PHỤ ĐÍNH
-1-
Cuộc đời
Ðức Phật
Bình
Anson
Ngày
rằm tháng tư âm lịch mỗi năm là một ngày đặc biệt cho
tất cả các Phật tử trên toàn thế giới. Theo truyền thống
Theravāda (Nam tông), đó là ngày lễ Tam Hợp Vesak (Vesakha)
kỷ niệm ngày sinh (Phật đản), ngày chứng đắc (Thành
đạo), và ngày tịch diệt (Bát Niết bàn) của Ðức Phật.
Trong khi đó, một số quốc gia theo truyền thống Mahāyana (Bắc
tông) cử hành ba dịp trọng đại trên vào ba ngày khác nhau
trong năm. Tuy nhiên, ngày rằm tháng tư được xem như là ngày
lễ Phật giáo quan trọng nhất, và đã được các tông phái
Phật giáo chấp nhận, trong kỳ Ðại hội Phật giáo Thế
giới lần thứ VI, năm 1961. Ngoài ra, vào ngày 15 tháng 12 năm
1999, Hội đồng Liên hiệp quốc đã biểu quyết công nhận
ngày Vesak là một trong những ngày lễ chính thức hằng năm
của tổ chức quốc tế này.
Ðến
nay, nhiều sử liệu ghi rằng Ðức Phật sinh ra trong đêm trăng
rằm tháng tư âm lịch năm 623 trước Tây lịch (TL), tại vườn
Lumbini (Lâm-tỳ-ni), ngoại ô thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ),
ngày nay thuộc xứ Nepal, phía bắc Ấn Ðộ. Thân phụ Ngài
là vua Suddhodana (Tịnh phạn) và thân mẫu là hoàng hậu Mahā
Maya (Ðại tịnh diệu). Ngài thuộc sắc tộc Sakya (Thích-ca),
có họ Gotama (Cồ-đàm), và được vua cha đặt tên là Siddhatta
(Sĩ-đạt-ta), có nghĩa là Như ý. Năm 16 tuổi, Ngài lập gia
đình với công chúa Yasodhara (Gia-du-đà-la) và có một người
con trai, tên là Rahula (La-hầu-la).
Năm
29 tuổi, Ngài rời bỏ cung vàng, vượt sông Anoma (một chi
nhánh của thượng lưu sông Gange Hằng hà), tầm sư học
đạo, sống cuộc đời du sĩ. Sau 6 năm học hỏi với nhiều
bậc đạo sư nổi tiếng thời đó với nhiều pháp môn tu
tập khác nhau, Ngài cảm thấy vẫn còn nhiều vướng mắc,
và không tìm ra được con đường giải thoát tối hậu.
Cuối
cùng, Ngài quyết định không sống lệ thuộc vào một vị
đạo sư, một pháp môn nào cả. Từ bỏ lối tu khổ hạnh
hành xác, Ngài bắt đầu đi khất thực trở lại để phục
hồi sức khỏe, và tham thiền dưới cội cây Assatha, sau này
được gọi là cây bồ đề (bodhi), trong vùng Gaya ngày nay
được gọi là Bodhgaya (Bồ-đề đạo tràng), bên bờ sông
Neranjara (Ni-liên-thuyền).
Ngài
lập tâm nhất quyết nỗ lực bất thối chuyển: "Dù chỉ
còn da, gân và xương, máu và thịt đã cạn khô và tan biến,
ta nguyện không xê dịch chỗ này cho đến khi chứng ngộ toàn
giác". Vào đêm rằm tháng tư năm 588 trước TL, Ngài nhập
định tham thiền, quán niệm hơi thở và định tâm, an trú
vào bốn tầng thiền-na (jhana), rồi hướng tâm hồi tưởng
các tiền kiếp. Vào cuối canh một đêm đó, Ngài chứng đạt
trí tuệ "túc mạng minh". Sau đó, Ngài hướng tâm quán triệt
nguyên do đưa đến sự sinh tử của mọi loài, về luật nghiệp
quả, và vào cuối canh hai, Ngài chứng đạt "thiên nhãn minh".
Sau đó, Ngài quán triệt sự chấm dứt các lậu hoặc, quán
triệt Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, và Con đường diệt khổ
(Tứ Diệu Đế), và chứng đạt "lậu tận minh".
Lậu
đã tận diệt, tuệ đã toàn khai, Ngài quán triệt chân lý
và giác ngộ, trở thành một vị Chánh đẳng Chánh giác, và
được xem như là đã chứng Niết bàn hữu dư y, nghĩa là
trạng thái tâm trí hoàn toàn giải thoát nhưng thân xác vẫn
còn tồn tại. Lúc đó Ngài được 35 tuổi.
Bài
giảng đầu tiên của Ngài là bài kinh Chuyển Pháp luân, giảng
cho năm anh em Kondañña (Kiều-trần-như), đệ tử đầu tiên,
tại vườn Lộc uyển gần thành Benares (Ba-na-lại). Ðây là
bài giảng tóm tắt tinh hoa của đạo giải thoát, là một
Trung đạo, không lệ thuộc vào hai cực đoan của việc nô
lệ dục lạc và việc hành khổ thân xác, bao gồm bốn sự
thật phổ quát (Tứ Diệu Đế) và con đường diệt khổ gồm
tám yếu tố chân chính (Bát Chánh Đạo).
Từ
đó, trong suốt 45 năm, Ngài đi truyền giảng con đường giải
thoát, thu nhận đệ tử, có người xuất gia theo Ngài và lập
thành tăng đoàn, cũng có người còn tại gia, gọi là các
cư sĩ. Vùng truyền giáo của Ngài là vùng đông bắc Ấn Ðộ
giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các nhánh thượng nguồn
sông sông Hằng.
Ngài
thường được gọi là Ðức Phật Cồ-đàm. Chữ "Phật" là
tiếng gọi tắt của "Phật-đà", phiên âm từ chữ Phạn "Buddha"
người bình dân Việt Nam có nơi gọi là ông Bụt nghĩa
là người đã giác ngộ (giác giả). Trong các kinh điển ghi
lại, Ngài thường tự gọi mình là Tathagata (Như lai). Ngoài
ra, theo kinh điển, Ðức Phật có mười danh hiệu: Ứng cúng,
Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật,
Thế tôn.
Ngài
giảng rất nhiều chủ đề cho nhiều hạng người khác nhau,
tùy theo tâm tính, căn cơ, hoàn cảnh của họ, để giúp họ
thăng tiến trên đường tu tập. Thực tế nhất là 37 phẩm
trợ đạo mà Ngài đã tóm tắt lại trong những ngày cuối
của cuộc đời tại thế của Ngài: 4 Niệm xứ, 4 pháp Chánh
cần, 4 điều Như ý, 5 Căn, 5 Lực, 7 Giác chi, và đạo 8 Chánh.
Ðức
Phật tịch diệt năm 543 trước TL, lúc Ngài 80 tuổi, tại
khu rừng cây Sala, gần thành Kusinara (Câu-thi-na). Ðêm đó,
sau khi nhập và xuất tám bậc thiền, Ngài nhập Niết bàn
vô dư y hay Bát Niết bàn (Parinibbana) nghĩa là Niết bàn
với thân xác không còn mầm sống tồn tại trong thế gian.
Lúc đó là canh cuối cùng của đêm rằm tháng tư. Lời dạy
cuối cùng của Ngài là:
"Nầy
các vị Tỳ khưu, nay Ta khuyên bảo chư vị: tất cả các pháp
hữu vi đều vô thường. Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".
Các
bài giảng của Ngài được trùng tuyên và kết tập lại thành
bộ Kinh tạng (Sutta pitaka). Các điều giới luật cho các vị
tu sĩ cùng các câu chuyện có liên quan đến giới luật
đó được kết tập thành bộ Luật tạng (Vinaya pitaka).
Ngoài ra, còn có nhiều bài giảng đặc biệt khác mà về sau
này được đúc kết lại trong bộ A-tỳ-đàm (Abhidhamma pitaka,
Thắng pháp tạng hay Vi diệu pháp tạng). Ba tạng này kết
hợp thành bộ Tam tạng kinh điển của Phật giáo ngày nay.
-2-
Tam tạng kinh
điển
Bình
Anson
Trong
45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu
nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia theo Ngài và
lập thành tăng đoàn, có người cũng còn tại gia, gọi là
các cư sĩ. Vùng truyền giáo của ngài là vùng đông bắc Ấn
Độ giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các nhánh sông thượng
nguồn sông Gange (Hằng hà).
Ngài
có rất nhiều đệ tử từ các quốc gia trong vùng, gồm đủ
mọi thành phần trong xã hội, lứa tuổi, nam nữ, và từ nhiều
nguồn gốc tín ngưỡng khác nhau. Đức Phật đã để lại
một kho tàng quí giá gồm nhiều bài thuyết giảng (Sutta, Kinh)
trong nhiều dịp giảng dạy cho hàng đệ tử, bậc thánh thanh
văn, hàng vua quan, cư sĩ, v.v. Với sự phát triển và mở rộng
của tăng đoàn, Ngài đặt ra nhiều giới luật để tạo điều
kiện thuận lợi trong công việc tu tập (Vinaya, Luật). Ngoài
ra còn nhiều bài giảng đặc biệt khác mà về sau này được
đúc kết lại trong tạng A-tỳ-đàm (Abhidhamma, Thắng pháp).
Kết
tập đầu tiên
Ba
tháng sau khi Đức Phật tịch diệt, một đại hội các vị
tu sĩ (tỳ khưu, bhikkhu) được tổ chức, ngày nay được gọi
là Đại hội Kết tập Kinh điển I, tại vùng đồi núi ngoại
thành Rājagaha (Vương xá). Mục đích là để kết tập các
bài kinh giảng và các điều luật thành một hệ thống chặt
chẽ hơn. Chủ trì đại hội là tỳ khưu Mahā Kassapa (Đại
Ca-diếp). Tuyên đọc phần Luật là tỳ khưu Upāli (Ưu-ba-ly).
Tuyên đọc phần Kinh là tỳ khưu Ānanda (A-nan-đa), là thị
giả của Đức Phật và vì thế có nhiều dịp nhất để
nghe và ghi nhớ các bài giảng của Ngài. Đại hội gồm khoảng
500 vị thánh tăng, duyệt lại các giới luật và các bài thuyết
giảng, sắp xếp thành hai nhóm chính: Luật tạng và Kinh tạng.
Qua những thu thập lúc đó, Kinh tạng được phân chia làm
4 bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng
chi bộ.
Kết
tập lần thứ 2
Trong
45 năm hoằng dương đạo pháp, Đức Phật đã đi nhiều nơi,
giảng đạo cho nhiều người và thu nhận nhiều đệ tử.
Các đệ tử của Ngài ở rải rác khắp nơi, không thể nào
cùng về tham dự đại hội đầu tiên. Do đó, có thể có
một số bài thuyết giảng và giới luật phụ do Đức Phật
đặt ra đã không được kết tập trong kỳ đại hội đó.Vì
vậy, khoảng 100 năm sau, năm 383 trước Tây lịch (TL), Đại
hội Kết tập Kinh điển lần thứ hai được tổ chức, theo
yêu cầu của tăng chúng thành Vesali và Vajji. Sau lần kết
tập này, Luật tạng được mở rộng với các giới luật
mà các đại biểu cho rằng đã không được kết tập trong
kỳ Đại hội I, và một số các bài kinh giảng khác chưa
kết tập, tạo thành một bộ kinh thứ 5 của Kinh tạng (Tiểu
bộ).
Sau
lần kết tập này, Luật tạng và Kinh tạng xem như đã thành
hình, và các bài giảng có lẽ cũng giống như bài giảng mà
chúng ta có được trong bộ Đại tạng kinh hiện nay.
Kết
tập lần thứ 3
Một
trăm ba mươi năm sau đó, năm 253 trước TL, vua Asoka (A-dục)
cho triệu tập Đại hội Kết tập Kinh điển lần thứ III.
Tiểu bộ của Kinh tạng lại được mở rộng và kết tập
thêm nhiều bài kinh giảng khác. Quan trọng hơn hết là việc
Đại hội đã đúc kết các bài giảng về tâm lý, thể tính
và sự tướng của vạn pháp, tạo thành Thắng pháp tạng
(Abhidhamma pitaka, A-tỳ-đàm tạng, hay còn gọi là Vi diệu pháp
tạng, Luận tạng).
Kết
tập lần thứ 4
Khoảng
năm 20 trước TL, 500 năm sau ngày Đức Phật tịch diệt, vua
Vattagamani của Tích Lan (Sri Lanka) triệu tập Đại Hội Tăng
Già IV tại vùng núi Aluhivihara gần thành phố Kandy ngày
nay, kết tập lại các phần Kinh, Luật, và đúc kết phần
Thắng pháp tạng. Để gìn giữ các bài giảng của Đức Phật,
dù đã kết tập nhưng chỉ truyền khẩu trong 500 năm qua, ba
tạng kinh điển được cho viết lại trên một loại giấy
bằng lá bối-đa khô. Từ đó, Tam tạng Pāli được thành
hình, và không còn thay đổi nào khác.
Kết
tập lần thứ 5 và 6
Trong
thời kỳ gần đây, Miến Điện có tổ chức hai kỳ kết
tập khác: lần thứ V vào năm 1870, và lần thứ VI vào năm
1954. Tuy nhiên, các kỳ kết tập này chỉ để làm sáng tỏ
các điểm chính trong kinh, nhưng không thay đổi gì trong bộ
Tam tạng.
Tam
tạng kinh điển
"Tạng"
hay "Tàng" là giỏ chứa, chỗ chứa, tiếng Pāli gọi là Pitaka.
Ngày xưa tại các chùa lớn thường có một thư viện gọi
là "tàng kinh các" để lưu trữ các bộ kinh quí. "Tam tạng"
theo tiếng Pāli gọi là Tipi-taka, gồm có: Luật tạng (Vinaya
pitaka), Kinh tạng (Sutta pitaka), và Thắng pháp tạng (Abhidhamma
pitaka).
Sau
đây là sơ lược về các tạng này:
1.
Luật tạng
Tạng
này bao gồm các giới luật và nghi lễ cho nam tu sĩ (bhikkhu,
tỳ khưu) và nữ tu sĩ (bhikkhuni, tỳ khưu ni), cách thức gia
nhập tăng đoàn, truyền giới luật, sinh hoạt tăng chúng,
cách hành xử trong các trường hợp vi phạm giới luật, các
bài giảng và câu chuyện liên quan đến giới luật, v.v. Tạng
này thường được chia làm 5 bộ:
1)
Phân tích giới tỳ khưu (Bhikkhu-vibhaṅga),
2)
Phân tích giới tỳ khưu ni (Bhikkhunī-vibhaṅga),
3)
Đại Phẩm (Mahāvagga),
4)
Tiểu Phẩm (Cullavagga),
5)
Tập Yếu (Parivara).
2.
Kinh tạng
Gồm
5 bộ chính (nikāya):
1)
Trường bộ (Dīgha nikāya),
2)
Trung bộ (Majjhima nikāya),
3)
Tương ưng bộ (Samyutta nikāya),
4)
Tăng chi bộ (Anguttara nikāya),
5)
Tiểu bộ (Khuddaka nikāya).
Trong
hệ Sanskrit (Bắc Phạn), các bộ tương đương là các bộ
A-hàm (Āgama). Tuy nhiên, các bộ A-hàm nguyên thủy đã bị
thất lạc và chỉ còn tìm thấy các bản kinh tiếng Sanskrit
rời rạc, mà hiện nay chỉ còn các bản Hán văn, dịch từ
nhiều nguồn gốc bộ phái và qua nhiều đời khác nhau.
Trường
bộ là tập hợp các bài kinh dài, gồm 34 bài kinh, đã được
dịch sang Việt ngữ. Ngoài các bài thuyết giảng của Đức
Phật, Bộ này cũng có các bài giảng của Đại đức Sāriputta
(Xá-lợi-phất), vị đệ tử hàng đầu có tài thuyết giảng
hùng biện nhất thời đó, và các vị đệ tử nổi tiếng
khác.
Trung
Bộ gồm có 152 bài kinh sắp xếp trong 15 phẩm, theo từng chủ
đề. Các bài kinh quan trọng thường có liên quan đến phép
hành thiền quán niệm, chánh kiến, cách tịnh tâm, cuộc đời
Đức Phật, Tứ Diệu Đế, tính không, quán niệm hơi thở,
v.v. Có thể nói đây là một bộ kinh quan trọng nhất, bao
gồm các bài giảng thiết yếu trên đường tu tập, thực
hành lời Phật dạy.
Tương
ưng bộ gồm 2.889 bài kinh ngắn, chia làm 5 chương và 56 phẩm.
Đây là tập hợp các bài kinh có chủ đề giống nhau về
một điểm thảo luận, hoặc về một nhân vật nào đó trong
thời Đức Phật. Có những bài giảng quan trọng về hành
thiền, 12 nhân duyên và về 37 phẩm trợ đạo.
Tăng
chi bộ là bộ kinh dựa theo cách sắp xếp số học (pháp số),
từ các chủ đề có liên quan đến 1 phần tử, 1 yếu tố,
dần dần lên đến các chủ đề có 11 phần tử hay yếu tố.
Vì vậy, bộ kinh được chia làm 11 chương, gồm 2.308 bài kinh.
Tiểu
bộ thật ra không phải là bộ sách nhỏ, mà là tập hợp
15 bộ sách nhỏ:
1)
Tiểu tụng (Khuddakapātha),
2)
Pháp cú (Dhammapada),
3)
Phật tự thuyết (Udāna),
4)
Như thị ngữ (Itivuttaka),
5)
Kinh tập (Suttanipāta),
6)
Thiên cung sự (Vimānavatthu),
7)
Ngạ quỷ sự (Petavatthu),
8)
Trưởng lão tăng kệ (Theragāthā),
9)
Trưởng lão ni kệ (Therigāthā),
10)
Bổn sanh (Jātaka),
11)
Nghĩa thích (Niddesa),
12)
Vô ngại giải đạo (Patisambhidāmagga),
13)
Thí dụ (Apadāna),
14)
Phật sử (Buddhavamsa),
15)
Hạnh tạng (Cariyāpitaka).
3.
Thắng pháp tạng
Còn
gọi là Vi diệu pháp tạng, đây là tập hợp các bài giảng
của Đức Phật về thể tính và sự tướng của vạn pháp,
phân giải triết học và tâm lý học. Thắng pháp tạng gồm
có 7 quyển:
1)
Pháp tụ (Dhammasanganī),
2)
Phân tích (Vibhanga),
3)
Chất ngữ (Dhātukatha),
4)
Nhân chế định (Puggalapaññatti),
5)
Ngữ tông (Kathāvatthu),
6)
Song đối (Yamaka),
7)
Vị trí (Patthāna).
4.
Các thánh điển trọng yếu khác
Ngoài
Tam tạng kinh điển còn có các bộ Chú giải, Phụ chú giải,
và một số tác phẩm Pāli quan trọng khác cũng được học
tập và lưu truyền cho đến ngày nay:
- Đảo
sử (Dīpavamsa),
-
Đại sử (Mahāvamsa),
-
Tiểu sử (Cullavamsa),
-
Mi-lan-đa vấn đạo (Milindapañha),
-
Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga),
-
Thắng pháp tập yếu (Abhidhammatthasangaha),
-
v.v.
-3-
Bắc tông &
Nam tông:
Cùng một cỗ
xe
Bình
Anson
Phật
giáo ngày nay có nhiều tông phái với các truyền thống khác
nhau. Tuy nhiên, chúng ta thường phân biệt hai tông phái chính:
Phật giáo Bắc tông, Đại thừa Mahāyana, và Phật giáo
Nam tông, Nguyên thủy Theravāda. Phật giáo Mahāyana thịnh
hành ở các nước Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Đại Hàn,
và Nhật Bản. Trong khi đó, Phật giáo Theravāda được lưu
truyền rộng rãi ở Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan,
Lào và Cam Bốt.
Riêng
Việt Nam có lẽ là một quốc gia Á châu đầu tiên mà cả
hai tông phái lớn này đều được chính thức thừa nhận
và đã cộng tác hoạt động trong nhiều thập niên qua. Tông
phái Đại thừa có một truyền thống lâu đời và đã có
mặt tại Việt Nam do các tu sĩ Ấn Độ truyền sang vào cuối
thế kỷ thứ II TL. Tông phái Nguyên thủy cũng có mặt tại
vùng đất này qua nhiều thế kỷ trong các cộng đồng người
Khmer tại miền nam nước Việt, và được truyền bá đến
các Phật tử người Việt (người Kinh) trong thập niên 1940.
Trong những năm gần đây, lại có những dự án dịch thuật
kinh điển của cả hai truyền thống, từ các văn bản gốc
tiếng Hán và tiếng Pāli, sang tiếng Việt hiện đại.
Trong
bài viết ngắn dưới đây, chúng tôi xin mạn phép trình bày
sơ lược về nguồn gốc của Mahāyana và Theravāda, lồng trong
bối cảnh lịch sử phát triển của đạo Phật tại Ấn Độ
trong 1.000 năm đầu tiên sau khi Đức Phật tịch diệt. Tiến
trình lịch sử đó được tạm chia làm ba thời kỳ: thời
kỳ nguyên thủy (100 năm), thời kỳ bộ phái (400 năm), và
thời kỳ chuyển hóa (500 năm).
1.
Thời
kỳ nguyên thủy
Trong
45 năm truyền dạy đạo pháp, Đức Phật đã để lại rất
nhiều bài giảng, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, cho nhiều
người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Các bài giảng
này thường được các vị tu sĩ đệ tử ghi nhớ, sắp xếp
lại, truyền khẩu cho nhau, và dùng để giảng lại cho người
khác. Khi được phân phối đi hoằng dương đạo pháp ở các
vùng khác nhau, các bài giảng này thường được chuyển dịch
ra tiếng địa phương và điều này được Đức Phật chấp
nhận và khuyến khích.
Có
một lần, hai vị đại đức Yamelu và Tekula xin phép Đức
Phật để ghi chép và chuyển dịch những bài giảng của Ngài
sang tiếng Vedic, vốn là văn tự của giới quý tộc dùng để
phúng tụng kinh Vệ-đà, để bảo đảm tính nhất quán và
chính xác của các bài kinh, nhưng Đức Phật không đồng ý.
Ngài cho rằng các bài giảng của Ngài phải được phổ biến
đến mọi người qua ngôn ngữ địa phương để họ có thể
nghe, hiểu và thực hành. Cũng vì vậy, dù rằng Đức Phật
dùng tiếng Magadhi (Ma-kiệt-đà) để giảng pháp, nhưng các
bài giảng đã được truyền khẩu bằng nhiều thứ tiếng
khác nhau.
Sau
khi Đức Phật nhập diệt, ngài Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa)
triệu tập một hội đồng gồm khoảng 500 vị thánh tăng
tại vùng đồi núi ngoại thành Vương xá (Rājagaha) để kết
tập kinh điển, sau này được gọi là Đại hội Kết tập
I. "Kết tập" có nghĩa là thu góp, tập hợp lại, ôn lại,
đừng để cho tán thất. Tiếng Phạn là "sangīti", có nghĩa
là cùng nhau tụng lại. Trong Đại hội này, ngài Đại Ca-diếp
là chủ quản, ngài A-nan-đa (Ānanda) đọc lại các bài kinh
giảng, và ngài Ưu-ba-ly (Upāli) đọc lại các điều luật.
Sau lần kết tập đầu tiên này, Luật tạng và Kinh tạng
được đúc kết. Lúc ấy, Kinh tạng được chia ra thành 4
bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng chi
bộ.
2.
Thời
kỳ bộ phái
Sau
đó, nhiều phái đoàn truyền giáo được gửi đi các nơi
để hoằng dương đạo pháp, từ miền Trung Ấn đến mạn
nam và mạn tây xứ Ấn Độ. Trong thời kỳ này có nhiều
biến động, thay đổi bố cục chính trị giữa các vương
quốc trong vùng, và vì thế có nhiều thay đổi trong sinh hoạt
xã hội, tạo ảnh hưởng đến các sinh hoạt tăng đoàn, nhất
là tại những nơi mà Phật giáo còn mới, chưa vững mạnh.
Nhiều tu sĩ trẻ trong những vùng này bắt đầu cảm thấy
có nhu cầu cần sửa đổi giới luật và lề lối sinh hoạt
để phù hợp với đời sống địa phương.
Một
trăm năm sau ngày Đức Phật nhập diệt, Đại hội Kết tập
II được tổ chức tại thành Vesali với 700 tu sĩ, mục đích
chính là để giải quyết các tranh chấp về 10 điều luật
căn bản, trong đó có luật cấm các tu sĩ thu nhận vàng bạc
do dân chúng cúng dường. Nhưng thêm vào đó, Đại hội cũng
duyệt lại các kinh điển, và kết tập một số bài kinh giảng
không được đúc kết lúc trước. Đó là những cơ sở để
thành hình bộ kinh thứ 5, Tiểu bộ, về sau này.
Vì
Đại hội quyết định giữ nguyên 10 điều giới luật căn
bản mà không sửa đổi, một số tu sĩ trẻ không hài lòng
và bắt đầu có khuynh hướng ly khai. Đây là mầm mống đưa
đến sự phân chia đầu tiên trong tăng đoàn: bộ phái Trưởng
lão bộ (Sthaviravada) gồm các tu sĩ có khuynh hướng bảo thủ,
và Đại chúng bộ (Mahā-sanghika) gồm các tu sĩ có khuynh hướng
cải cách.
Một
trăm năm sau đó, Đại hội Kết tập III được triệu tập
dưới thời vua A-dục (Asoka), 268-232 trước TL. Dưới sự chỉ
đạo của ngài Mục-kiền-liên Tử Đế-tu (Moggaliputta Tissa),
Đại hội này gồm khoảng 1.000 vị tu sĩ đúc kết Kinh tạng
và
Thắng pháp tạng. Kinh tạng giờ đây gồm 5 bộ: Trường bộ,
Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ. Thêm vào
đó, tổ chức tăng đoàn theo truyền thống Trưởng lão bộ
được chấn chỉnh lại theo đúng các giới luật.
Trong
thời kỳ này, Đại chúng bộ bắt đầu phân chia ra thành
nhiều hệ phái. Nhiều nhà sử học ghi nhận có tất cả bốn
lần phân chia, tổng cộng là 7 hệ phái trong vòng 200 năm.
Bên cạnh đó, Trưởng lão bộ cũng bị phân chia bảy lần,
tạo ra mười một hệ phái. Vì vậy mà ngày nay có nhiều
sách viết về "mười tám hệ phái", cộng thêm với hai bộ
phái đầu tiên. Tuy nhiên, cũng có sách đã liệt kê đến
34 phái.
Vua
A-dục là một vị vua rất sùng bái đạo Phật, và đã đóng
góp rất nhiều trong công cuộc phát huy đạo pháp. Ngài đã
gửi nhiều phái đoàn đi truyền giáo nhiều nơi. Trong đó
có Đại đức Mahinda, một trong những người con của ngài,
cùng với 4 vị tu sĩ được gửi sang đảo Tích Lan để truyền
bá đạo Phật. Một mặt khác, đạo Phật cũng được phát
triển rộng rãi ở mạn tây bắc, và trung tâm Phật giáo ở
Kashmir trở thành một trong những trung tâm chính thời đó.
Trong thời kỳ này, các tư tưởng Đại thừa bắt đầu thành
hình, và thâm nhập vào một vài tông phái của Đại chúng
bộ.
3.
Thời
kỳ chuyển hóa: Theravāda
Khi
Đại đức Mahinda và phái đoàn truyền giáo sang Tích Lan, ngài
được vua Tích Lan giúp xây cất một ngôi chùa lớn, gọi
là Đại tự viện (Mahāvihara), và từ đó thành lập tông
phái Đại tự viện ở xứ này. Một trăm năm sau thì một
ngôi chùa khác, tự viện Vô úy sơn (Abhayagiri), được xây
cất và các tu sĩ ở chùa này bắt đầu tạo ảnh hưởng
lớn mạnh ở Tích Lan. Thêm vào đó, cũng có nhiều nhóm tu
sĩ với khuynh hướng Đại thừa từ Ấn Độ sang hoạt động
tại xứ này, nhưng không có ảnh hưởng sâu rộng. Sự tranh
giành ảnh hưởng giữa hai tông phái nguyên thủy Đại tự
viện và Vô úy sơn kéo dài qua nhiều thế kỷ, và chỉ chấm
dứt vào khoảng thế kỷ thứ 12, khi nhóm Đại tự viện được
vua Parakkamabahu chính thức thừa nhận, kết tạo thành tông
phái Theravāda như chúng ta thấy được ngày nay.
Vào
khoảng năm 29-17 trước TL, 500 tu sĩ phái Đại tự viện tập
họp lại và bắt đầu cho viết các tạng Kinh, Luật và Thắng
pháp trên một loại giấy bằng lá bối đa. Lần đầu tiên,
sau gần 500 năm truyền khẩu, ba bộ tạng được ghi chép trên
lá bối, và từ đó, Tam tạng kinh điển hệ Pāli bằng văn
bản được tạo ra và lưu truyền cho đến ngày nay. Đó là
Đại hội Kết tập IV. Sở dĩ văn tự Pāli được dùng vì
đó là ngôn ngữ chính thống miền Tây Ấn và là ngôn ngữ
của ngài Mahinda. Nhờ tình trạng xã hội tương đối ổn
định và đảo Tích Lan tương đối biệt lập, các bộ Tam
tạng này đã được gìn giữ nguyên vẹn, dù rằng trong khi
sao chép chuyển truyền từ đời này sang đời khác, có thể
có một vài sửa đổi, sơ sót. Nhưng đó chỉ là các đoạn
nhỏ, không quan trọng.
Từ
đó, Đại tạng kinh được truyền bá sang các nước lân cận
như Miến Điện, Thái Lan, Lào, và Cam Bốt. Ngoài ra, một số
các bộ luận thuyết của các danh sư trong thời kỳ này, như
Thanh tịnh đạo (Visuddhi-magga) của ngài Phật Âm (Buddhaghosa)
trước tác trong thế kỷ 4 TL, Thắng pháp tập yếu (Abhidhammat-thasangaha)
của ngài Anuruddha, v.v. cũng được quý trọng, gìn giữ và
lưu truyền cho đến ngày nay.
Danh
từ Theravāda là tiếng Pāli, đồng nghĩa với chữ Sthaviravada
của tiếng Sanskrit, có nghĩa là "giáo thuyết của các vị
trưởng lão". Sách Tàu thường dịch là Trưởng lão bộ, có
khi dịch là Thượng tọa bộ, là một trong hai bộ phái chính
từ thời kỳ nguyên thủy. Tuy nhiên, danh từ Theravāda ngày
nay thường được dùng để chỉ truyền thống Phật giáo
Nam tông, bắt nguồn từ Tích Lan, chịu nhiều ảnh hưởng
của nhóm Đại tự viện, do Đại đức Mahinda và các tu sĩ
thuộc tông phái Phân biệt thuyết bộ (Vibhajyavada), một nhánh
của Trưởng lão bộ, truyền bá vào Tích Lan khoảng 200 năm
trước Tây lịch. So với các tông phái khác vẫn còn hoạt
động ngày nay, truyền thống Theravāda có thể được xem như
là một truyền thống tương đối lâu đời nhất, tương đối
gần với thời kỳ nguyên thủy nhất.
4.
Thời
kỳ chuyển hóa: Mahāyana
Khoảng
200 năm sau ngày Phật nhập Niết bàn, phái Đại chúng bộ
lan rộng tại nhiều vùng của xứ Ấn Độ và bắt đầu phân
hóa thành nhiều tông phái. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu,
các tông phái đều sử dụng kinh điển A-hàm (Āgama) bằng
ngôn ngữ Sanskrit, mặc dù đã có một vài sửa đổi để
hàm chứa tư tưởng đại thừa. Cho đến nay, các sử liệu
đều chỉ cho thấy rằng kinh điển đại thừa bắt đầu
xuất hiện trong những năm cuối cùng trước Tây lịch, lúc
đầu là một vài bài kinh ngắn, về sau được bổ sung thêm
và phát triển, kết tập lại thành những bộ kinh lớn.
Tuy
nhiên, chúng ta vẫn chưa biết đích xác là danh xưng "Mahāyana
Đại thừa" bắt đầu được sử dụng vào lúc nào, bắt
nguồn từ tông phái nào trong thời kỳ bộ phái. Đầu tiên,
danh xưng "Bồ tát thừa" được dùng, rồi dần dần về sau,
danh xưng Đại thừa xuất hiện trong các bộ kinh mới. Bộ
kinh đầu tiên có đề cập đến danh xưng này là bộ kinh
Diệu pháp Liên hoa. Có lẽ đó là kết tụ của những tiến
hóa tư tưởng trong mấy trăm năm sau khi có sự phân hóa tăng
đoàn lần đầu tiên. Có học giả cho rằng Mahāyana bắt nguồn
từ Đại chúng bộ vì cùng có những ý niệm phóng khoáng
trong giới luật. Tuy nhiên các ý tưởng của tông phái Thuyết
nhất thiết hữu bộ (Sarvastivadin), một tông chính của Trưởng
lão bộ, cũng được thu dụng và hàm chứa trong kinh điển
Mahāyana. Có học giả cho rằng Mahāyana phát nguồn từ các
tu sĩ có tư tưởng cải cách từ nhiều tông phái khác nhau,
như tông Nhất thuyết bộ (Ekavyavaharika), Thuyết xuất thế
bộ (Lokottaravadin), Kế dẫn bộ (Kaukutika), v.v.
Kinh
điển Đại thừa bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, có hệ
thống hơn, từ thế kỷ 1 TL trở về sau. Tiếc rằng các bộ
kinh đầu tiên, như Kinh Duy-ma-cật, Liễu Ba-la-mật, Bồ tát
tạng, Tam pháp kinh, v.v. nay không còn nguyên bản Sanskrit, mà
chỉ còn dịch bản chữ Hán và Tây Tạng, nên không thể đối
chiếu, truy tầm nguồn gốc. Tuy nhiên các bộ kinh đại thừa
quan trọng khác như Đại Bát nhã, Pháp hoa, Hoa nghiêm, A-di-đà
vẫn còn các bản gốc tiếng Sanskrit.
Sự
xuất hiện các bộ kinh đại thừa và sau đó là các quyển
luận thuyết của các ngài Mã Minh, Long Thọ, Long Trí, Đề
Bà, Vô Trước, Thế Thân trong bốn thế kỷ đầu Tây lịch
đánh dấu sự thành hình và phát triển nhanh chóng của Phật
giáo Mahāyana trong toàn xứ Ấn Độ. Ảnh hưởng này đã dần
dần lan rộng sang Trung Hoa, và từ đó có những phong trào
truyền bá, chuyển dịch kinh điển ở Trung Hoa qua nhiều thế
kỷ, từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7 TL, qua ba ngõ giao thông
chính: đầu tiên là qua miền Trung Á, qua ngõ Nepal -Tây Tạng,
và bằng đường biển.
5.
Cùng
một cỗ xe: Pháp thừa (Dhammayana)
Tóm
lại, trong 100 năm sau khi Đức Phật tịch diệt, giữa Đại
Hội Kết Tập I và II, Đạo Phật được xem như là ở trong
thời kỳ nguyên thủy, với một tăng đoàn tương đối còn
ít, có nhiều liên hệ chặt chẽ, giới luật thuần nhất,
dưới sự lãnh đạo của các cao tăng vốn đã xuất gia và
thọ giới khi Đức Phật còn tại thế.
Sang
thời kỳ bộ phái, kéo dài khoảng 400 năm từ sau Đại hội
II cho đến đầu Tây lịch, các mầm mống phân hoá đã bắt
đầu xuất hiện, với sự phân chia thành hai bộ, và sau đó
tiếp tục phân hóa thành 18 tông. Qua Đại hội III được
tổ chức dưới triều vua A- dục, việc kết tập Kinh tạng
và Thắng pháp tạng xem như đã hoàn tất. Mặc dù trong thời
kỳ này, các kinh A-hàm và giới luật nguyên thủy vẫn được
các tông phái tôn trọng với những cách diễn dịch khác
nhau các ý tưởng canh tân, đại chúng hóa đạo pháp bắt
đầu thành hình, nhất là trong thế kỷ cuối cùng trước
Tây lịch.
Thời
kỳ tiếp theo là thời kỳ chuyển hóa, kéo dài khoảng 500
năm cho đến đầu thế kỷ 6. Trong thời kỳ này, Phật giáo
bắt đầu có hai hướng phát triển khác nhau, và kéo dài ảnh
hưởng đến ngày nay. Từ Ấn Độ, đạo Phật được truyền
về hướng Nam, sang đảo Tích Lan, và tạo lập một căn bản
vững chắc ở đó. Đại hội Kết tập IV tại Tích Lan đánh
dấu việc ghi chép toàn bộ Tam tạng trên lá bối, và được
lưu truyền cho đến ngày nay qua truyền thống Theravāda.
Cũng
trong thời kỳ này, các tư tưởng canh tân của Đại thừa
đã bắt đầu tạo ảnh hưởng lớn mạnh, qua các bộ kinh
điển mới và qua các bộ luận thuyết của các danh tăng vào
giữa và cuối thời kỳ này. Các tông phái Đại thừa bắt
đầu xuất hiện và tăng trưởng nhanh chóng. Đạo Phật truyền
sang mạn Tây Bắc, tạo lập trung tâm Phật giáo ở Kashmir,
và từ đó truyền vào Trung Hoa.
Khi
đạo Phật bắt đầu phát triển ở Trung Hoa, tăng đoàn ở
đó đã thu nhận và chuyển dịch rất nhiều kinh điển, từ
nhiều nguồn gốc và tông phái khác nhau, và qua nhiều thời
kỳ lịch sử. Các bộ Tam tạng nguyên thủy được dịch ra
chữ Hán từ nhiều bộ phái khác nhau. Các bộ kinh chính của
Đại thừa cũng thế, có nhiều thay đổi theo thời gian, và
được bổ sung, sửa chữa nhiều lần. Có khi các bộ kinh
này chỉ được truyền khẩu bằng tiếng Phạn vào Trung Hoa,
rồi sau đó mới được dịch, giản lược, nhuận sắc và
ghi chép lại. Có khi các danh tăng Trung Hoa du hành sang Ấn Độ
học tập, rồi mang về các bộ kinh điển để phiên dịch
và phổ biến trong nước. Cũng có những bộ kinh không có
nguồn gốc rõ ràng và có lẽ đã được trước tác tại
Trung Hoa. Ngài Đạo An trong thời Đông Tấn, thế kỷ thứ
4 TL, đã từng đặt vấn đề "kinh nghi ngụy" để xác định
kinh thật, kinh giả. Cả hai truyền thống chính Theravāda
và Mahāyana đều có mặt tại xứ này trong thời gian đó.
Để
sắp xếp và thống nhất nguồn gốc của các loại kinh điển,
các tăng sĩ thời đó đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau
(các học thuyết "phán giáo"). Trong đó, thuyết của ngài Trí
Giả, tông Thiên Thai, là phổ thông nhất và vẫn còn thấy
lưu dụng cho đến ngày nay trong một số sách Phật giáo. Ngài
cho rằng Đức Phật đã giảng kinh pháp trong 5 thời kỳ (ngũ
thời phán giáo): Hoa nghiêm, A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã,
và Pháp hoa - Đại Niết bàn, và vì thế có nhiều loại kinh
điển từ nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên, đây chỉ là
một lối giải thích chủ quan để tổng hợp, hệ thống hóa
toàn bộ kinh điển và biện minh sự siêu việt của Pháp hoa
tông mà thôi. Giả thuyết này không có chứng liệu lịch sử,
và không được các nhà nghiên cứu sử học Phật giáo ngày
nay công nhận.
Tại
Tích Lan cũng thế, trong những thế kỷ đầu tiên, cả hai
truyền thống Mahāyana và Theravāda đều có mặt tại xứ này,
mặc dù truyền thống Theravāda có ảnh hưởng mạnh hơn, như
ngài Pháp Hiển đã ghi nhận trong quyển Phật quốc ký. Ngài
cũng ghi nhận là có các nhóm tu sĩ phái Đại tự viện, tuy
là Theravāda nhưng có tinh thần đại thừa rất cao. Còn tại
Ấn Độ, các ngài Huyền Trang và Pháp Hiển đều ghi nhận
sự hoạt động hài hòa của các tông phái khác nhau trong nhiều
thế kỷ.
Đặc
biệt tại Việt Nam trong nhiều thập niên vừa qua, cả hai
tông phái Mahāyana và Theravāda đều được công nhận và cùng
chung nhau hoạt động trong công tác hoằng dương đạo pháp.
Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam soạn ra năm
1963 đã chính thức xác nhận điều đó.
Tuy
nhiên, để tránh hiểu lầm, chúng ta không nên dùng danh xưng
"Tiểu thừa" để gọi tông phái Theravāda. Điều này thường
gặp trong một số sách báo và bài viết về đạo Phật. Thật
ra, "Tiểu thừa" là dịch từ chữ "Hīnayana" cỗ xe nhỏ
một chữ dùng rất nhiều trong kinh điển và luận thuyết
Đại thừa, có hàm ý chê bai, khinh miệt. Chữ "Hīna" ỏ đây
không phải là nhỏ bé, mà có nghĩa là hạ liệt, thấp kém.
Có lẽ đây là một dụng ý thâm sâu của các tu sĩ luận
sư Đại thừa để chê bai các bộ phái Nguyên thủy, bởi
vì nếu các vị ấy chỉ có ý muốn diễn tả một cỗ xe
nhỏ thì danh từ "Cullayana" (Culla: nhỏ) có ý nghĩa chính xác
và nghiêm túc hơn.
Cũng
cần ghi nhận ở đây là các danh xưng "Đại thừa" và "Tiểu
thừa" chỉ thấy đề cập trong kinh luận Mahāyana xuất hiện
về sau, mà không thấy trong kinh điển nguyên thủy. Trong hệ
Pāli Nikāya cũng như hệ Hán tạng A-hàm, Đức Phật có dạy
ngài Ānanda về một cỗ xe Pháp duy nhất Pháp thừa (Dhammayana).
Đó là Con đường tám chánh (Bát Chánh Đạo), như đã ghi
lại trong Tương ưng bộ và Tạp a hàm (SN XLV.4, SA 769):
"Này
Ānanda, con đường tám chánh này là đồng nghĩa với cỗ xe
tối thượng, là cỗ xe pháp, là sự chiến thắng vô thượng
trong mọi chiến trận nhiếp phục tham, sân, si."
Khi
đọc kinh điển, chúng ta cần phải hiểu rõ hoàn cảnh lịch
sử xã hội khi các kinh này được tạo ra. Các kinh Đại thừa
được trước tác và xuất hiện vào cuối thời kỳ bộ phái,
nghĩa là khoảng 400-500 năm sau khi Đức Phật tịch diệt. Đây
là các tư tưởng cải cách để đại chúng hóa đạo Phật,
đối kháng lại đường lối thủ cựu, giáo điều, chấp
kiến và vị kỷ của một số tu sĩ trong giới lãnh đạo
tăng đoàn của nhiều tông phái thời bấy giờ, chứ không
phải để ám chỉ riêng biệt một tông phái nào cả.
Khuynh
hướng ngày nay là dùng chữ Mahāyana và Theravāda nguyên ngữ
để chỉ hai tông phái này. Khi dịch sang Việt ngữ, thường
thì chúng ta dùng danh từ Phật giáo Đại thừa và Phật giáo
Nguyên thủy, nhưng cũng có khi thấy dùng từ Phật giáo Bắc
truyền (Bắc tông) và Phật giáo Nam truyền (Nam tông) để
chỉ hướng truyền đạo của Phật Pháp trong thời kỳ chuyển
hóa, từ Ấn Độ đến các nơi khác. Gần đây, chúng ta thấy
có khuynh hướng dùng danh xưng Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda)
và Phật giáo Phát triển (Mahāyana) cho hai tông phái chính ở
Việt Nam.
Dù
là tông phái nào đi nữa, đó cũng chỉ là giáo pháp phương
tiện giúp ta tu tâm tịnh ý để được an lạc và giải thoát.
Chúng ta cần phải hiểu rõ nguồn gốc và hoàn cảnh lịch
sử trong tiến trình phát triển các bộ kinh điển và tông
phái, để có được một sự thông cảm, hòa đồng và tương
kính.
Trong
kinh Pháp hoa, Đức Phật có nói: "Chư Phật chỉ dùng một
cỗ xe duy nhất đưa đến giải thoát (nhất thừa Phật đạo),
không có hai mà cũng chẳng có ba". Trong Tiểu bộ và Tăng chi
bộ của kinh tạng nguyên thủy, Ngài cũng dạy rằng:
"Như
tất cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các
giáo pháp của Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị
giải thoát."
-4-
Đời sống
cư sĩ
Robert
Bogoda
Phật
Pháp không phải là sách tiểu thuyết để đọc rồi quên
đi. Phật Pháp có liên quan đến đời sống một đời sống
thực, một đời sống mà bạn và tôi trải qua hằng ngày.
Giá trị của đời sống này sẽ gia tăng đáng kể khi Phật
Pháp được diễn dịch ra hành động, và thấm nhập vào tính
tình của chúng ta qua các nỗ lực thường xuyên, qua các thực
tập mỗi ngày.
Mục
đích tối hậu của Phật Pháp là đưa đến Niết bàn, vượt
thoát khỏi mọi hoạn khổ, phiền não. Mục đích trước mắt
là giúp ta hiểu rõ và giải quyết các vấn đề mà ta phải
đối phó trong đời sống hằng ngày, giúp ta trở thành những
con người sống an lạc, thảnh thơi và thăng bằng, sống hòa
hợp với môi trường chung quanh và những người đồng loại.
Tuy thế, sự thăng bằng này cũng không dễ thực hiện, nhất
là trong thế giới ngày nay với nhiều giá trị ảo tưởng
và các thành kiến hư ngụy.
Khác
hẳn với các giá trị tương đối và có khi là giả tạo
trong thời đại của chúng ta, lời dạy của Ðức Phật
là một sự khải hiện các giá trị chân thật và tuyệt đối.
Chân Pháp đó cần phải được mỗi người tự thể nghiệm.
Phật giáo dạy về sự tư duy rõ ràng, sự tự chế, và nuôi
dưỡng tâm ý như là các phương tiện để thấu đạt Chân
Pháp. Người cư sĩ nào biết xây dựng cuộc sống hằng ngày
trên căn bản vững chắc của tri thức giải thoát với các
lý tưởng rõ ràng thì người ấy được bảo đảm các tiến
bộ và thành công trong đời sống tại gia của mình.
Do
đó, Phật Pháp là các hướng dẫn trong đời sống hằng ngày
của ta, và các nguyên tắc căn bản của đạo Phật có những
giá trị thực tiễn trong nghệ thuật sống trên đời. Người
cư sĩ tại gia, trong khi phải dấn thân vào xã hội vì cưu
mang các trách nhiệm trong đời sống, sẽ không bao giờ quên
mục đích tối hậu của họ là Niết bàn giải thoát. Người
ấy lúc nào cũng nên xem rằng đời sống của mình chỉ là
một bãi tập, để sửa soạn tiến đến thực chứng mục
đích tối hậu ấy.
Kinh
Ðại hạnh phúc (Mahāmangala sutta) có nói rằng, các phước
hạnh thật sự của đời sống là có được "một tâm ý
có định hướng đúng" (atta-samma-panidhi). Có nghĩa là ta phải
nhận thức đúng đắn vị trí của mình trong thế gian, có
quyết định đúng đắn về mục tiêu, và tìm một con đường
đúng đắn để tiến đến mục tiêu đó.
Người
an lạc và thăng bằng là người có một mục đích cao thượng
trong đời sống, có một đường lối tốt để đi theo, và
có một triết lý sống đơn giản nhưng đầy ý nghĩa để
dẫn đường. "Triết lý" ở đây là một ước vọng hướng
thiện để thông hiểu bản tính và tương lai của con người
trong vũ trụ. Không có triết lý như vậy thì đời sống trở
nên tẻ nhạt, buồn chán, vô ích, và vô nghĩa. Triết lý đó
giúp con người sống hài hòa với thế giới và đồng loại,
trong một tiến trình thăng hoa dựa theo các tri thức chân chánh.
Trong
đạo Phật, tâm ý bao trùm vật chất. Một nét đặc thù của
tâm ý là "ý định" (hay "tác ý"). Ðể sử dụng tốt cuộc
đời và nghiệp kế thừa của mình, ta phải biết chọn một
mục tiêu hướng thượng và thực tiễn trong đời sống, và
tạo ra một kế hoạch để đi đến đó. Chúng ta sẽ trở
nên những gì mà ta mong muốn sẽ được như thế.
Khi
ta càng thông hiểu bản thân qua hành trì tự quán sát và
tự phân tích ta sẽ càng có nhiều khả năng để tự cải
tiến và phát triển. Thêm vào đó, ta nên tự hỏi rằng mình
sẽ tiến và tiến đến cấp độ nào trong việc tu tâm, để
mình trở nên độ lượng, an bình, tự tại, dịu dàng, thông
cảm, chân thật, hiền lành, chất phác, cẩn thận, tinh tấn,
cần mẫn, nhẫn nại, bao dung, và khôn khéo. Ðó là các đức
tính cao quý của một Phật tử biết sống hợp thời. Ta phải
cố gắng tự cải thiện mỗi khi có cơ hội mỗi ngày một
ít. Ta nên hiểu rằng mỗi khi mình thực hiện một hành động
hướng thiện, dần dần nó được huân tập thành một thói
quen tốt. Từ các thói quen tốt đó, chúng sẽ thấm nhập
tạo thành các đặc tính cao thượng cho bản thân.
Chánh
niệm là một sự tỉnh giác quan trọng. Chánh niệm là nhìn
sự vật một cách khách quan, lột bỏ mọi ưa ghét, thành
kiến và thiên vị. Ðây là cách nhìn mọi sự vật theo bản
thể chân thật của chúng các sự kiện lột trần. Khả
năng làm được điều này đánh dấu sự trưởng thành trong
Phật Pháp. Nguyên tắc quán sát vô tư phải được áp dụng
rốt ráo trong các tư duy hằng ngày. Từ đó, sự suy tư của
ta sẽ được rõ ràng, trong sáng hơn, và ta sẽ sống hướng
thiện hơn, làm giảm thiểu các ảnh hưởng xấu xa tác động
vào mình, từ các phương tiện truyền thông quảng cáo tiêu
thụ vật chất. Kết quả là ta có được các tăng trưởng
về những quan hệ tốt giữa con người với con người.
Vì
vậy, một Phật tử có nhân cách thăng bằng là người phải
biết tự chủ, tự quyết định, tự tạo ra các ý kiến và
kết luận khi phải đối phó với các khó khăn trong cuộc
sống, dựa vào các nguyên tắc cơ bản của Phật Pháp. Người
ấy có một tri thức và luân lý dũng mãnh. Người ấy sẵn
sàng đứng một mình, theo đuổi một con đường sống của
mình, cho dù người khác có thể hiểu lầm và dị nghị.
Dĩ
nhiên là người Phật tử ấy phải biết đón nhận các ý
kiến đóng góp và cố vấn của người khác bởi vì việc
thu nhận các ý kiến xây dựng từ những người có kiến
thức và kinh nghiệm thì không phương hại gì đến sự tự
do chọn lựa của mình nhưng cuối cùng rồi thì phải tự
mình có những quyết định cho đời mình.
Thấy
được quan hệ giữa lòng tham dục và sự khổ đau, chúng
ta phải luôn luôn gìn giữ một mức độ xả ly, thoát khỏi
các ràng buộc quá đáng của thế tục. Chúng ta phải biết
điều chỉnh đời sống của mình trong kỷ cương của năm
giới luật cư sĩ (ngũ giới). Từ đó, ta bảo vệ được
sự an lành của ta, trong hiện tại và tương lai, qua cách sống
thuận hòa với các quy luật phổ quát của Phật Pháp được
áp dụng vào đời sống tinh thần và đạo đức của mình.
Phát triển đặc tính luân lý và đạo đức (sīla - trì giới)
này là một điều kiện tiên quyết để huân tập tâm ý và
từ đó, làm nền tảng tạo trí tuệ (pañña) cần thiết để
thực chứng Niết bàn.
Ðời
sống là vô thường, lúc nào cũng có nhiều thay đổi. Các
tai họa hoặc những việc bất ưng ý có thể sẽ xảy ra cho
ta, và khi đó, ta phải biết trực diện chúng một cách bình
thản và thăng bằng. Nếu làm được như thế thì chứng tỏ
ta đã có sự hiểu biết chân chính, biết nhìn rõ ràng sự
kiện xảy ra theo luật nhân quả, do nhân duyên hợp thành,
và biết rằng chính ta là người gieo nhân và chịu trách nhiệm
gặt quả nếu không trong đời sống này thì cũng là từ
nhiều kiếp trước. Ta sẽ vượt qua các nỗi sợ hãi và lo
âu thái quá, không có cơ sở và không có luận lý, bởi vì
ta biết chế ngự các cảm tính của mình. Từ đó, những
ngộ nhận, những bất công trong đời, những u sầu vì tưởng
rằng mình bị đối xử tàn tệ sẽ được ta thông hiểu
rõ ràng và đón nhận nhẹ nhàng hơn, vì ta đã hiểu được
cặp nguyên lý nghiệp quả và tái sinh.
Còn
một lý do nữa để người Phật tử gìn giữ tác phong đạo
đức của mình. Người ấy có uy lực bắt nguồn từ các
nguồn lực vô hình khác đó là kho tích trữ các hành động
toàn thiện, các đức tính của tự thân, các hạnh phúc có
được trong lúc tập hành thiền, tất cả các nguồn lực
này hoàn toàn độc lập đối với của cải vật chất. Như
thế, người ấy là chủ nhân của một tâm ý tự lực và
tự túc.
Người
ấy biết sống đơn giản, không có nhiều nhu cầu. Của cải
vật chất đối với người ấy chỉ là những đầy tớ,
không phải là những chủ nhân ông. Người ấy hoàn toàn tự
do, không bị lệ thuộc vào sự sai khiến của các sự vật
bên ngoài. Người ấy nhận thức được rằng các sự vật
thấy được thì chỉ là tạm bợ và thay đổi luôn. Tóm lại,
người ấy có được một tâm ý bình thản, chừng mực, và
tri túc. Tri túc, như lời Phật dạy, là một nguồn tài sản
lớn nhất, là một trong bốn nguồn hạnh phúc:
Không
bệnh là Lợi tối thượng
Tri
túc là Của tối thượng
Thành
tín là Bạn tối thượng
Niết
bàn là Lạc tối thượng (Pháp cú, 204).
Khi
đã thông hiểu như thế, người Phật tử đó sẽ học được
cách thích nghi với những hoàn cảnh đổi thay mà không bao
giờ sầu khổ than van hay buồn rầu cay đắng.
Nếu
ta có chánh tín (saddhā), nghĩa là có niềm tin nơi Phật Pháp
dựa trên sự hiểu biết, ta phải cố gắng thực hành. Mỗi
Phật tử chân chính phải thực hành liên tục bốn điều
tinh tấn tứ chánh cần vốn là chi thứ sáu của Bát
Chánh Đạo. Ðó là tinh tấn vượt qua và tinh tấn ngăn chận
các pháp bất thiện như là các ý tưởng sân hận, tinh tấn
phát triển và tinh tấn nuôi dưỡng các pháp thiện trong tâm
ý như là các ý tưởng từ bi. Các tâm ý này chẳng những
sẽ bảo vệ bản thân ta, mà từ đó cũng sẽ giúp đem an
vui đến cho những người chung quanh ta.
Ta
phải tập có thói quen suy xét về các tư tưởng và hành động
của chính mình để xem chúng có chân thật hay không, bởi
vì chân thật với chính mình là một con đường chắc chắn
đưa đến tâm ý toàn thiện. Thêm vào đó, chúng ta phải biết
dành thì giờ mỗi ngày để tĩnh lặng tự quán soi, hay hành
thiền, để ôn lại các việc làm trong ngày, và để suy xét
xem ta có đi ngược lại với các nguyên tắc căn bản mà Ðấng
Từ Phụ của chúng ta đã từng khuyên dạy, để sám hối
và tránh phạm các lỗi lầm đó trong tương lai.
Mỗi
ngày, ta cũng nên đọc một đoạn kinh từ các bài giảng của
Ðức Phật. Thói quen hữu ích này giúp chúng ta phát triển
tâm ý thiện, làm giảm các mối u sầu, phiền muộn, và giúp
đưa đời sống của ta đi vào con đường chân chính.
Qua
các cách thức nêu trên, là những cư sĩ đệ tử của Ðức
Phật, chúng ta sẽ luôn tăng trưởng trong ánh sáng nhiệm mầu
của Chánh Pháp, luôn luôn uốn nắn nhân cách của mình, rèn
luyện tâm thức, huân tập các cảm tính, và tăng cường ý
chí dũng mãnh để tạo những lợi ích phước báu lâu dài
cho bản thân và cho người khác.
(Bình
Anson lược dịch)
-5-
Bố thí
Bình
Anson
Bố
thí là một đức hạnh cao quí thường được đề cập đến
trong cuộc sống tu tập của người con Phật, tu sĩ lẫn cư
sĩ, trong mọi tông phái Phật giáo.
Có
lẽ đa số Phật tử chúng ta đều nghe biết nhiều về các
lời giảng trong kinh điển Bắc truyền, đều quen thuộc với
các khái niệm hành trì như Lục độ ba-la-mật và Tứ nhiếp
pháp của hàng Bồ tát. Lục độ ba-la-mật gồm có 6 đức
hạnh: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
và trí tuệ. Tứ nhiếp pháp gồm có: bố thí, ái ngữ, lợi
hành, và đồng sự.
Trong
kinh điển nguyên thủy, bố thí là một đức hạnh tối quan
trọng mà Đức Phật thường giảng dạy và khuyên nhủ chúng
ta nên cố gắng tu tập. Tứ nhiếp pháp cũng được ghi lại
trong kinh điển. Thêm vào đó, trong khi kinh điển Bắc truyền
có ghi 6 pháp ba-la-mật, kinh điển nguyên thủy đề cập đến
10 pháp ba-la-mật của hàng Bồ tát, gồm: bố thí, trì giới,
xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, kiên nhẫn, chân thật, chí nguyện,
từ tâm, và xả ly. Cho nên, khái niệm về các hạnh ba-la-mật
trong tất cả các tông phái đều rất giống nhau, đều đề
cao bố thí như là đức hạnh đầu tiên cần phải được
tu tập.
Ở
đây, chỉ xin trình bày tóm tắt, giới hạn trong phạm vi pháp
bố thí trong thế gian, về các lời dạy của Đức Phật cho
hàng đệ tử cư sĩ tại gia chúng ta, như đã ghi lại trong
kinh tạng Nikāya nguyên thủy.
*
"Bố
thí" là chữ Hán Việt, gồm chữ "Bố" và chữ "Thí". "Bố"
là bày ra, ban rộng ra, trải đều ra; như trong những chữ:
ban bố, phân bố, tuyên bố, công bố, bố trí, bố cục, bố
cáo, bày binh bố trận. "Thí" còn đọc một âm khác là "Thi",
nghĩa là thực hiện, áp dụng, làm ra; như trong những chữ:
thí nghiệm, thí điểm, thí công (thi công).
"Bố
thí" có nghĩa là làm cho rộng ra, trải rộng ra, phân chia cùng
khắp. Từ đó, bố thí mang một ý nghĩa là: chia xẻ, san sẻ.
Tiếng Anh thường dịch là giving, donating, hay sharing. Trong tiếng
Pāli (Phạn ngữ), bố thí là dāna, hay cāga.
"Dāna"
thường được phiên âm là "đàn-na", có khi chỉ gọi tắt
là "đàn", như thường thấy trong cụm từ "Đàn ba-la-mật",
viết tắt từ "Đàn-na ba-la-mật", "Dāna pārami", hay là hạnh
ba-la-mật về sự bố thí.
Trong
kinh sách, đôi khi chúng ta thấy có sự dùng chữ kết hợp
âm tiếng Phạn và tiếng Hán. Thí dụ như chữ "Đàn chủ":
Đàn là từ chữ Phạn "Dāna", Chủ là tiếng Hán. Đàn chủ
là người đứng ra thực hiện việc bố thí cúng dường,
tiếng Pāli là "dānapati".
"Đàn
chủ" cũng còn được gọi là "thí chủ". Chữ "thí" ở đây
là nói tắt từ chữ "bố thí". Trong thuật ngữ Phật học,
chữ "thí" không còn mang nghĩa đen là "làm, thực hiện, hành
động", mà thường được hiểu như là chữ tắt của "bố
thí". Ngoài chữ "thí chủ", chúng ta thường thấy các chữ
khác như là: đàn-na tín thí, nhà thương thí, thí thực, thí
cô hồn, tài thí, pháp thí, niệm thí, v.v. Tất cả đều có
hàm chứa ý nghĩa "bố thí".
*
Trong
Trường bộ, kinh 33; trong tập Phật thuyết như vậy, chương
Ba pháp, thuộc Tiểu bộ; và trong Tăng chi bộ, chương Tám
pháp, Đức Phật có dạy 3 pháp hành để tạo căn bản phước
báu trên đường tu tập. Đó là: bố thí (dāna), trì giới
(sīla), và tu thiền (bhāvanā): "Này các Tỳ khưu, có ba phước
nghiệp sự này. Đó là: phước nghiệp sự do bố thí tác
thành, phước nghiệp sự do giới tác thành, và phước nghiệp
sự do tu thiền tác thành".
Bố
thí là một trong 3 hạnh kiểm được người hiền trí, bậc
thiện nhân tán thán. Đó là: bố thí, xuất gia, và phụng
dưỡng cha mẹ. Xuất gia (pabbajjā) ở đây có ý nghĩa là sự
thiểu dục, sự thoát ly điều bận rộn phiền não, thọ trì
pháp không não hại, sống chế ngự, điều phục và hòa hợp.
Trong Tăng chi bộ, chương Ba pháp, Đức Phật dạy: "Này các
Tỳ khưu, có ba pháp được người hiền trí tuyên bố, được
bậc chân nhân tuyên bố. Đó là: bố thí, xuất gia, và hầu
hạ cha mẹ."
Bố
thí cũng là một trong bốn pháp để thu phục nhân tâm, chung
sống hài hòa trong gia đình cũng như trong Tăng chúng và trong
xã hội. Tăng chi bộ, chương Bốn pháp, có ghi lại lời khuyên
của Đức Phật như sau:
- Này
các Tỳ khưu, có bốn nhiếp pháp này. Thế nào là bốn?
Bố
thí và ái ngữ,
Lợi
hành và đồng sự
Hỡi
các vị Tỳ khưu,
Ðây
là bốn nhiếp pháp.
Bố
thí và ái ngữ,
Lợi
hành và đồng sự,
Ðối
với những pháp này,
Ở
đời đối xử nhau,
Chỗ
này và chỗ kia,
Như
vậy thật tương xứng.
Và
bốn nhiếp pháp này,
Như
đỉnh đầu trục xe,
Nếu
thiếu nhiếp pháp này,
Thời
cả mẹ lẫn cha
Không
được các người con
Tôn
trọng và cung kính.
Do
vậy bậc hiền trí,
Ðồng
đẳng nhìn nhiếp pháp
Nhờ
vậy họ đạt được,
Sự
cao lớn, tán thán.
Trong
truyền thống Nam tông, một trong những bài kinh mà chúng ta
thường được nghe tụng đọc là kinh Đại hạnh phúc (Mahāmangala
sutta), thuộc Kinh tập, Tiểu bộ. Trong bài kinh này, Đức Phật
giảng rằng bố thí là một trong 38 điều mang lại hạnh phúc
tối thượng cho người cư sĩ tại gia chúng ta. Đức Phật
còn cho biết rằng bố thí là một trong ba yếu tố để biết
được một người có lòng tin trong sạch nơi Chánh Pháp, như
đã ghi lại trong Tăng chi bộ, chương Ba pháp:
"Do
ba sự kiện, này các Tỳ khưu, một người được biết là
có lòng tin. Thế nào là ba? (1) Ưa thấy người có giới hạnh,
(2) ưa nghe diệu pháp, (3) với tâm ly cấu uế của xan tham,
sống trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa
thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, thích phân phát
vật bố thí."
Một
người bố thí trong sạch như thế, theo lời Đức Phật, sẽ
tạo được một tài sản rất lớn, không bao giờ bị lửa
đốt cháy, lụt làm trôi mất, bị ăn trộm, bị chánh quyền
tịch thu, hay bị kẻ thù địch lấy đi mất. Tài sản phước
báu do hạnh bố thí tạo ra là một trong 7 loại tài sản cao
quí nhất gọi là thánh tài mà chúng ta có thể tích lũy
được. Đức Phật dạy trong Tăng chi bộ, chương Bảy pháp:
Này
các Tỳ khưu, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy? Tín
tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
(...) Và này các Tỳ khưu, thế nào là thí tài? Ở đây, này
các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế
của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở,
ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích
san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ khưu, đây gọi là thí tài.
Bố
thí cũng được xem là một loại hương thơm cao quý, tỏa
ra cùng khắp, theo mọi hướng, tạo ra nhiều tiếng lành, danh
thơm cho xóm làng hay cộng đồng nơi chúng ta sinh hoạt. Trong
Tăng chi bộ, chương Ba pháp, Ngài Ānanda hỏi Đức Phật:
- Bạch
Thế Tôn, loại cây hương gì có mùi hương bay thuận gió,
có mùi hương bay ngược gió, có mùi hương bay thuận gió lẫn
ngược gió?
Đức
Phật trả lời:
- Ở
đây, này Ānanda, tại làng nào hay tại thị trấn nào, có
nữ nhân hay nam nhân quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng,
tuân giữ 5 giới, tâm tính hiền lương, sống trong nhà với
tâm không nhiễm xan tham, bố thí không luyến tiếc với tay
rộng mở, thích thú từ bỏ, sẵn sàng được yêu cầu, ưa
thích chia xẻ đồ bố thí. Người như vậy, được các Sa
môn, Bà la môn, chư thiên và các phi nhân đều tán thán. Và
như thế, người đó là loại cây hương quý. Cây hương đó,
này Ānanda, có mùi hương bay thuận gió, có mùi hương bay ngược
gió, có mùi hương bay thuận gió lẫn ngược gió.
*
Tuy
nhiên, hạnh bố thí không phải là một điều dễ thực hiện
như nhiều người thường hiểu lầm. Đây là một pháp môn
tu tập đòi hỏi chúng ta phải tinh tấn, có chánh niệm và
trí tuệ.
Trước
hết, Đức Phật dạy rằng khi bố thí, chúng ta phải biết
nhận thức rõ ràng về vật cho, cách cho, và tâm ý cho. Trong
Tăng chi bộ, chương Tám pháp, Ngài dạy:
"Này
các Tỳ khưu, có tám sự bố thí của bậc chân nhân. Thế
nào là tám? Cho vật trong sạch; cho vật thù diệu; cho đúng
thời; cho vật thích ứng; cho với sự cẩn thận; cho luôn
luôn; khi cho, tâm tịnh tín; sau khi cho, tâm luôn hoan hỷ".
Như
thế, khi bố thí, vật cho phải là vật trong sạch, vật thù
diệu, vật thích ứng; cách cho phải là cho đúng thời, cho
với sự cẩn thận, cho luôn luôn; và tâm ý cho phải là tâm
tịnh tín khi cho, tâm luôn hoan hỷ sau khi cho.
Trong
Tăng chi bộ, chương Năm pháp, Đức Phật dạy: "Có năm loại
bố thí xứng đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng tin; bố
thí có kính trọng; bố thí đúng thời, bố thí với tâm không
gượng ép; bố thí không làm thương tổn mình và người."
Ngài cũng dạy về năm loại khác là: "Có năm loại bố thí
xứng đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng cung kính; bố thí
có suy nghĩ; bố thí tự tay mình; bố thí đồ không quăng
bỏ; bố thí có suy nghĩ đến tương lai".
Về
bố thí cho đúng thời, Đức Phật nêu rõ có 5 loại:
- Bố
thí cho người mới đến trú xứ của chúng ta.
- Bố
thí cho người sắp ra đi, rời khỏi trú xứ của chúng ta.
- Bố
thí cho người đau bệnh.
- Bố
thí trong thời đói.
- Phàm
những hoa quả gì mới gặt hái được, dành chúng đầu tiên
để cúng dường các bậc giữ giới hạnh.
Nếu
được như thế, hạnh bố thí sẽ mang lại các lợi ích:
"Tùy theo vật bố thí, tùy theo cung cách bố thí, kết quả
sẽ đưa đến cho người bố thí với tài sản sung mãn, với
dung sắc thù thắng như hoa sen, với vợ con, các người làm
công tận tụy phục vụ tuân hành, với các vật dụng đến
đúng thời, đúng lúc, với năm dục công đức được thọ
hưởng đầy đủ, và với các tai nạn không hề xảy đến."
Trong
các đoạn kinh khác, Đức Phật dạy thêm về các lợi ích
khác:
"Này
các Tỳ khưu, có năm lợi ích này của bố thí. Thế nào là
năm?
-
Được nhiều người ái mộ, ưa thích.
-
Được bậc thiện nhân, chân nhân thân cận.
-
Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi.
-
Không có sai lệch khi thuyết pháp.
-
Khi thân hoại mạng chung, được sinh lên cỏi lành thiên giới."
Về
lợi ích của bố thí thực phẩm: "Người bố thí bữa ăn,
này các Tỳ khưu, sẽ được hưởng năm kết quả: sống thọ,
sắc diện tươi đẹp, sống an lạc, có sức khỏe, có biện
tài".
Thêm
vào đó, theo Chú giải, để có kết quả to lớn, sự bố
thí phải hội đủ 3 điều kiện thành tựu:
1.
Thành tựu ruộng phước (khettasampatti), tức là nói đến đối
tượng thí, người thọ thí là bậc chánh hạnh, bậc hội
đủ các ân đức đặc biệt.
2.
Thành tựu vật thí (deyyadhammasampatti), tức là có vật thí
đầy đủ, hợp pháp, thanh tịnh và thích hợp lợi ích cho
người nhận.
3.
Thành tựu tâm ý (cittasampatti), tức là tác ý bố thí có đầy
đủ, có tâm tịnh tín, có tâm hoan hỷ trong ba thời: trước
khi làm, đang khi làm và sau khi làm.
Có
2 loại bố thí: bố thí tài vật (tiền bạc, thức ăn, vật
dụng) và bố thí pháp (giáo pháp, các điều hay, lẽ phải).
Trong 2 loại này, bố thí pháp là cao quý và có nhiều lợi
lạc hơn, như đã dạy trong kinh Pháp cú (kệ 354): "Bố thí
pháp là cao thượng hơn tất cả các pháp bố thí khác".
Trong
tập kinh Phật thuyết như vậy, bài kinh số 98, Đức Phật
dạy: "Có hai loại bố thí: bố thí tài vật và bố thí pháp.
Trong đó, bố thí pháp là bố thí tối thượng. Có hai sự
phân phát: phân phát tài vật và phân phát pháp. Trong đó,
phân phát pháp là phân phát tối thượng. Có hai loại giúp
đỡ: giúp đỡ bằng tài vật và giúp đỡ bằng pháp. Trong
đó, giúp đỡ bằng pháp là giúp đỡ tối thượng."
Trong
Tăng chi bộ, chương Một pháp: "Có hai loại bố thí: bố thí
tài vật và bố thí pháp. Trong đó, bố thí pháp là tối thắng."
Trong
Tương ưng bộ, tập I, chương I, có ghi lại câu chuyện trong
một đêm nọ, một vị thiên tử đến hỏi Đức Thế Tôn:
Cho
gì là cho lực?
Cho
gì là cho sắc?
Cho
gì là cho lạc?
Cho
gì là cho mắt?
Cho
gì cho tất cả?
Xin
đáp điều con hỏi?
Đức
Thế Tôn trả lời:
Cho
ăn là cho lực,
Cho
mặc là cho sắc,
Cho
xe là cho lạc,
Cho
đèn là cho mắt.
Ai
cho chỗ trú xứ,
Vị
ấy cho tất cả.
Ai
giảng dạy Chánh Pháp,
Vị
ấy cho bất tử.
Cũng
cần ghi nhận ở đây là có nhiều người thường than phiền
rằng vì điều kiện sinh hoạt làm ăn khó khăn, hay vì hoàn
cảnh gia đình, nên họ không có dư tiền của để thực hiện
hạnh bố thí. Tuy nhiên, đó chỉ là các bố thí tài vật.
Đức Phật có dạy rằng nếu người nào giữ lòng tịnh tín,
quy y Tam Bảo và giữ tròn 5 giới căn bản, thì đó là đại
bố thí, và là nguồn công đức vô lượng cho chúng sinh, vì
người ấy mang lại sự an vui, thương yêu hài hòa đến cho
mọi người, mọi loài sống chung quanh người ấy. Trong Tăng
chi bộ, chương Tám pháp, Đức Phật dạy:
"Có
tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món
ăn cho an lạc, làm nhân sinh thiên, quả dị thục an lạc, đưa
đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh
phúc, an lạc. Đó là:
-
Quy y Phật, Pháp, Tăng là 3 nguồn nước đầu.
-
5 nguồn nước kế là giữ tròn 5 giới căn bản. Đó cũng
là 5 đại bố thí, bởi vì làm được như thế, sẽ đem cho
sự không sợ hãi (vô úy) cho vô lượng chúng sinh, đem cho
sự không hận thù cho vô lượng chúng sinh, đem cho sự không
hại cho vô lượng chúng sinh; sau khi cho vô lượng chúng sinh,
không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được
san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại."
Cũng
xin ghi nhận thêm là trong vài tài liệu kinh sách phát triển
về sau này, ngoài bố thí tài và bố thí pháp, còn có đề
cập đến một loại thứ ba là bố thí vô úy, tức là mang
đến, san sẻ sự không sợ hãi, không hận thù, không hại.
Theo thiển ý, có thể xem bố thí vô úy là kết quả của
tài thí và pháp thí, không cần phải tách ra thành một phân
loại riêng biệt.
*
Nếu
chỉ thực hành hạnh bố thí không thôi thì cũng chưa tròn
đủ. Trong Tăng chi bộ, chương Năm pháp, Ngài Xá-lợi-phất
có dạy ông Cấp Cô Độc rằng cúng dường, bố thí tứ vật
dụng, tuy tạo nhiều phước báu, nhưng cũng chưa đủ. Người
cư sĩ còn phải gắng tu tập thiền định, để được hỷ
lạc do tâm xả ly sinh ra. Lời khuyên này được Đức Phật
đồng ý và khen ngợi.
Do
đó, kinh điển nguyên thủy còn ghi lại việc thực hành pháp
quán niệm về lòng bố thí, hay "niệm thí", như là một trong
6 pháp tùy niệm cần phải tu tập. Trường bộ, kinh 34, có
ghi:
"Thế
nào là sáu pháp cần phải tu tập? Đó là sáu tùy niệm xứ:
Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, giới tùy niệm,
thí tùy niệm, thiên tùy niệm. Ðó là sáu pháp cần phải
tu tập."
Và
Đức Phật giải thích thêm cho ông Mahānāma về niệm thí
như sau (Tăng chi bộ, chương Mười một pháp):
"Này
Mahānāma, Ông hãy niệm thí như sau: ‘Thật là được lợi
cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta! Vì rằng với quần
chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình,
với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí
rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng,
để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí’.
Này
Mahānāma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm thí, tâm của
vị ấy không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh,
tâm không bị si ám ảnh; trong khi ấy, tâm được chánh trực
nhờ duyên thí. Vị Thánh đệ tử, này Mahānāma, với tâm
chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín
thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan,
hỷ sinh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm
giác lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Này
Mahānāma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt
được bình đẳng với chúng sinh không bình đẳng, sống đạt
được vô sân với chúng sinh có sân, nhập được dòng lưu
của Chánh Pháp, và tu tập tùy niệm thí."
Trong
Tăng chi bộ, chương Một pháp, ngoài 6 đề mục quán niệm
nêu trên, còn ghi thêm 4 đề mục khác là niệm hơi thở, niệm
chết, niệm thân, và niệm tịch tịnh, như sau:
"Có
một pháp, này các Tỳ khưu, được tu tập, được làm cho
sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt,
an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là
gì?
Chính
là niệm Phật... niệm Pháp... niệm Tăng... niệm giới... niệm
thí... niệm thiên... niệm hơi thở... niệm chết... niệm thân...
niệm tịch tịnh.
Chính
một pháp này, này các Tỳ khưu, được tu tập, được làm
cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn
diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn".
Xin
giải thích tóm tắt:
1.
Niệm Phật (buddhānussati) là niệm tưởng mười ân đức của
Phật.
2.
Niệm Pháp (dhammānussati) là niệm tưởng sáu ân đức của
giáo pháp.
3.
Niệm Tăng (sanghānussati) là niệm tưởng chín ân đức của
Tăng chúng.
4.
Niệm Giới (sīlānussati) là niệm tưởng giới thanh tịnh của
mình.
5.
Niệm Thí (cāgānussati) là niệm tưởng hạnh bố thí xả tài
của mình.
6.
Niệm Thiên (devatānussati) là niệm tưởng các công hạnh tác
thành chư thiên và xét lại công hạnh mình có.
7.
Niệm Chết (maranāsati) là suy niệm sự chết đã, đang và
sẽ đến với chúng sinh luôn cả ta, để làm cho tâm không
dể duôi.
8.
Niệm Thân hành (kāyagatāsati) là suy niệm thân này cho thấy
rằng bất tịnh, uế trược, ổ bệnh tật, khả ố, thực
tính thân này là như vậy, v.v. để từ bỏ sự luyến ái.
9.
Niệm Hơi thở (ānāpānāsati) là niệm về hơi thở vô, hơi
thở ra, để trừ sự phóng tâm.
10.
Niệm Tịch tịnh (upasamānussati) là suy niệm trạng thái Niết
bàn, nơi không còn phiền não và đau khổ, một trạng thái
vắng lặng tuyệt đối.
Để
tu tập về pháp quán niệm lòng bố thí, có thể xem thêm các
hướng dẫn chi tiết của Luận sư Phật Âm (Buddhaghosa) trong
bộ luận Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga), do Ni sư Trí Hải dịch
Việt, ở chương VII, đoạn viết về niệm thí.
*
Tóm
lại, bố thí là một đức hạnh cao quý mà Đức Phật khuyên
tất cả Phật tử chúng ta cần phải tu tập. Bố thí có 2
loại: bố thí tài và bố thí pháp, trong đó, bố thí pháp
là cao thượng hơn. Khi bố thí, chúng ta phải có chánh niệm
và trí tuệ để nhận thức rõ ràng về vật bố thí, cách
thức bố thí, đối tượng nhận bố thí, và tâm ý của chúng
ta khi làm chuyện bố thí. Bố thí cần phải phát nguồn từ
lòng tịnh tín nơi Tam Bảo và tròn đủ giới hạnh để đem
lại sự an vui đến cho muôn loài.
Cuối
cùng, chúng ta cần phải hành thiền, trong đó, quán niệm về
lòng bố thí là một pháp môn quan trọng cần phải được
tu tập.
-06-
Trì giới
Tỳ
khưu Thanissaro
Đức
Phật được ví như một vị lương y, chữa bệnh tâm linh
cho loài người. Con đường hành đạo Ngài dạy được ví
như một chương trình trị liệu các đau khổ trong tim và trí
óc. Ví dụ này thường được thấy trong kinh điển, để
ca ngợi Đức Phật và lời dạy của Ngài, tuy đã xưa nhưng
cũng rất thích hợp cho ngày nay. Thiền định Phật giáo được
xem như một phương cách chữa trị, và giờ đây có nhiều
nhà tâm lý trị liệu đã thử dùng phương cách này như một
phần trong công tác trị liệu của họ.
Tuy
nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng hành thiền tự nó không thể
cung cấp một sự trị liệu hoàn toàn đầy đủ. Cần phải
có các hỗ trợ ngoại vi. Các thiền sinh ngày nay, đặc biệt
đã bị ảnh hưởng sâu đậm của văn minh vật chất, khiến
họ không có sự kiên cường, trì chí, và tự tin cần thiết
để các pháp hành thiền Chỉ-Quán trở nên công dụng hữu
hiệu. Một vài vị thiền sư nhận thấy được vấn đề
này, và cho rằng con đường Phật giáo không đủ để cung
ứng các nhu cầu đặc biệt của chúng ta. Để bổ sung, các
vị ấy thí nghiệm kết hợp với nhiều phương cách khác,
chẳng hạn như huyền học, thi ca, tâm lý trị liệu, xã hội
học, khổ hạnh, nghi lễ tế tự, âm nhạc, v.v.
Thật
ra, vấn đề chính ở đây không phải là có một sự khiếm
khuyết nào trong con đường Phật giáo, mà là vì chúng ta đã
không thực hành đầy đủ phương thức trị liệu của Đức
Phật.
Con
đường của Đức Phật không phải chỉ có chánh niệm, các
pháp hành thiền Chỉ và thiền Quán, nhưng bao gồm các giới
đức, bắt đầu bằng năm giới căn bản. Thật thế, các
giới luật tạo thành bước đi đầu tiên trên con đường
đó, con đường Giới-Định-Tuệ. Khuynh hướng ngày nay thường
khinh rẻ năm giới luật này, cho rằng đó chỉ là các điều
lệ của lớp giáo lý vỡ lòng bắt nguồn từ đời sống
cổ xưa, không còn thích hợp cho nếp sống tân tiến hiện
đại.
Quan
niệm đó đã bỏ sót vai trò mà Đức Phật đặt ra cho giới
đức: giới đức là phần căn bản của chương trình trị
liệu vết thương trong tâm trí. Giới đức đặc biệt để
dùng chữa trị hai thứ bệnh đã tạo ra mặc cảm tự ti:
hối hận và chối bỏ.
Khi
ta có những hành động xấu, không hợp với lẽ phải, ta
thường có những hối hận về việc làm đó, hoặc tìm cách
chối bỏ chúng. Chối bỏ bằng cách tự lừa dối cho rằng
các hành động đó quả thật đã không xảy ra; hoặc chối
bỏ bằng cách cho rằng tiêu chuẩn đánh giá các hành động
đó là không có giá trị gì cả. Các phản ứng này giống
như các vết thương trong tâm thức. Hối hận giống như một
vết thương mở, rất nhạy cảm khi sờ đến nó. Chối bỏ
giống như vết sẹo chai cứng chung quanh vết da non. Khi tâm
thức bị tổn thương như vậy, nó không thể lắng đọng,
thảnh thơi an trú vào hiện tại, bởi vì nó không thể an
nghỉ trên vết thương còn non, hoặc trên vết sẹo chai cứng.
Khi
tâm thức bị áp đặt bó buộc vào hiện tại, nó chỉ ở
đó một cách căng thẳng, méo mó và nửa chừng. Tuệ quán
hiện ra cũng bị méo mó và nửa chừng như thế. Chỉ khi nào
tâm thức không còn các vết thương và vết sẹo, thì nó mới
có thể an định, thảnh thơi và tự do an trú vào hiện tại,
và từ đó nảy sinh tuệ giác một cách toàn vẹn, không bị
bóp méo.
Đây
là lúc để giới đức đi vào: giới đức được dùng để
chữa các vết thương và vết sẹo. Lòng tự tin lành mạnh
bắt nguồn từ một cuộc sống thiện, hợp với các tiêu
chuẩn tốt, thực tế, rõ ràng, nhân bản, và đáng kính. Năm
điều giới (ngũ giới) được đặt ra để có cuộc sống
phù hợp với các tiêu chuẩn này.
1.
Thực tế: Tiêu chuẩn do giới luật đặt ra rất đơn giản:
không cố ý sát hại, không trộm cắp, không tà dâm, không
gian dối, không uống rượu hoặc dùng các chất say. Chúng
ta đều có thể sống phù hợp với các tiêu chuẩn đó, dù
rằng đôi khi có vài khó khăn, bất tiện, nhưng luôn luôn
có thể thực hiện theo được.
Có
vài người tìm cách diễn dịch các giới điều này, biến
thành một loạt các tiêu chuẩn có vẻ cao sang hơn chẳng
hạn biến cải điều giới thứ hai, không trộm cắp, thành
điều giới không phung phí nguồn tài nguyên địa cầu. Làm
như thế xem có vẻ thanh cao, nhưng chắc chắn rất khó thực
hiện được.
Những
ai có kinh nghiệm điều trị người bị bệnh tâm thần chắc
biết được hậu quả tai hại từ việc áp đặt các tiêu
chuẩn quá xa vời, không thực tế. Nếu ta đặt ra những tiêu
chuẩn mà bệnh nhân chỉ cần một mức độ cố gắng và
chánh niệm vừa phải là có thể đạt được, lòng tự tin
của họ sẽ gia tăng mạnh mẽ, vì họ nhận thấy rằng chính
họ có đủ khả năng để đạt đến các tiêu chuẩn đó.
Nhờ thế, họ có thêm nhiều tự tin để thực hiện các công
việc khó khăn khác để điều trị bệnh tâm thần của họ.
2.
Rõ ràng: Giới điều do Đức Phật đặt ra rất rõ ràng, không
có những từ ngữ phân vân nghi hoặc, như: "nếu như..., cũng
có thể là..., nhưng mà...". Điều này có nghĩa các giới điều
là những hướng dẫn minh bạch, không có kẽ hở cho các biện
minh lý giải lòng vòng, không ngay thẳng. Một hành động chỉ
có thể hoặc là phù hợp, hoặc là không phù hợp với giới
điều. Rõ ràng như thế!
Vì
vậy, các giới điều rất dễ tuân theo, không phân vân nghi
ngờ. Những ai đã từng dạy trẻ con đều biết mặc dù chúng
thường than phiền về các kỷ luật sắt thép, thật ra, chúng
cảm thấy an tâm với những điều lệ rõ ràng, minh bạch,
hơn là các điều lệ mơ hồ, dễ mặc cả để thay đổi.
Cũng như thế, đối với bản thân, các điều luật giới
hạnh minh bạch sẽ không cho phép các ý tưởng gian trá ngủ
ngầm tìm cách lén vào khuấy động tâm trí của hành giả.
Nếu
ta tuân thủ theo giới điều của Đức Phật, ta không thể
nào nuôi dưỡng ý tưởng sát hại, và từ đó, ta tạo ra
một sự an toàn không hạn chế cho mọi sinh vật. Các giới
điều khác sẽ giúp tạo ra một sự an ninh về của cải tài
sản, lòng tiết hạnh của mọi người, một sự giao tiếp
chân thật, và một cấp độ cao về tâm trí sáng suốt, không
bị lu mờ bởi rượu chè say sưa.
3.
Nhân bản: Giới điều của Đức Phật có tính nhân bản cho
người giữ giới lẫn những người giao tiếp chung quanh. Nếu
bạn giữ giới, bạn tự đặt mình vào qui luật nghiệp quả,
và bạn sẽ thấy rằng những gì bạn giao tiếp với thế
giới bên ngoài là kết quả chủ động của nghiệp hành,
qua thân-khẩu-ý, mà bạn thực hiện ngay trong giây phút hiện
tại. Bạn nhận thức thế giới qua nghiệp hành của chính
bạn, và bạn hoàn toàn chủ động để kiểm soát các phản
ứng của bạn ngay trong hiện tại.
Bạn
không bị chi phối bởi hình dáng sắc đẹp bên ngoài, thân
thể, trí thông minh, địa vị tiền bạc, v.v., vì đó chỉ
là các yếu tố ngoại vi, chỉ là kết quả của nghiệp hành
đã tạo ra trong quá khứ. Bạn hoàn toàn sống trong hiện tại.
Các giới điều giúp bạn tập trung tâm trí để sống linh
hoạt trong các tiêu chuẩn hiền thiện ngay bây giờ và tại
chốn này, không truy tầm quá khứ, không vọng mống tương
lai.
Nếu
bạn chung sống với những người biết giữ giới, bạn sẽ
thấy mình đang sống trong môi trường hoàn toàn không có nghi
ngờ và sợ sệt. Họ quí trọng hạnh phúc của bạn như thể
hạnh phúc của họ. Họ không tranh giành khống chế, không
tạo cảnh kẻ thắng người thua. Khi họ nói đến lòng từ
bi và chánh niệm khi hành thiền, bạn sẽ thấy chúng phản
ảnh ngay trong các hành động thường ngày của họ, lời nói
và việc làm cùng hợp nhất.
Như
thế, giới đức không những làm tăng trưởng lòng thiện
của từng cá nhân, mà còn giúp tạo một xã hội tốt lành
một xã hội gồm những cá nhân đầy tự tin và biết tôn
trọng đời sống của nhau.
4.
Đáng kính: Khi bạn chọn một tập hợp các tiêu chuẩn cho
cuộc sống, điều quan trọng bạn cần phải biết là các
tiêu chuẩn đó do ai và nhóm nào đề xướng, có nguồn gốc
ở đâu, bởi vì khi bạn tuân theo các điều luật đó, hiển
nhiên là bạn phải tham gia vào nhóm đó, được nhóm đó thẩm
định, và chấp nhận mực thước đo lường cái đúng và
cái sai do họ đặt ra.
Trong
trường hợp của ngũ giới, bạn không thể tìm ra một nhóm
nào khác tốt lành hơn: đó là giới điều của Đức Phật
và các vị đại đệ tử Thánh tăng đặt ra và thi hành. Trong
kinh điển, ngũ giới thường được gọi là "các tiêu chuẩn
của bậc Thánh nhân". Các vị này không chấp nhận giới luật
vì chúng có tính phổ thông hấp dẫn. Họ chấp nhận chúng
qua các kinh nghiệm trong đời sống tu tập của mình và thấy
chúng có hiệu quả ích lợi thật sự trên con đường đưa
đến giải thoát tối hậu. Có thể có nhiều người vì vô
minh mà chê cười bạn khi bạn tuân thủ ngũ giới, nhưng các
bậc Thánh hiền triết sẽ luôn luôn kính trọng và chấp nhận
bạn vào trong cộng đồng của họ, và sự kính trọng của
họ là có giá trị nhất, so với những người vô minh kia.
Bây
giờ, có thể có nhiều người cảm thấy khó mà tưởng tượng
việc gia nhập vào một nhóm trừu tượng như thế, nhất là
khi họ chưa bao giờ được gặp một vị Thánh nhân. Rất
khó có được một lòng từ bi và rộng lượng khi xã hội
chung quanh ta cười chê các điều đó, và lúc nào cũng đề
cập đến sự hấp dẫn của tình dục, quyến rũ vật chất
và cạnh tranh thương mại áp bức.
Đây
là lúc cần phải có các cộng đồng Phật tử tốt lành chân
chánh. Thành viên của các cộng đồng này sẽ giúp chúng ta
thấy được tấm gương của các hành động hiền thiện và
giới hạnh. Những người này sẽ tạo ra một môi trường
tốt để chúng ta có cơ hội áp dụng rốt ráo con đường
trị liệu của Đức Phật: hành thiền và phát triển tuệ
giác trong một đời sống có giới đức.
Nếu
ta có được những môi trường tốt lành như thế, ta sẽ
thấy rằng pháp hành thiền không có vẻ gì là huyền bí và
mù quáng, bởi vì pháp hành đó có căn bản dựa trên thực
tế công minh của một đời sống đầy ý nghĩa. Từ đó,
bạn có đủ tự tin để sống trong giới đức, sống hoàn
toàn tốt lành trong đời sống thật sự đầy ý nghĩa của
một con người, trên con đường tiến đến an vui và hạnh
phúc viên dung.
(Bình
Anson lược dịch)
-07-
Hành thiền
Sarah
K. Lim
Giới
thiệu: Bà Sarah Lim là một Phật tử gốc Singapore, hiện đang
sinh sống tại Úc và có nhiều đóng góp tích cực trong các
sinh hoạt Phật giáo. Bài này được trích dịch từ một bài
pháp thoại của Bà tại thành phố Perth, Tây Úc, vào tháng
9 năm 2002.
*
Qua
kinh nghiệm cá nhân cũng như qua các trao đổi với các bạn
thiền sinh khác, tôi nghĩ rằng chúng ta cần có một chương
trình hành thiền tại nhà, sắp đặt rõ ràng tuần tự từng
bước.
*
Nơi
chốn
Trước
tiên, cần phải có một chỗ thích hợp cho việc thực tập
hằng ngày, để khỏi bị làm phiền trong lúc tập. Nơi hành
thiền cần phải yên tĩnh và thoáng mát. Nếu có được một
phòng nhỏ dành riêng cho việc hành thiền thì thật là tốt.
Khi xây nhà, chúng tôi thiết kế một phòng ăn dành để đãi
khách, đặt kế cạnh phòng tiếp khách, theo mô hình nhà cửa
của dân chúng địa phương. Nhưng khi dọn về ở, chúng tôi
thấy rằng mình cũng ít khi tiếp khách, không còn thích lối
sống ồn ào, thù tiếp khách khứa nữa. Vì thế, chúng tôi
quyết định biến đổi phòng đó thành một nơi để thờ
phượng và hành thiền.
Trong
phòng thiền, chúng tôi không trang hoàng bày biện rườm rà.
Đơn giản chỉ có một bàn thờ nhỏ với tượng Phật. Chung
quanh tường là vài kệ sách để lưu các bộ kinh điển và
tài liệu tham khảo Phật giáo. Trên sàn nhà là một tấm thảm,
nơi chúng tôi quỳ lễ bái, tụng kinh, và ngồi hành thiền.
Tôi dùng một tủ thấp, có chiều cao khoảng 80 cm, để làm
bàn thờ. Trên đó, chúng tôi kê thêm một bục gỗ nhỏ để
đặt tượng Phật. Đây là tượng Phật bằng hợp kim đồng
thau màu vàng, cao khoảng 30 cm, thỉnh từ Thái Lan.
Tôi
cũng đặt thêm một lư hương nhỏ và một cặp nến điện,
mua ở khu thương xá Á Đông. Thỉnh thoảng, vào các dịp lễ,
chúng tôi đặt thêm một lọ hoa tươi. Tôi thích bố trí như
thế, đơn giản nhưng trang nghiêm. Bàn thờ có độ cao vừa
tầm nhìn khi chúng tôi quỳ lạy hay ngồi hành thiền, để
có thể chiêm ngắm tượng Phật, và cảm thấy gần gũi với
Đức Bổn Sư.
Thật
ra, nơi hành thiền không cần phải đặc biệt. Điều quan
trọng là chúng ta nên tạo lập một chỗ nhất định và thời
gian hành thiền cố định, để có được một thói quen đúng
giờ, đúng nơi. Thêm vào đó, trước khi hành thiền, để
tránh các cú điện thoại quấy rầy, tôi thường điều chỉnh
máy điện thoại sang dạng trả lời tự động và điều chỉnh
tiếng reo thật nhỏ.
Mỗi
ngày, tôi lễ bái và hành thiền hai lần: buổi tối, lúc 10
giờ đêm; và buổi sáng sớm, lúc 5 giờ sáng, trước khi những
người trong nhà thức dậy. Lúc sáng sớm là lúc tâm trí thoải
mái và cơ thể khỏe khoắn. Một thiền sinh thực tập nghiêm
túc sẽ luôn hành thiền vào những giờ nhất định, vì biết
rằng chỉ cần đủ giờ ngủ nghỉ thì thân thể không mệt
mỏi và tâm hồn t