NGŨ
CĂN-NGŨ LỰC
(Pañcānām
indriyāṇām - Pañcānāṃ balānām )
Ngũ
căn và ngũ lực là hai hành pháp thứ tư và thứ năm
thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Năm
căn và năm lực ở đây thuộc nền tảng căn bản thúc đẩy
để từ đó phát sinh ra kết quả tùy thuộc vào tác nhân
tạo ra chúng hoặc thiện hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu …
Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh và tăng thượng
các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chận
đứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiện
và, tác dụng các khả năng tăng thượng các pháp lành.
- NGŨ
CĂN (Pañcānām indriyāṇām) ở đây chỉ cho năm vô lậu căn,
là năm nền tảng căn để, đưa đến việc sản sinh và, tăng
trưởng thiện nghiệp, là con đường đưa về Thánh đạo,
chúng câu hữu với tác dụng tăng thượng giải thóat cho hành
giả, cho nên gọi là năm căn. Theo Luận Trí Ðộ 10, giải
thì: “Năm căn này là nền tảng căn bản để phát sanh ra
tất cả các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Và theo luận
Câu-xá 3 thì: “Đối trong pháp thanh tịnh thì năm căn này
có tác dụng tăng thượng. Vì sao vậy? Vì thế lực của chúng
có khả năng hàng phục tất cả các thứ phiền não, đưa
hành giả đến Thánh đạo.” Năm căn ấy là:
Tín
căn (Śraddhendriya)
Tấn
căn (Vīryendriya)
Niệm
căn (Smṛtīndriya)
Ðịnh
căn (Samādhīndriya)
Huệ
căn (Prajñendriya).
1.
Tín căn (Śraddhendriya): là lòng tin được đặt trên
chiều hướng câu hữu với thiện pháp và đưa đến giải
thóat, tức là tin một các vững chắc vào Tam bảo, tin một
cách như thật vào đạo lý Tứ đế. Lòng tin này được đặt
trên nền tảng như thật không giống như lòng tin mù mờ,
vô căn cứ, không thấy, không biết, không nghe mà vẫn cứ
tin, đó gọi là tin mù quán, mê tín dị đoan không có cơ sở,
bất chấp sự thật của hầu hết các bộ phái ngoại đạo.
Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của
sự suy luận so sánh đối chiếu sáng suốt, của sự quan sát
tư duy kỹ càng chứ không phải của tình cảm đam mê lú lẫn.
Ðức Đạo sư không bao giờ bắt buộc chúng ta tin một điều
gì mà không tìm hiểu suy xét về nó, không giải thích tường
tận rõ ràng về nó. Vì vậy cho nên Ngài thường dạy cho
các đệ tử của Ngài là: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tức
là hủy báng Ta!” Lòng tin của chúng ta phát khởi từ trí
tuệ, có xét đoán tìm hiểu một cách rõ ràng minh bạch thì,
lòng tin đó nó mới vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là nền
tảng căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: “Tin là
mẹ vô lượng công đức”. Nhưng hành giả chúng ta tin cái
gì cho đúng với thiện pháp, đúng với giải thóat? Đó chính
là tin vào ba ngôi báu:
a)
Tin Phật: Chúng ta biết rằng đức Đạo sư là bậc hoàn toàn
giác ngộ và, giải thoát tất cả mọi vướng bận của khổ
đau thế gian. Vì vậy, hành giả chúng ta lúc nào cũng luôn
luôn tin tưởng về Phật và, hướng mục tiêu hòan thành giác
ngộ, cũng như giải thoát cuối cùng của chúng ta như chính
đức Đạo sư đã thân chứng.
b)
Tin pháp: Hành giả chúng ta tin vào Pháp là chân lý sống, là
pháp như thật mà đức Ðạo sư đã thân chứng và, truyền
lại cho những người đi sau như chúng ta. Hay nói một cách
khác, pháp đó chính là giáo lý chỉ cho bốn sự thật mà
đức Đạo sư đã thuyết minh lần đầu tiên cho năm anh em
Kiều Trần Như tại vườn nai. Chúng ta tin tưởng một cách
tuyệt đối vào những giáo lý ấy, vì người nói ra là đức
Đạo sư, Ngài đã tự thân tác chứng và, giác ngộ được
cũng nhờ vào giáo lý ấy.
c)
Tin Tăng: Hành giả chúng ta tin tưởng vào Tăng là những người
thật hành các giáo lý của đức Đạo sư, để tự thanh tịnh
ba nghiệp thân khẩu ý, giác ngộ mình, giác ngộ người khác,
là những vị đại diện cho đức Đạo sư đưa cao ngọn đuốc
chánh pháp sáng soi cho mọi người đi theo. Nên hành giả quyết
trọn đời phải tin tưởng và, quy hướng về Tăng để thực
hành giải thóat.
2.
Tấn căn (Vīryendriya): Là sự nổ lực siêng năng, tinh
tấn dũng mãnh trong việc thực hành tu tập các pháp lành mà
hành giả đã lựa chọn, không bao giờ để cho thối lui. Nếu
hành giả đã có lòng tin chắc chắn vào pháp tu mà không nổ
lực siêng năng tinh tấn thực hiện thì, lòng tin suông trên
lý thuyết đó sẽ trở thành vô dụng, không đưa hành giả
chúng ta đạt đến cứu cánh giải thóat được.
Nên
hành giả nào đã tin tưởng vào Tam bảo, thì phải luôn luôn
nổ lực siêng năng, tinh tấn thực hành giáo lý của Phật
mà mình đã chọn. Theo Nhiếp đại thừa luận thì, tinh tấn
có ba:
a)
Bị giáp tinh tấn: Mặc áo giáp tinh tấn, là một trong những
thứ vũ khí lợi hại khi chiến đấu với các loại giặc,
các loại ma trong đó có nội ma ngoại ma. Trong cuộc chiến
đấu này hành giả bắt buộc phải cần đến áo giáp tinh
tấn, nó là một trong những lợi khí khi xông pha vào trận
địa “phiền não”, nó luôn luôn động viên và thúc giục
hành giả tiến lên phía trước một cách cam đãm dũng mãnh
mà không còn sợ sệt ma quân hảm hại. Nhờ có áo giáp này,
nó là một năng lực khiến chúng ta hùng dũng tiến tới, không
sợ gian nan nguy hiểm, không lùi bước trước một trở ngại
hay một địch thủ nào, nên siêng năng tinh tấn là một trợ
lực rất có hiệu quả cho hành giả trên bước đường tu
tập thực hành để đạt giải thóat.
b)
Gia hành tinh tấn: Hành giả luôn luôn nổ lực gắng sức không
bao giờ lười nhác dừng nghĩ trên bước đường tu tập đi
đến giải thoát. Với thứ tinh tấn này, nổ lực của sức
mạnh tiếp sức này tức là chỉ cho những duyên phụ thuộc
kích thích hành giả chúng ta càng tiến lên càng tạo thêm
sức mạnh càng hăng, càng kích thích phấn chí nhiều hơn và,
chúng sẽ làm cho hành giả không còn mệt mỏi biến nhác nữa.
c)
Vô hỷ túc tinh tấn: Là không vui sướng tự mãn với thành
quả vừa đạt được trong lúc tu tập thực hành mà cho là
vừa đủ không cần cố gắng tiến lên nữa. Hành giả khi
nào chưa vào được Thánh đạo thì dứt khóat phải còn gia
công gắng sức tu tập mãi mãi, chứ không chịu dừng lại,
mà hưởng vui với một quả vị thấp kém, tạm thời. Như
người đi bộ khi chưa đến đích cuối cùng thì, vẫn còn
hăng hái tiến bước mãi càng nhanh càng tốt, chứ không chịu
chấm dứt cuộc hành trình của mình với dạng lấy lệ, hay
cho như vậy là đủ bằng cách an phận nghỉ ngơi mãi trong
quán trọ bên đường, làm cho tiến độ càng ngày càng suy
giãm tốc độ dần cho đến khi quên mất mục đích nơi đến
cuối cùng của mình.
3.
Niệm căn (Smṛtīndriya): Mục tiêu của niệm là nhớ
nghĩ đến những pháp câu hữu với giải thóat, giúp hành
giả nếu muốn đạt được mục đích thì, cần phải nhờ
vào những pháp phương tiện trợ duyên pháp hành của mình.
Nhớ nghĩ ở đây liên quan đến:
a)
Niệm thí: Là nhớ nghĩ đến việc tu tập bố thí. Hành giả
ở đây ngoài việc tự làm lợi cho chính mình, mà còn phải
lúc nào cũng phải nhớ nghĩ đến việc đem tài sản bố thí
cho người nghèo khổ; đem hùng lực vô úy của chính mình
cứu giúp cho những người sợ hãi nhút nhát; đem chánh pháp
chỉ giáo bày vẽ cho người si mê, khiến họ hết khổ được
vui như mình.
b)
Niệm giới: Là nhớ nghĩ đến việc trì tịnh giới để đoạn
trừ các phiền não nghiệp chướng mà hành giả đã lỡ tạo
ra trong quá khứ gần hay xa và, ngăn ngừa những nghiệp nhân
ác bất thiện có thể xảy ra trong hiện tại, cùng làm tăng
trưởng mọi pháp lành trong quá khứ qua những tác nhân trong
hiện tại. Hành giả ở đây cũng vậy ngoài việc tự lợi
cho chính mình trong việc giữ gìn giới cho thanh tịnh mà còn
ảnh hưởng hỗ tương đến mọi người chung quanh qua việc
sống với người trong một cộng đồng cọng hưởng qua ba
loại Giới:
- Nhiếp
luật nghi giới: Những giới điều để ngăn cấm các tác
nghiệp thô xấu qua các oai nghi có thể xảy ra trong hiện tại,
đồng thời cùng lúc đoạn trừ các nghiệp chướng nơi thân
tâm có thể xảy ra trong tương lai.
- Nhiếp
thiện pháp giới: Những giới điều được đặt ra đúng
pháp và lợi ích chúng câu hữu với giải thóat. Hành giả
tu tập thực hành giữ gìn theo nó thì, có thể thành tựu
tất cả mọi pháp lành trong tương lai.
- Nhiêu
ích hữu tình giới: Những giới điều đưa đến làm lợi
ích an lạc cho tất cả chúng sinh khi hành giả thực hành tu
tập giữ gìn chúng. Vì sự tương quan tương duyên sinh khởi
nên một khi hành giả thành tựu pháp tu thì tất cả đều
cùng lúc thành tựu trong sự hiện hữu đồng thời của chúng.
c)
Niệm thiên: Lúc nào hành giả cũng nhớ nghĩ đến sự giàu
sang vui sướng của chư thiên và, bố thí trì giới để tạo
ra các thiện nghiệp cho tương lai thì chắc chắn sẽ hưởng
được mọi thứ công đức này khi thọ thân trời phóng ra
ánh sáng, không đâu là không chiếu tới. như Kinh Tăng Nhất
A-hàm 2 phẩm Quảng diễn đức Đạo sư dạy: “Nếu có Tỳ-kheo
nào, chánh thân chánh ý, ngồi kiết già, cột niệm phía trước,
không tưởng nghĩ đến việc khác, chỉ nhớ nghĩ đến trời,
thân khẩu ý thanh tịnh không tạo ra các việc xấu. Giữ gìn
giới, thành tựu thân giới thì, thân phóng ra ánh sáng, không
đâu không đến … lúc nào cũng nhớ nghĩ đến trời không
bao giờ quên thì, sẽ thu được mọi thứ công đức thiện
này.” Hay Nhiếp Ðại Thừa luận thì nói: “Niệm Thiên là
an trụ vào bốn món thiền định”. Vậy niệm thiên là nhớ
nghĩ đến cách tu tập bốn thiền định, để thanh lọc sạch
hết tất cả phiền não mà giải thóat.
4.
Ðịnh căn (Samādhīndriya): Ðịnh nói cho đủ là Chánh
định dịch nghĩa từ chữ Samādhi phiên âm là Tam-ma-địa.
Ðịnh là khiến tâm hành giả trụ vào một nơi, một chỗ
để lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, không cho
tâm hành giả tán loạn mà quán sát suy đạt thật nghĩa của
nó. Còn căn phạn ngữ gọi là indriya bao gồm vừa có nghĩa
tăng thượng vừa có nghĩa sinh khởi. Do đó định căn có
nhiệm vụ khiến cho tâm hành giả dừng lại một chỗ, không
vì hòan cảnh ngoại tại mà sức thiền định bị dao động;
vì sức thiền định này có khả năng sinh khởi ra mọi thứ
công đức và làm chúng tăng trưởng lên. Cho nên gọi là căn.
Theo Thành duy thức luận 9, trong Thập độ tam hành, độ thứ
năm là Thiền độ tam hạnh thì tịnh lự (định) có thể
chia làm ba bậc:
a)
An trụ tịnh lự: Để tâm an trụ vào định, nên vọng tưởng
không có cơ hội để khởi lên, nhờ vậy mà hành giả đi
sâu vào trong thiền định và, từ đó phiền não được diệt
trừ.
b)
Dẫn phát tịnh lự: Nhờ phiền não đã được đoạn trừ
nên trí tuệ được hiện hữu phát sinh các thứ công đức
thù thắng.
c)
Biện sự tịnh lự: Nhờ đã phát sinh các thứ công đức
viên thành, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh;
cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng đắc Niết-bàn.
5.
Huệ căn (Prajñendriya): Quán trí phát sinh được nhờ trong
định và, cũng từ đó mà hành giả hiểu rõ được chân
lý như thật của muôn pháp. Quán đạt chân lý gọi là tuệ;
khi trí huệ đầy đủ thì tất cả mọi thứ phiền não tự
tiêu trừ và, các năng lực thiện pháp xuất hiện, thành tựu
trọn vẹn mọi thứ công đức, cho đến lúc thành đạo. Cho
nên gọi là Huệ căn. Theo Nhiếp Ðại Thừa, trí huệ có ba
thứ:
a)
Vô phân biệt gia hành huệ: Trí tuệ nầy không còn có sự
phân biệt nữa, nhưng còn cần phải thực hành thêm, nghĩa
là còn cần sự dụng công tu hành, để thành tựu hoàn toàn
trí vô phân biệt. Vì thế, nên gọi là “vô phân biệt gia
hành huệ”.
b)
Vô phân biệt huệ: Trí huệ nầy không còn có sự phân biệt
và, cũng không cần phải thực hành thêm nữa vì nó đã đầy
đủ và thuần phục. Nhờ trí huệ này, mà hành giả thể
chứng chân như một cách tự tại.
c)
Vô phân biệt hậu đắc huệ: Còn gọi là hậu đắc trí,
là trí huệ có được sau khi đã chứng được chân như. Trí
huệ này không còn phân biệt nữa hoàn toàn sáng suốt, tỏ
ngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậu
đắc trí nầy mà thi tác vô lượng công đức, để cứu độ
chúng sanh. Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn là
trí huệ nhờ thiền định làm lặng sạch có được. Nó thông
đạt được sự thật của các pháp; nó là nền tảng phát
sanh ra mọi việc vĩ đại để giải thoát chúng sinh ra khỏi
khổ đau.
Tóm
lại vì Năm căn này là nền tảng có khả năng sinh sản ra
tất cả các pháp thiện, nên gọi là năm căn. Hơn nữa ‘căn’
ở đây nó cũng mang ý nghĩa tăng thượng, như trên chúng ta
đã biết, năm loại căn này cũng có thể khiến cho con người
sản sinh ra Thánh đạo vô lậu nên cũng gọi là căn. Theo Đại
thừa nghĩa chương 16 nói về ý nghĩa của căn thì, “Vì sức
mạnh của Năm căn này nghiên nặng hơn về việc sản sinh
ra Thánh đạo xuất thế, nên gọi là căn.” Năm loại căn
này còn có tác dụng dùng để đối trị với những người:
không có lòng tin (bất tín), biếng nhác (giải đãi), buông
lung (phóng dật), táy máy thân hình (trạo cử), phiền não
vô minh, nên cũng gọi là căn. Ngoài ra theo phần một quyển
7 Chỉ Quán bổ hành truyện hoằng quyết thì, người tu hành
tuy mần thiện chưa phát, vì căn chưa sinh, song nay nếu tu tập
năm pháp này thì, sẽ khiến cho thiện căn sẽ sinh ra, nên
năm pháp này được gọi là căn.
- NGŨ
LỰC (Pañcānāṃ balānām): tức là năm lực này có được
nhờ vào năm căn tăng trưởng sinh ra trong lúc hành giả tu
hành, chúng chính là sức mạnh duy trì sự liên tục đưa đến
giải thóat cho hành giả. Đó chính là thần lực của năm
căn, chúng có khả năng đối trị thế lực của năm chướng.
Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay của chúng
ta, còn ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.
1.
Tín lực (Śraddhā-bala): Tức là sức mạnh do tín căn sinh ra,
với công năng là phá hủy tất cả mọi thứ tà tín.
2.
Tấn lực (Vīrya-bala): Tức sức mạnh do tinh tấn căn sinh ra,
có công năng phá hủy mọi sự lười biếng nhác nhớm của
thân và, lúc nào cũng siêng năng tinh cần trong việc chỉ ác
hành thiện, trong việc thực hành tu tập tứ chánh cần.
3.
Niệm lực (Smriti-bala): Tức là sức mạnh do niệm căn sinh
ra, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn, với khả
năng phá hủy mọi thứ tà niệm và, dùng pháp tứ niệm xứ
để giữ gìn chánh niệm.
4.
Ðịnh lực (Samādhi-bala): Tức sức mạnh do định căn sinh
ra, với khả năng chống phá các thứ lọan tưởng, bằng vào
chuyên tâm thiền định để đọan trừ các dục phiền não.
5.
Huệ lực (Prajñā-bala): Tức sức mạnh do huệ căn sinh ra,
với khả năng phá hoại các hoặc của ba cõi, bằng vào quán
ngộ Tứ đế, thành tựu trí tuệ, mà đạt được giải
thóat.
Năm
lực này vì chúng có công năng phá hủy mọi thứ ác pháp
nên gọi là năm thứ sức mạnh. Theo Trí độ luận 19 thì:
“Năm căn tăng trưởng, không bị phiền não phá hoại, đó
gọi là lực.” hay: “Thiên ma ngoại đạo không thể làm
trở ngại, đó gọi là lực.” Nội dung ý nghĩa và công dụng
của chúng cùng với năm vô lậu căn giống nhau, vì Phật giáo
là một đạo thực tiễn nên việc thực hành thực tập những
giáo pháp này là cần thiết theo thứ tự từ trước đến
sau từ trên xuống dưới. Những sức mạnh nầy là kết quả
đã đạt được từ sự nổ lực tinh tấn siêng năng tu tập
của Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa được bật lên sau
khi hành giả đã nỗ lực tinh tấn cọ sát hai cây gỗ vào
nhau để có kết quả ngọn lửa được sinh ra.
Tóm
lại, Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh ra và, làm
tăng thượng các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức
mạnh để chận đứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền
não bất thiện và, tác dụng các khả năng tăng thượng các
pháp lành. Như những trình bày ở trên, Ngũ căn và Ngũ lực
vừa là những nền tảng căn bản phát sinh các thiện pháp
và, làm tăng thượng vô lượng công đức thù thắng đưa
hành giả đến Thánh đạo, vừa có khả năng chận đứng
tiêu diệt các pháp ác bất thiện vô minh, giải thóat mọi
thứ phiền não mà đạt niết-bàn an vui; chúng là những nền
tảng cơ bản để hành giả làm nhân tư lương tốt trong việc
thực hiện giải thóat đưa về Thánh đạo.