đón tiếp tưng bừng của
sư sãi, thần dân kinh thành nhà Đường sau nhiều năm gian
khổ bộ hành qua 123 xứ lớn nhỏ. Huyền Trang đã mang về
Trung Quốc150 Xá lợi tử, bảy tượng Phật bằng gỗ quý
cao từ 1 thước tới 3 thước rưỡi, và 647 bộ kinh Tiểu
thừa và Ðại thừa. Tất cả đều được đưa về chùa Hoàng
Phúc, rồi một năm sau đưa về chùa Từ Ân vừa mới được
triều đình xây dựng cho ngài.
Suốt
19 năm sau, ngài đã dịch được 75 bộ 1.335 cuốn kinh. Vì
ngài thông thái cả văn hệ Sanskrit nên đã dịch ngược hai
bộ kinh từ Hán văn ra Sanskrit là ‘Ðại thừa khởi tín luận’
(mahāyānaśraddhotpāda-śāstra), vì nguyên bản đã thất truyền;
và ‘Đạo đức Kinh’ của Lão Tữ. Qua những công trình
này ngài đã đem lại cho ngôn tự và văn học Trung Hoa trên
ba vạn từ ngữ và ý niệm triết học mới. Điều này đã
làm cho văn học đời Đường thêm khởi sắc.
Huyền
Trang mất ngày mùng 5 tháng 2 năm Lân Đức nguyên niên (664).
Ngày 14 tháng 4, một triệu người ở Trường An và tứ xứ
lại đưa linh cửu ông tới an táng ở Bạch Lộc Nguyên. Vua
Thái Tông nhà Đường lúc đó đã băng; Vua Cao Tông ra lệnh
quốc táng rất long trọng.
2).
Liệt kê vài thành quả sáng tác và dịch thuật của HT Huyền
Trang:
a)
Sáng tác: ‘Đại
Đường Tây Vực Ký’, còn gọi tắt là ‘Tây Vực
Ký’, nổi danh kim cổ, do Huyền Trang ghi lại về cuộc hành
trình qua Ấn thỉnh kinh của Ngài khoảng từ năm 627 đến
năm 645; về sau có đệ tử là Hwui-li (Huệ Lý) nhuận bút.
Lần đầu được dích sang Anh ngữ bởi Samuel Beal, năm 1884,
tái bản năm 1911; bởi Thomas Watters và nhuận bút bởi T. S.
Rhys Davids và S.W. Bushell, ở London năm 1905.
Về
đời nhà Minh có Ngô Thừa Ân (Wú Chéng'ēn: 1506-1582) đã dựa
vào cuốn ‘Tây Vực Ký’ của Huyền Trang mà sáng tác cuốn
truyện nổi tiếng trong văn học Trung quốc là ‘Tây Du Ký
Diễn Nghĩa’ khi ông đã ngoài 70 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay
vẫn có một số ý kiến cho rằng ông không phải là tác giả
của cuốn tiểu thuyết này.
b)
Dịch thuật: Đơn cử một số (dựa vào cuốn ‘Đại
Tạng Kinh Nhập Môn’ của Thích Ấn Hải, Thích Nguyện
Quỷnh, do TT Thích Viên Lý dịch từ Hán văn):
1)
Giải Thân
Mật Kinh (Sạmdhinirmaocana-sùtra), kinh điển căn bản
của Pháp Tướng Tông, nội dung nói về tư tưởng của
trường phái Duy Thức (Yogacara hay Vijnanavada).
2)
A Ti Đạt ma Câu Xá Luận (Abhidharmakósa-bhàsya) thường
được gọi tắt là “Câu Xá Luận,” Do Thế Thân (Vasubandhu)
viết.
3)
Du Già Sư Địa Luận (Yogàcàrabhùmi) tương truyền do Di
Lặc (Maitraya) thuyết giảng và Vô Trước (Asanga) ghi chép.
4)
Thành
Duy Thức Luận (Vijnãptimàtratàsddhi-sàstra) do Hộ
Pháp Đẳng (Dharmapala) viết. Luận này là thánh điển
căn bản của tông phái Pháp tướng ở Trung Quốc và
Nhật Bổn.
5)
Duy Thức Tam Thập Luận Tụng (Trimsíkà: Ba Mươi Câu Kệ
Về Giáo Lý Duy Thức) do Thế Thân (Vasubandhu) viết. [mà
cuốn “Thành Duy Thức Luận” (Vijnaptimatratasiddhi-sutra)
là sách chú giải căn cứ vào cuốn này].
6)
Duy Thức Nhị Thập Luận (Vimsátikà: Hai Mươi Câu Kệ
Bàn Luận Về Giáo Lý Duy Thức) do Thế Thân viết.
7)
Đại Thừa Thành Nghiệp Luận (Karmasiddhiprakarana) do Thế
Thân viết.
8)
Nhơn Minh Nhập Chánh Lý Luận (Nyàyapravésa) do Thương
Kiết La Chủ (Sankarasvamin) viết. Nhơn Minh là dịch từ
chữ Sánkrit “Nyana” có nghĩa là “luận lý” và nhan
đề Luận này là “dẫn nhập vào luận lý học,”
là sự giới thiệu đơn giản và ngắn gọn về những
lý thuyết của Trần Na (Dignaga), người sáng lập tông
phái Phật giáo “Tân Nhơn Minh”, do đệ tử của Trần
Na là Thương Kiết La Chủ viết.
9)
Di Bộ Tông Luân Luận (Samayabhedo) do Thế Hữu (Vasumitra)
soạn. Sách này được viết từ lập trường của những
người thuộc phái “Nhất Thiết Hữu Bộ” (Sarvastivadin),
nhưng nó cũng mô tả chi tiết về những đặc tính giáo
lý của các tông phái khác.
C)
Nghĩa-Tịnh (I-tsing: 635-713)
Thích
Ngĩa Tịnh là một đại sư đi Tây trúc cầu đạo vào thế
kỷ thứ 7 bằng đường thủy. Ngài sinh năm 635 ở Phần Dương
(Fan-Yang) gần Bắc Kinh bây giờ. Ngài được học chữ từ
năm lên 7 tuổi, nhưng rồi sư phụ qua đời lúc ngài được
12. Ngài được nhận làm sa di vào năm 648 lúc 14 tuổi. Sau
khi thọ cụ túc giới năm 654, ngài dành 5 năm chuyên học về
Luật tạng (Vinayapitaka).
Nghĩa
Tịnh rất ngưỡng mộ gương thỉnh kinh của các đại sư
tiền bối nhất là Pháp Hiển và Huyền Trang. Ngài đến Trường
An vào năm 664, trong lúc kinh thành có đám tang của Huyền Trang,
và quyết tâm noi theo con đường các ngài.
Nghĩa
Tịnh xuống thuyền vượt biển vào năm 671 ở Quảng Châu
(Canton), 12 ngày sau đến một xứ thuần PG tên là Bhoga thuộc
đảo Sumatra rồi trú ngụ sáu tháng ở đấy để học tiếng
Sanskrit. Sau đấy vua xứ Bhoga giúp thêm phương tiện để ngài
đi tiếp đến xứ Malayu (Sri-vijaya) trước khi đến Ấn Độ
năm 673. Ngài ca ngợi lòng nhiệt thành tu học của tăng già
không những của xứ Bhoga mà hầu như toàn thể hải đảo
ĐNA. Sau khi thăm viếng các Phật tích ở xứ Magadha, ngài được
nhận vào tu học ở Nalanda khỏang 10 năm từ 676 đến 685,
và cũng chuyên tâm học Luật tạng. Theo truyện ký của ngài
thì tuổi tối thiểu để được nhập học ở Nalanda là 20.
Trên
đường trở về Trung quốc năm 685 cũng bằng đường biển
Nghĩa Tịnh có ghé lại xứ Bhoga để tiếp tục dịch kinh
từ Sanskrit. Năm 689 Ngĩa Tịnh về đến Trung quốc, và được
triều đình nhà Đường trợ cấp thêm cho công cuộc thỉnh
kinh và dịch thuật, nên ngài quay lại Sri Vijaya và ở đó
thêm 5 năm. Đến năm 695 ngài trở về Trung quốc dưới thời
của Tắc Thiên Võ Hoàng Đế, một người sùng kính PG, mang
theo rất nhiều kinh điển.
Nghĩa
Tịnh cũng noi gương Huyền Trang, dành phần đời còn lại
để
dịch các kinh Phật. Ngài dịch ra 68 bộ gồm 290 quyển, trong
số đó có Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (Suvarnạprabhàsa-sùtra)
còn được gọi là “Tối Thắng Vương Kinh”. Ngài còn
sáng tác ‘Ðại Ðường Cầu Pháp Cao Tăng’ và ‘Nam Hải
Ký Quy Truyện’ ghi chép trạng thái Phật Giáo ở Ấn Ðộ
và Sumatra đương thời. Pháp Hiển đã phân biệt được 18
bộ phái Phật Giáo thành 4 nhóm dưới ảnh hưởng của các
bộ phái chủ lực: Mahasanghika, Sthavira, Sarvastivada và Sammitiya.
Ðồng thời còn ghi rõ địa bàn hoằng đạo của từng bộ
phái. Ngài kể rằng trong thời Ngài, Hữu Bộ phát triển mạnh
từ Magadha (trung tâm điểm phát triển), lan ra đến Lata (Gujarat),
Sind, Nam Ấn, Ðông Ấn, Sumatra, Java, Lâm Ấp, một số tỉnh
ở Trung quốc (miền Ðông, Tây, Nam) và Trung Á (đặc biệt
các nhánh nhỏ của Hữu Bộ đều rất phát triển ở khu vực
này).
Ngài
đã dịch viên tịch lúc 79 tuổi vào năm 713 dưới triều vua
Đường Huyền Tôn.
Ôi,
cảnh xưa, người xưa, nay còn đâu?
Trần
Trúc-Lâm
Seattle,
vào thu 2006