THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
 
.
HẠNH PHÚC KỲ DIỆU
Thích Phụng Sơn
MỤC LỤC
Lời kính thưa trong kỳ tái bản 
Lời giới thiệu
Chương 1
TỪ BỎ ƯU PHIỀN VÀ HƯỚNG ĐẾN AN VUI
Người Cô Quạnh
Luôn Luôn Muốn Hơn Người
Tự Mình Tạo Ra Thảm Kịch
Một Bài Học Quý Giá
Chương 2
CĂNG THẲNG LÀ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TRONG THÂN VÀ TÂM
Sự Căng Thẳng
Sự Căng Thẳng Và Bệnh Tật
Nguyên Nhân Và Mức Độ Căng Thẳng
Chương 3
NĂNG LỰC KỲ DIỆU CỦA CON NGƯỜI
Khả Năng Chữa Trị Bệnh Tật Nơi Chúng Ta
Tự Giết Mình Bằng Sự Tức Giận
Niềm Tin Có Khả Năng Làm Lành Bệnh
Những Khả Năng Kỳ Diệu Của Con Người
Chương 4
HƯỚNG VỀ ĐỜI SỐNG KHỎE MẠNH VÀ HẠNH PHÚC
Biết Thật Sự Mình Muốn Gì
Tình Thương Yêu Khai Mở Năng Lực Kỳ Diệu
Có Tình Thương Yêu Trong Sáng Là Có Sự Hiểu Biết Chân Thật
Sống An Vui, Lành Mạnh Và Thành Công
Chương 5
THỰC HÀNH ĐỜI SỐNG LÀNH MẠNH VÀ HẠNH PHÚC
Tập Thở
Sống Tỉnh Thức Để Luôn Luôn An Lạc
Thực Hành Tu Tập Để Chuẩn Bị Cho Mọi Hoạt Động Thành Công Tốt Đẹp
Cầu Nguyện Là Tiếp Nhận Năng Lực Kỳ Diệu Của Vũ Trụ
Chương 6
MỖI NGƯỜI CHÚNG TA LÀ MỘT THẾ GIỚI KỲ DIỆU
Phép Lạ Nơi Vùng Núi Hy Mã Lạp Sơn
Phép Lạ Hiện Rõ Dưới Con Mắt Của Khoa Học
Cách Thực Hành Tam Muội Hỏa
Cái Thấy Toàn Diện Và Chân Thật
Hệ Thống Miễn Nhiễm
Thành Phần Và Hoạt Động Của Hệ Thống Miễn Nhiễm
Sức Khỏe Hoàn Toàn
Chân Thường, Chân Ngã, Chân Tịnh Và Chân Lạc
Hãy Có Thái Độ Tích Cực
Chương 7
SỐNG LÀNH MẠNH VÀ HẠNH PHÚC LÀ PHÉP LẠ LỚN NHẤT CỦA CON NGƯỜI
Tu Tập Diệu Pháp Thiền Tịnh
Ý Nghĩa Và Cách Thực Hành Diệu Pháp Thiền Tịnh
An Vui Và Khỏe Mạnh
Không Già, Bệnh Và Chết
Buông Bỏ Cái Thấy Biết Sai Lầm
Chương 8
CÂU THẦN CHÚ MỞ CÁNH CỬA HUYỀN DIỆU CỦA ĐỜI SỐNG
Khả Năng Kỳ Diệu Của Chúng Ta
Khoa Học Xác Nhận Khả Năng Kỳ Diệu Của Con Người
Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn
Đông Và Tây Gặp Nhau Trong Khoa Học Chữa Trị Các Bệnh Tật
Trì Niệm Thần Chú Và Cầu Nguyện Để Chữa Trị Các Bệnh Tật
Thân Và Tâm Là Một Khối Trong Sáng Rộng Lớn Và An Vui
Diệu Pháp Thiền Tịnh Làm Cho Bệnh Tật Chóng Lành
Chữa Trị Các Chứng Bệnh Tâm Thần
Chương 9
THỰC HÀNH DIỆU PHÁP THIỀN TỊNH ĐỂ SỐNG ĐỜI AN VUI KHỎE MẠNH CÙNG CHỮA TRỊ CÁC THỨ BỆNH TẬT
Cách Chữa Trị Các Bệnh Tật
Cách Quán Tưởng Để Chữa Trị Các Loại Bệnh Thể Chất
Cách Quán Tưởng Để Chữa Trị Các Bệnh Tâm Thần
Chương 10
ĐẠO PHẬT LÀM CHO ĐỜI TÔI TƯƠI SÁNG AN VUI VÀ HẠNH PHÚC VÔ CÙNG
Làm Sao Sống Với Niềm An Vui Hạnh Phúc Bao La Ấy
Đạo Phật Không Diệt Dục Mà Chỉ Diệt Khổ
Bốn Điều Muốn Tốt (Thiện Dục) Cần Thực Hành
Năm Điều Xấu Ác Không Làm (Ngũ Giới)
Năm Điều Lành Nguyện Làm
Bồ Tát Đạo
Sống Đời Tích Cực Là Sống Giác Ngộ
Sách tham khảo
Phương danh quí vị phát tâm ấn tống

Lời Kính Thưa Trong Kỳ Tái Bản 

 Sau khi nhóm Khóm Hồng San Diego phổ biến tập Hạnh Phúc kỳ diệu vào mùa xuân 1993, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến đóng góp tích cực. Nhận thấy sự cần thiết trình bày thêm những cách thức cụ thể áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày để duy trì và phát triển niềm an vui trong lành, tươi mát và tích cực, chúng tôi đã soạn thêm trên một trăm trang cho kỳ tái bản này.

Joseph Campbel, nhà huyền thoại học trứ danh của Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ hai mươi này, khi được sinh viên của ông hỏi họ phải chọn lựa con đường nào, ông ta trả lời không chút do dự: “Hãy đi theo niềm an vui kỳ diệu của chính mình.”

Niềm an vui kỳ diệu đó không đến từ sự thỏa mãn các nhu cầu vật chất hay tâm lý. Niềm an vui kỳ diệu ấy đã có sẵn muôn thuở nơi mỗi người chúng ta. Nhà triết học cổ Hy Lạp đã nhắc nhở chúng ta: “Hãy tự biết về chính mình.” Đức Phật chỉ rõ cho thấy con người chân thật của mỗi chúng ta vốn vượt ra giới hạn của thời gian và không gian: có mặt mãi mãi (chân thường), vốn rộng lớn bao la (chân ngã), trong sáng và tinh sạch vô cùng (chân tịnh) và vốn luôn luôn an vui kỳ diệu (chân lạc). Đức Phật gọi đó là viên ngọc quý vô giá mà mỗi chúng ta đều có. Viên ngọc ấy quý giá vô cùng dù chúng ta không biết đến để sử dụng mà sống an vui hạnh phúc trong đời sống hàng ngày. Quyển sách này hy vọng nói lên được một phần rất nhỏ về điều ấy.

Trong kỳ tái bản này, chúng tôi thành kính tri ân ông bà Nguyễn Xuân Dũng và Mạnh Hoa đã có nhã ý vận động quý đạo hữu để in cùng quý vị phát tâm ấn tống mà phương danh được trình bày đầy đủ nơi trang cuối. Lòng hảo tâm và sự sốt sắng của quý vị tạo duyên lành cho kỳ tái bản quyển sách này. Chúng tôi xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Dũng, ngoài những tấm ảnh mỹ thuật tặng cho chùa Việt Nam, đã bỏ nhiều thời gian đọc và sửa lỗi trong bản thảo. Nhờ công đức đó mà quyển sách này được nhiều phần tốt đẹp hơn.

Chúng tôi xin thành thật tri ơn hai đạo hữu Phạm Bá Trung và Phạm Kiều Nga, như mọi lần, đã vui vẻ và bỏ rất nhiều thời gian và công sức cho phần trình bày được đầy đủ và trang nhã. Chúng tôi cũng xin cảm ơn bà Nguyễn Thị Nguyên Hảo cùng phu quân đã phụ trách cho phần in được tốt đẹp như ý và kịp thời.

Chúng tôi cũng xin chắp tay hướng về thầy Viện Chủ Thích Nguyên Hạnh cùng chư vị Tăng Ni và quý vị Phật tử thuộc Trung Tâm Phật Giáo Việt Nam dâng lời cảm tạ. Chính qua những sự đóng góp liên tục, tốt đẹp và thành tâm của quý vị Phật tử không nề hà bao nhiêu khó khăn cùng với sự hy sinh và chịu đựng khó khăn gian khổ của thầy Viện Chủ cố gắng hoằng dương Phật pháp tại địa phương cũng như tại các tiểu bang Illinois, Massachusetts, Washington, Michigan, v.v... cùng với nỗ lực giúp đỡ cho những người nghèo khó, những thầy cô và một số đồng bào trong trại tỵ nạn và quý tăng ni sinh bên nhà làm cho chúng tôi và các vị Phật tử rất cảm kích.

Sự tham dự sinh hoạt và đóng góp của quý vị Phật tử làm cho sinh hoạt Trung Tâm Phật Giáo chùa Việt Nam được tiến triển mỗi ngày một tốt đẹp. Nhờ đó, chương trình xây cất Ngôi Chánh Điện được xúc tiến tốt đẹp như đã dự trù. Nguyện cầu chư Phật lực gia hộ cho công trình tốt đẹp này thành tựu viên mãn.

Chúng tôi cũng thành kính dâng lời cảm tạ đến chư Tôn Đức Tăng Già cùng quý vị Phật tử vùng Houston đã cùng nhau thực hiện nhiều chương trình hoằng pháp, cầu nguyện cho quê hương , cùng các sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, và xã hội làm gia tăng niềm tin của quần chúng Phật tử vào đạo pháp. Chính lòng bao dung, sự cảm thông hòa hợp, sự hiểu biết chân thật, lòng thương yêu trong sáng và niềm an vui do việc thực hành các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ trong đời sống hàng ngày của quý vị là tấm gương sáng cho những người con Phật và cũng là một khích lệ lớn lao cho chúng tôi hoàn thành tập sách này.

Đệ tử xin thành kính đảnh lễ chư Tôn Đức Tăng Ni tại Hải Ngoại cũng như tại Việt Nam. Chính nỗ lực hành trì và phát huy đạo pháp của các ngài làm cho Phật tử chúng con luôn luôn nhớ và cố gắng hành lời Phật dạy:

“Chiến thắng không thể bại

Trên đời không dấu tích

Phật giới rộng mênh mông

Làm sao hòng theo dõi.

Lưới mê được giải tỏa

Ái phược hết buộc ràng

Phật giới rộng mênh mông

Làm sao hòng theo dõi.

Người trí chuyên thiền định

Thích an tịnh, giải thoát

Bậc chánh giác chánh niệm

Chư thiên đều ái kính.

Sinh làm người là khó

Được sống còn là khó

Nghe chánh pháp là khó

Sống gặp Phật là khó.

Chớ làm các điều ác

Gắng làm các hạnh lành

Giữ tâm ý trong sạch

Chính lời chư Phật dạy.”

Phẩm Phật Đà – Buddhavagg

Kinh Pháp Cú

(Bản dịch trong Kinh Lời Vàng)

Và cuối cùng, chúng tôi thành kính dâng lời cầu nguyện hồng ân Tam Bảo tỏa chiếu tràn đầy đến các đồng bào trong các trại tỵ nạn để tất cả đều được an lành như ý nguyện, đến quý thầy cô và Phật tử đang lặn lội đến những nơi nghèo khó xa xôi giúp đỡ cho các em bé, những cụ già, những người ốm đau tật bệnh, những người nạn nhân thiên tai, bão lụt cùng tất cả đồng bào chúng ta nơi quê nhà và mọi chúng sanh trong Pháp Giới đều được an vui trong năm mới.

Xuân Quý Dậu

Phật Lịch 2537 – Năm 1994
Đệ tử Thích Phụng Sơn Cẩn Bái

DUYÊN LÀNH

Trnng tinh thần tu học, khóm Hồng San Diego đã hơn một lần được đón tiếp Thầy Thích Phụng Sơn. Với Thầy, trong hành xử chúng tôi học được hạnh khiêm cung, hòa ái. Trong các bài giảng, chúng tôi thấy đạo Từ Bi của Đấng Như Lai được chứng minh bằng các dữ kiện xã hội hàng ngày, được nhìn bằng con mắt rất mới và đầy khoa học. Qua các khóa tu, chúng tôi mỗi lúc mỗi thấy đời sống là kỳ diệu, chúng tôi biết nâng niu từng hơi thở, biết trân quý từng lá cỏ, áng mây... Và riêng với các em nhỏ lớn lên tại hải ngoại, không thông thạo tiếng Việt, các em cũng nhận lãnh được mỹ ý của đấng Thế Tôn qua lời giảng của thầy bằng Anh ngữ. Vì thế trong khóa tu Mùa Đông 1992, Nam Cali, tại Tu Viện Minh Đăng Quang, Thầy đã đúc kết các bài giảng của mình thành một tập sách nhỏ, mang tên Hạnh Phúc Kỳ Diệu. Đây là những bài học rất quý cho chúng ta, những Phật tử sống ở nước ngoài. Thầy đã trao tập bản thảo này cho Khóm Hồng để tùy duyên phổ biến. Từ đó đạo hữu Phổ Hành lo về ấn loát, đạo hữu Văn Moch vẽ bìa và toàn thể anh chị em trong Khóm Hồng và bằng hữu đóng góp tài chánh để cuốn sách được hoàn thành. Đó là tất cả cơ duyên khiến cuốn sách này có trong tay quý vị.

Chúng tôi xin tri ân tác giả, Thầy Phụng Sơn, và trân trọng giới thiệu cuốn sách này cùng quý Phật tử xa gần.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Khóm Hồng San Diego
Mùa Xuân Phật Lịch 2537

Chương 1

TỪ BỎ ƯU PHIỀN VÀ HƯỚNG ĐẾN AN VUI

Ca sĩ Michael Jackson là ngôi sao sáng số một của nhạc trẻ Hoa Kỳ. Lợi tức hàng năm của anh là hàng chục triệu mỹ kim. Dang vọng của anh lên đến tột đỉnh cùng với đời sống giàu sang. Tuy đã được rất nhiều giải thưởng và tiền bạc dư giả, Michael Jackson vẫn muốn có thêm danh vọng. Khi những đĩa nhạc mới của anh được một phần thưởng Grammy, phần thưởng cho những bản nhạc hay nhất trong năm, anh ta rất buồn vì chỉ được “một” giải thưởng mà thôi. Anh khóc lóc rất nhiều vì rất phiền muộn về chuyện đó. Anh tâm sự với một ký giả: “Điều ấy làm tôi bận tâm rất nhiều. Tôi khóc rất nhiều. Gia đình tôi nghĩ tôi sắp hóa điên vì tôi khóc quá nhiều do chuyện ấy.”

Một người đang ở tuyệt đỉnh vinh quang và giàu sang như Michael mà phải khổ đau như thế không phải là một chuyện đặc biệt. Nhiều người khác ở Hoa Kỳ và trên thế giới luôn luôn bất mãn về chính mình dù họ đã vượt lên trên nhiều người, có đầy đủ sức khỏe, tiền bạc và danh tiếng. Vì sao xảy ra như thế? Vì họ luôn luôn bị sự thôi thúc bên trong phải cạnh tranh chính với mình, phải luôn luôn vượt lên mãi mãi. Đối thủ không còn là người bên ngoài nữa mà đối thủ chính là họ. Và khi luôn luôn có sự bất như ý về chính mình như thế họ sẽ mãi mãi khổ đau vì không hưởng được hạnh phúc đang tràn đầy.

Đức Phật trên 2,500 năm trước đây ngài đã biết rõ điều ấy nên dạy cho chúng ta một phương pháp kỳ diệu về sống đời hạnh phúc như sau:

“Chính ta cũng mắc phải ưu phiền nhưng thấy có ưu phiền thì có khổ nên ta hướng đến cảnh an tịnh vô thượng của Niết Bàn vốn không ưu phiền. Cảnh an tịnh không gì hơn ấy ta đã chứng và cả Niết Bàn không ưu phiền nữa.”

Đức Phật dạy chúng ta phải giải quyết những vấn đề trong cuộc sống qua sự hiểu biết rõ ràng về bốn sự thật trong đời sống: Khổ, nguyên nhân của khổ, làm thế nào diệt khổ và cách sống an vui hạnh phúc tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể thực hiện được trong đời sống hằng ngày. Chúng ta hãy đọc câu chuyện sau đây để hiểu rõ về điều ấy.

Người Cô Quạnh

Chúng ta hãy nghe bác sĩ Ornish kể lại một câu chuyện đặc biệt như sau: Sam đến với chương trình nghiên cứu cách chữa bệnh tim của bác sĩ Ornish. Bác sĩ Ornish là một chuyên gia chữa trị bệnh tim nổi tiếng thế giới vì ông ta dùng phương pháp trị liệu mới mẻ nhất tại Hoa Kỳ: cho bệnh nhân ngồi thiền, ăn chay, tập thể thao và tỏ bày những xúc cảm của mình để bớt bị cảm giác cô đơn trong đời sống.

Sam là một lực sĩ đã thành tựu điều mong ước. Anh cho biết anh đã tham gia thế vận hội, một lực sĩ thế giới về chạy bộ, đi bộ và xe đạp. Anh khám phá mình có bệnh vào lúc anh 49 tuổi. Trong một cuộc tranh giải, anh ta bị đau ngực rất nhiều nhưng cũng cố gắng hoàn tất cuộc đua. Bác sĩ khám bệnh sau đó và cho thấy nhiều động mạch vành tim của anh bị nghẽn. Các bác sĩ chữa trị bằng cách thông mạch máu tim cho anh và anh hết bị chứng đau ngực. Nhưng sáu tuần sau đó trong một cuộc chạy bộ, anh ta lại cảm thấy chứng đau ngực trở lại.  Lần này bác sĩ thấy một trong các động mạch vành tim của anh ta hoàn toàn bị nghẽn nên không thể thực hành sự thông mạch máu tim như trước đây. Anh được giới thiệu đến chương trình nghiên cứu cách chữa bệnh tim đặc biệt của bác sĩ Ornish và thay đổi lối sống của mình.

Anh ta tuân theo chương trình ăn uống kiêng khem, không hút thuốc lá và thực hành sự giảm thiểu áp lực trong đời sống hàng ngày một cách máy móc trong sáu tuần lễ, nhưng sau đó anh ta ngưng hẳn thực hành điều ấy. Bác sĩ Ornish nhắc nhở anh Sam là chỉ nên tập thể thao trong giới hạn bác sĩ đề nghị và đừng bị ám ảnh bởi các ý tưởng mình phải luôn luôn vượt thắng, luôn luôn bắt buộc mình phải thực hiện một cuộc tranh đua để đạt được những sự mong ước về chính mình. Sự tập thể thao không tạo ra áp lực nhưng chính thái độ cạnh tranh tạo ra những áp lực trong đời sống.

Tuy anh ta tuân theo cách ăn uống kiêng khem và cách tập thể thao nhưng anh từ chối sự bày tỏ các cảm tưởng của anh trong những buổi họp chung vì anh lý luận: “Cảm tưởng chẳng dính dáng gì đến bệnh tim cả. Chỉ có cách ăn uống, tập tành, và cách làm cho chất cholesterol giảm xuống mới là điều chính yếu.” Lần đầu anh trách cứ người bạn gái của anh về hậu quả anh phải chịu, nhưng người bạn gái chỉ im lặng và không tỏ bày cảm tưỏng nào cả. Cách ăn uống đặc biệt làm cho số lượng cholesterol giảm từ 249 còn 121. Anh thấy chứng đau ngực không còn nữa và bắt đầu chơi thể thao nhiều như trước đây.

Luôn Luôn Muốn Hơn Người
Sam luôn luôn muốn chứng tỏ mình là con người đặc biệt để được thương yêu và quý trọng. Vì vậy anh ta tự cho mình là lực sĩ thượng thặng, một người đã tham dự thế vận hội, một lực sĩ tài ba. Nhưng đó là một điều sai lầm có tính cách sinh tử.

Khi tạo ra một hình ảnh lý tưởng về mình - chứ không phải biết rõ con người thật sự của mình – anh ta đã tạo ra một hình ảnh giả tạo mà mình không thể nào đạt được cả. Đạo Phật gọi đó là đầu mối, là nguyên nhân của khổ đau: ham muốn điều không thể có được. Con người lý tưởng mà anh vẽ ra đó luôn luôn cách biệt với con người thật sự của mình nên anh thấy bị cô đơn và thiếu tình thương yêu. Và vì cảm giác cô đơn và thiếu thốn tình yêu đó anh ta lại càng bị chính mình thúc dục phải thực hiện sự cạnh tranh, không phải với người nào khác, mà với chính anh ta để thấy mình có giá trị.

Trong một phiên họp có tính cách trị liệu, người ta yêu cầu các bệnh nhân vẽ hình quả tim. Sam vẽ hình quả tim với một vùng đen bao bọc chung quanh để bày tỏ sự cô quạnh mà anh đã cảm nhận. Tuy nhiên, anh từ chối nói về cảm tưởng của mình.

Mười tháng sau khi được chấp nhận chữa trị trong chương trình nổi tiếng này, Sam đã chết vì chứng bệnh tim! Đó là người bệnh duy nhất chết khi tham dự chương trình này.

Tự Mình Tạo Ra Thảm Kịch
Hôm đó anh đến một trung tâm thể thao và leo lên một máy chèo thuyền mà người chèo có thể tranh đua với hình ảnh những người chèo thuyền khác trong một máy chiếu hình ảnh. Hễ ngừời bên ngoài chèo nhanh thì hình ảnh của người bên trong cũng chèo nhanh. Hễ người bên ngoài chèo chậm lại thì hình ảnh bên trong cũng chèo chậm lại nhưng vẫn tiến hơn về phía trước. Sau một giờ chèo thuyền đua, Sam đã tự hào nói với người bên cạnh là mình đã vượt qua 150 hình những người chèo thuyền trong phim truyền hình. Sau đó, anh ta đứng lên, vào phòng vệ sinh, bị ngất xỉu rồi chết tức thì.

Bác sĩ Ornish cho đây là một thảm kịch vì một người luôn luôn muốn tranh thắng để có được cảm tưởng mình là quan trọng thì đến một cái máy cũng làm phát sinh ý muốn tranh chấp với nó. Anh cho phép một cái máy vô hồn có khả năng khơi động những xúc cảm nơi anh và đưa anh đến cái chết nhanh chóng. Khi giải phẫu tử thi, người ta khám phá một mạch máu vành tim của anh bị một cục máu đông làm nghẽn, một mạch máu khác bị co thắt đột ngột làm cho bể và chảy máu phía trong mạch máu này. Hai thứ trên là do áp lực muốn thi đua với máy truyền hình như là một chuyện sinh tử không thắng không được.

Một Bài Học Quý Giá
Bác sĩ Ornish rất buồn khi mất một người bệnh mà mình đã biết rõ. Qua sự mất mát đó ông ta đã rút ra một bài học quý giá như sau:

1. Cho người khác biết tin tức về sự bảo vệ sức khỏe cũng chưa chắc họ đã nghe theo:

Hiện nay hàng triệu người Mỹ vẫn hút thuốc lá dù trên bao thuốc có ghi hàng chữ: Hút thuốc lá làm nguy hại cho sức khỏe của bạn. Mỗi năm Bộ Y Tế đều có thông báo thống kê trên 400,000 người chết do thuốc lá mà số người hút thuốc vẫn nhiều: 50 triệu người hút thuốc lá làm cho 50 ngàn người không hút thuốc bị bệnh chết hàng năm vì ở gần họ. Mỗi năm, hàng ngàn trẻ em phải vào bệnh viện để chữa trị chứng hen xuyễn do khi thuốc lá mà cha hay mẹ các em đang hút trong nhà.

Khi một người cảm thấy cô đơn, không có niềm an vui trong cuộc sống thì anh ta nhìn cuộc đời theo cách tự làm cho mình thất bại và tự hủy diệt. Thái độ tự hủy diệt đó biểu lộ qua nhiều cách: ám ảnh không nguôi về sự cạnh tranh, tập dợt thể thao, làm việc liên tục, ám ảnh về dục tính, hút thuốc, rượu chè, xử dụng các thứ cần sa ma túy, cùng hàng trăm cách khác. Làm những điều trên họ sẽ giảm được sự khổ đau trong một thời gian rất ngắn nhưng sau đó cảm giác cô đơn lại gia tăng mãnh liệt.

2. Thay đổi thái độ có lúc cũng không phải là đủ cho sự chữa trị bệnh tật:

Chúng ta thay đổi lối sống như cách sinh hoạt, ăn uống làm việc là do chúng ta thay đổi về nhận thức trong đời sống. Nếu không có sự thay đổi sâu xa về cách nhận thức này mà chỉ có sự thay đổi những hành vi bên ngoài vì một lý do nào đó thì cũng không có ích lợi chữa trị thật sự như trường hợp anh Sam nói trên. Do đó, điều quan trọng là mình cảm nhận sự an vui của đời sống qua sự tiếp xúc với nguồn năng lực bên trong của mình với niềm an vui của mình và từ đó mình không còn bị ám ảnh bởi những giới hạn do mình tự tạo đưa đến khổ đau cho chính mình.

3. Sự lệ thuộc vào bên ngoài là nguyên nhân của khổ đau:

Khi chúng ta đầu tư vào sự quý trọng và giá trị của mình tùy thuộc vào sự chấp nhận của những người khác hay những biến cố bên ngoài thì vô tình chúng ta cho những người ấy, sự biến cố ấy có quyền hạn trên đời sống của mình. Thái độ của họ hay những gì xảy ra quanh mình có khả năng làm cho mình vui hay buồn, sướng hay khổ hay làm cho mình cảm thấy có giá trị hay không có giá trị. Hay nguy hại hơn, những yếu tố bên ngoài đó quyết định sự sống chết của mình.

4. Càng lệ thuộc càng xa rời hạnh phúc:

Cuối cùng, càng lệ thuộc vào người hay yếu tố bên ngoài để có hạnh phúc thì chúng ta càng quên đi, càng mất đi khả năng kỳ diệu, sức mạnh kỳ diệu sẵn có nơi mình. Khả năng kỳ diệu đó làm cho ta vui tươi, lành mạnh và hạnh phúc vô cùng.

Đạo Phật đưa chúng ta vào thế giới tâm linh trong sáng trong đó chúng ta cảm nhận sự ấm áp, tươi mát, tích cực của nguồn năng lực giác ngộ có mặt tràn đầy nơi mỗi chúng ta. Khi sống với lòng an vui rộng lớn tràn mình như các thiền sư trên núi hay sống trong gia đình, sống giữa đô thị ồn ào hay nơi vùng thôn quê hẻo lánh, chúng ta luôn luôn cảm thấy an vui, thoải mái và hạnh phúc.

Sống như thế là sống với tâm Phật, tâm giác ngộ hay tâm chân thật của mình làm cho chúng ta khỏe mạnh, vui vẻ và tích cực trong đời sống hàng ngày. Thật khác với những kẻ sống với cảm giác cô quạnh vì, theo bác sĩ Ornish, cảm giác cô quạnh, biệt lập với thế giới quanh mình đưa đến:

· Cách biệt với những cảm xúc của mình, của nội tâm và của bình an trong lòng.

· Cách biệt với kẻ khác.

· Cách biệt với những năng lực cao cả.

Chúng ta có những năng lực kỳ diệu cần phải được khám phá và sử dụng để sống an vui, lành mạnh và hạnh phúc.
 
 

Chương 2

CĂNG THẲNG LÀ NGUỒN GỐC 
CỦA BỆNH TRONG THÂN VÀ TÂM

Trong quyển Người Chữa Trị Bên Trong, The Healer Within, tác giả nhấn mạnh đến khả năng gây bệnh tật cũng như chữa trị bệnh tật nơi mỗi chúng ta. Nói khác đi, yếu tố tinh thần đóng một vai trò rất quan trọng vì đó là một năng lực kỳ diệu mà ta ít biết đến. Tác giả nói về bác sĩ Ishigami sau mười năm nghiên cứu về bệnh lao đã tìm thấy sự liên hệ giữa đời sống bệnh nhân và chứng bệnh này. Ông ta thấy có những trường hợp bệnh phát triển hay giảm bớt đúng theo dự đoán. Tuy nhiên, có những trường hợp mà bệnh biến chứng bất thường, vượt ra ngoài mọi điều dự liệu. Những trường hợp này, người bị bệnh càng lúc càng trở nặng thêm hoặc một người đang mạnh khỏe bỗng nhiên bị bệnh một cách kỳ lạ.

Bác sĩ Ishigami cho biết chính đời sống tình cảm của con người đóng góp rất nhiều. Khi liệt kê các yếu tố liên quan đến bệnh tật ông ta thấy như sau:

· Thất bại trong việc kinh doanh

· Gia đình không hòa hợp,

· Ghen tương, giận hờn,

· Những người thần kinh hay căng thẳng.

Những người nói trên được xem là bệnh sẽ gia tăng. Còn những trường hợp bệnh nhân phục hồi dù bị đau nặng là những người có tinh thần tích cực và không lo âu.

Sau một thời gian dài nghiên cứu các bệnh nhân bị lao phổi, bác sĩ Tohru Ishigami nhận xét:

“Có những trường hợp bệnh đang thuyên giảm thì một điều không may xảy đến làm cho thay đổi trạng thái bệnh tật. Những bệnh nhân lao phổi ở ngoài thời kỳ thứ hai bề ngoài có thể tỏ ra mạnh khỏe khi chăm sóc mẹ, vợ, con hay thân nhân bị bệnh lao. Nhưng nếu người thân họ chết thì sự tuyệt vọng nơi họ sẽ kéo theo một triệu chứng bệnh trầm trọng... Những bệnh nhân đó có thể chết.”

Từ đó, bác sĩ Tohru Ishigami viết một bài về Sự Ảnh Hưởng Của Tâm Đối Với Sự Lành Bệnh Lao Phổi. Bài nói trên được đăng trên tạp chí nghiên cứu bệnh lao ở Hoa Kỳ The American Review of Tuberculosis: 1919. Biến cố này rất quan trọng vì đây là một chuyên gia về bệnh lao viết về tâm thần ảnh hưởng đến sự chữa trị bệnh tật chứ không phải một chuyên viên tâm lý viết về vấn đề vốn rất mới mẻ này vào thời đó. Điều nói trên đã được một y sĩ nổi tiếng Anh Quốc William Osler phát biểu trước đây: “Sự chữa trị bệnh lao tùy thuộc nhiều vào những gì trong đầu bệnh nhân hơn là những gì trong ngực của họ.”

Từ đó người ta đã khám phá nhiều loại bệnh do tâm sinh, psychosomatic hay là tinh thần ảnh hưởng đến sức khỏe của thể chất và ngược lại, thể chất cũng ảnh hưởng đến tinh thần. Các chuyên gia đã liệt kê bảy chứng bệnh sau đây do tâm sinh:

· Loét bao tử.

· Huyết áp cao,

· Chứng cường giáp: Tuyến giáp trạng gia tăng quá nhiều hoạt động (hyperthroidism), thường phối hợp với bệnh bứu cổ,

· Chứng phong thấp,

· Viêm ruột kết loét: Chứng sưng ruột già có tính cách mãn tính và tiêu ra máu (ulcerative colitis)

· Viêm da thần kinh: Bệnh da nổi ban, ngứa cổ và da dày xếp nếp ở khủy tay, khủy chân hay đầu gối (neurodermatitis).

· Bệnh suyễn.

Người ta cho rằng bản danh sách nói trên quá ngắn vì hầu như đa số các chứng bệnh đều do tâm sinh.

Bệnh do tâm sinh không có nghĩa là tinh thần là nguyên nhân duy nhất mà bệnh tật là kết quả. Nơi đây họ muốn nhấn mạnh đến một tình trạng có nhiều yếu tố có sẵn liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau như yếu tố di truyền, cơ thể mạnh yếu, tâm thần thích nghi với các áp lực của đời sống có dễ dàng hay không, v.v... làm cho bệnh tật phát sinh. Đạo Phật gọi đó là duyên hợp, những yếu tố thuận tiện kết hợp với nhau để phát sinh ra một tình trạng, hay biểu lộ, bày tỏ ra một trạng thái mà chúng ta có thể nhận biết hay quan sát được.

Sự Căng Thẳng

Khi nói bệnh do tâm sinh chúng ta nói đến một áp lực, một sự căng thẳng phát sinh khi tinh thần hay cơ thể phải thích nghi với một sự kiện nào đó. Các tác giả của quyển sách nêu trên đã viện dẫn lời giải thích của bác sĩ Robert Rose, chuyên viên nghiên cứu về sự căng thẳng như sau:

Căng thẳng là một sự thúc bách (như làm cho xong một công việc vào kỳ hạn ấn định) và phản ứng tạo nên sau đó (như đau loét bao tử hay nhức đầu) là một bệnh tật. Vậy sự thúc bách là nguyên do tạo căng thẳng và sự phản ứng của cơ thể là sự căng thẳng đưa đến bệnh tật.

Trong quyển Người Chữa Trị Bên Trong cũng nói đến một cuộc nghiên cứu đặc biệt. Vào thập niên 1960, chuyên viên tâm lý Peter Bourne thực hiện cuộc nghiên cứu mức độ căng thẳng của 12 binh sĩ thuộc nhóm đặc nhiệm ở biên giới Việt Nam và Cao Miên. Ông ta đo mức độ của chất 17-hydroxycorticosteroid (17-OHCS) là một chất hóa học tiết ra từ nan thượng thận trong thời gian người ta bị căng thẳng.

Các binh sĩ này đều là những lính chuyên nghiệp, được huấn luyện kỹ càng và có kinh nghiệm tác chiến. Mỗi người phụ trách một phần vụ chuyên môn như tháo gỡ mìn, y tế, viễn thông, v.v... và họ phối hợp với nhau rất là chặt chẽ. Họ được tin đồn của họ sẽ bị tấn công khoảng từ 18 đến 22 tháng năm, có lẽ vào ngày 19. Tất cả đều hoạt động ráo riết để chuẩn bị cho ngày chiến đấu đó.

Bourne nhận thấy có sự khác biệt về mức độ căng thẳng giữa nhóm binh sĩ và sĩ quan. Binh sĩ tuân lệnh cấp trên chuẩn bị chiến đấu bằng cách kiểm soát tuyến phòng vệ, đặt các vũ khí vào các vị trí ấn định, đặt trạm y tế cấp cứu. Những hoạt động đó làm cho họ điều hòa được sự căng thẳng khi trận chiến đến gần. Còn những sĩ quan thì khác hẳn. Họ càng lúc càng lo cho binh sĩ dưới quyền, phải quyết định từng mỗi giờ cho thích nghi với tình thế và đồng thời gạt bỏ những lệnh từ bộ chỉ huy cách xa 40 dặm đề nghị những điều không thiết thực vì không hiểu tình thế địa phương.

Suốt thời gian mà thời điểm cuộc chiến sắp diễn ra mức độ căng thẳng của các sĩ quan được ghi nhận là gia tăng, còn nhóm binh sĩ thì ngược lại giảm xuống trừ nhân viên vô tuyến vì anh ta phải luôn luôn ở cạnh viên sĩ quan chỉ huy do đó anh ta bị ảnh hưởng không khí căng thẳng khi viên sĩ quan này phải có những quyết định ra lệnh cho thuộc cấp.

Từ đó các chuyên viên nghiên cứu đã biết rõ thêm về những yếu tố liên hệ đến sự đề kháng chống lại bệnh tật: hoàn cảnh sinh sống, những gì liên hệ đến bên ngoài hay bên trong của cá nhân, những tác động tạo ra những phản ứng trong các hoàn cảnh riêng biệt, và cuối cùng là sự tạo ra bệnh tật. Các chuyên viên y tế nghĩ đến những gì xảy ra trong thân thể và não bộ khi có sự căng thẳng xảy ra: những chuyển đổi về yếu tố thần kinh và chất hóa học. Nói khác đi, yếu tố duyên hợp của nhiều thứ có mặt bên trong lẫn bên ngoài.

Sự Căng Thẳng Và Bệnh Tật

Số người bị bệnh trong cộng đồng tỵ nạn thường rất nhiều. Họ đã phải bỏ lại nhiều người thân ở quê nhà, phải thích nghi với lối sống mới cùng hoàn cảnh họ chưa quen thuộc. Những điều ấy tạo ra sự căng thẳng nơi họ.

Các nhà tâm lý học đã khảo sát sự căng thẳng này thấy rằng sự căng thẳng nơi con người không phải là một loại cảm xúc như vui hay buồn mà là một phản ứng của thân thể khi ta bó buộc phải làm một điều gì đó. Một em bé dự kỳ thi cuối năm, một người thương gia điền thuế lợi tức để gởi đi trước ngày 15 tháng tư, một binh sĩ chuẩn bị cho một cuộc tấn công, v.v...

Theo bác sĩ Hans Selve cơ thể phản ứng theo một nguyên tắc gọi là Hội Chứng Thích Nghi Tổng Quát (General Adaptation Syndrom) gồm ba giai đoạn như sau:

1. Phản ứng báo động (Alarm reaction): Cơ thể tạo ra sự báo động khi chúng ta phải đối phó với một vấn đề gì quan trọng. Các chất kích thích tố gia tăng trong máu (như chất adrenal cortial hormone) kèm theo với phản ứng nhức đầu, ăn mất ngon và mệt mỏi. Cha mẹ thường thấy trạng thái này nơi con cái khi các em sắp sửa có kỳ thi quan trọng.

2. Giai đoạn đối kháng (stage of resistance): Nếu tình trạng căng thẳng kéo dài thì cơ thể sẽ phản ứng chống lại, chấm dứt các triệu chứng gây ra bởi giai đoạn một nói trên. Cơ thể trở lại trạng thái bình thường và sức khoẻ có thể gia tăng. Nếu nguyên nhân làm căng thẳng không còn nữa như kỳ thi qua đi, địch quân bao vây căn cứ rút lui hay những sự đe dọa khác chấm dứt. Nếu những nguyên nhân có tính cách đe dọa vẫn kéo dài thì phản ứng đối kháng nơi chúng ta yếu dần và cơ thể chúng ta bị kiệt sức.

3. Giai đoạn kiệt sức (stage of exhaustion): Đây là lúc mà cơ thể bị mòn mỏi, nhiều triệu chứng của giai đoạn một, giai đoạn báo động, lại xuất hiện. Nếu tình trạng này kéo dài thì chúng ta sẽ bị bệnh tật và có thể đưa đến cái chết.

Nguyên Nhân Và Mức Độ Căng Thẳng

Các nhà tâm lý học đã tìm thấy nguyên nhân sự căng thẳng đó phát xuất từ sự thay đổi, sự không tiên liệu, không kiểm soát được các biến cố xảy ra trong đời sống cùng những sự xung đột nội tâm của chúng ta. Điều ấy đạo Phật gọi là tính cách vô thường, sự chuyển biến hay đổi thay của vạn pháp, của mọi hiện tượng từ thể chất đến tinh thần. Những biến cố bất ngờ như có thân nhân qua đời, mất việc làm, thay đổi chỗ ở hay mượn tiền đều tạo ra sự căng thẳng. Sự căng thẳng ấy có thể quan sát và đo lường được theo những biến cố khác nhau.

Hai chuyên gia về tâm thần Holmes và Rahe đã thiết lập một bảng kê khai mức độ các loại căng thẳng nơi con người khi có những biến cố xảy ra như sau:

Các Biến Cố Xảy Ra và Trị Số Mức Độ Căng Thẳng Trong Đời Sống (với điểm cao nhất là 100 điểm)

Vợ hay chồng qua đời
 100

Ly dị
 73

Ly thân 
 65

Bị tù
 63

Có thân nhân qua đời
 53

Bị thương hay bệnh
 50

Bị mất việc làm
 47

Vợ chồng tái hòa hợp
 45

Về hưu
 45

Sự sa sút sức khỏe của người thân trong nhà
 44

Có sự khó khăn về sinh lý
 39

Có thêm người trong gia đình
 39

Điều chỉnh lại cơ sở thương mại
 39

Có sự thay đổi về tình trạng tài chánh
 38

Một người bạn thân qua đời
 37

Đổi ngành làm việc (trong cùng một sở)
 36

Thay đổi số lượng tranh luận giữa vợ chồng
 35

Tiền nợ nhà trên 10,000 một năm
 31

Ký giấy vay nợ
 30

Thay đổi trách nhiệm ở sở làm
 29

Con cái rời gia đình
 29

Đạt được sự thành công ưu hạng
 28

Vợ bắt đầu đi làm hay nghỉ việc
 26

Học sinh bắt đầu đi học hay đến kỳ hè
 26

Thay đổi cách sống
 25

Duyệt xét lại những thói quen
 24

Khó khăn với người chủ
 23

Thay đổi giờ hay điều kiện làm việc
 20

Thay đổi chỗ ở
 20

Thay đổi sinh hoạt ở trường học
 20

Thay đổi cách giải trí
 19

Thay đổi sinh hoạt tôn giáo
 19

Thay đổi sinh hoạt xã hội
 18

Vay nợ dưới 10,000
 17

Thay đổi thói quen ngủ nghỉ
 16

Thay đổi số lượng gặp gỡ trong gia đình
 15

Thay đổi cách ăn uống
 15

Nghỉ hè
 13

Nghỉ giáng sinh
 12

Bị phạt vi phạm luật vi cảnh (như lái xe vượt đèn đỏ)
 11
 

Tóm lại, bất cứ một biến cố gì, một sự thay đổi nào buồn hay vui đều tạo ra một sự căng thẳng nhiều hay ít. Hai chuyên viên tâm lý Holmes và Rahe nhận thấy nếu tổng số điểm căng thẳng nơi một người cao hơn 300 điểm trong một năm thì người đó sẽ bị bệnh vì cơ thể không chịu nổi áp lực quá nhiều đó.

Nếu nhìn vào bảng kê khai nói trên, chúng ta thấy phản ứng của người tị nạn ở Hoa Kỳ có thể khác biệt như thân nhân qua đời, bị mất sở làm, ly dị, người thân bị ốm thì mức độ căng thẳng có thể cao hơn người Hoa Kỳ. Trái lại các vấn đề như có thêm người trong gia đình, có thai, v.v... mức độ căng thẳng có thể ít hơn. Đạo Phật đề cao trí tuệ, sự hiểu biết chân thật, do đó chúng ta tìm hiểu thêm về những lời Phật dạy cùng những gì đang xảy ra quanh ta để thấy rõ sự mầu nhiệm của đạo Phật trong việc chỉ dẫn cho chúng ta thực hành đời sống an vui và hạnh phúc thật sự.
 
 

Chương 3

NĂNG LỰC KỲ DIỆU CỦA CON NGƯỜI

Đạo Phật giúp chúng ta nhìn thấy căn nguyên của bệnh tật và chữa trị từ gốc. Đạo Phật nhấn mạnh đến tính cách vô thường, sự thay đổi trong đời sống, là một nguyên nhân tạo ra khổ đau. Sự thay đổi hay chuyển biến đó tác động vào đời sống thể chất (cơ thể của chúng ta) và tinh thần. Và vì sự thay đổi luôn luôn xảy ra nên chúng ta phải đối diện với cái khổ bất cứ lúc nào.

Về phương diện thể chất, đức Phật nói rõ bốn trường hợp chúng ta cảm nhận rõ rệt nhất sự khổ đau: Sinh, già, bệnh và chết. Khi người mẹ sinh con, áp lực đẩy hài nhi ra khỏi bụng mẹ tạo nên một sự đau đớn dữ dội cho người mẹ lẫn đứa con. Nếu chúng ta quá già nua tuổi tác thì cảm thấy buồn phiền vì sức khỏe yếu kém và hay bệnh tật. Những lúc bệnh tật thì già hay trẻ cũng đều đau đớn và khó chịu như nhau. Còn lúc cái chết xảy ra thì kẻ qua đời sợ hãi và người thân còn sống khổ đau vô cùng. Về tinh thần, những gì chúng ta muốn, chúng ta thích mà bị xa lìa, mất mát, điều gì chúng ta ghét mà phải cận kề thì chúng ta khổ đau. Khổ đau đó là do hậu quả của một sự căng thẳng, một áp lực khó chịu trong lòng chúng ta. Áp lực hoặc sự căng thẳng thể chất hay tinh thần đó là nguồn gốc của mọi bệnh tật. Vì thế, đức Phật dạy mọi hiện tượng đều do tâm mình tạo ra. Nếu tâm bất an, buồn rầu, bực bội, chán chường, tiêu cực gây nên bệnh tật thì tâm an vui, thoải mái, trong lành, tích cực, bao dung tạo ra sức khỏe và làm cho bệnh tật tiêu trừ. Do đó, đức Phật dạy chúng ta phương pháp thực hành sống đời an vui và khỏe mạnh.

Khả Năng Chữa Trị Bệnh Tật Nơi Chúng Ta

Những cuộc thí nghiệm càng lúc càng gia tăng về yếu tố tinh thần tác động vào sự lành mạnh hay đau yếu thân thể giúp cho chúng ta thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa hai bên thân và tâm. Để thấy rõ những gì xảy ra trong thực tế, chúng ta hãy nghe bác sĩ Herbert Benson, chuyên viên về tim của trường đại học Y Khoa Harvard kể câu chuyện về khả năng chữa trị bệnh tật của bệnh nhân như sau:

Mike là một thương gia thành công ở vùng New York. Một hôm trong một chuyến du hành thương mại anh ta đi đến một quán ăn ở Paris. Chẳng may chỗ anh ta ngồi bốn bức tường châu lại như một cái vòm làm anh có cảm tưởng mình bị úp trong đó. Người trong phòng càng lúc càng đông. Anh ngồi ngược với cửa ra vào. Khói thuốc càng lúc càng gia tăng với số người. Một cơn sợ hãi khoảng hẹp (claustrophobia) dữ dội xuất hiện. Anh thở ngáp cá, bao tử thắt lại và biết rằng nếu anh không đi ra khỏi nơi đó thì anh có thể chết. Anh xin lỗi các bạn ngồi ăn rồi đi nhanh ra khỏi phòng. Đến một chiếc trụ bên vệ đường, anh ta đứng tựa và thở hổn hển.

Kể từ đó anh phát ra chứng sợ hãi chỗ hẹp. Chứng này càng lúc càng gia tăng làm cho anh sợ hãi cả đi cầu thang máy, ngồi phía sau các xe không có cửa sau, v.v… Sau đó nhờ người bạn chỉ dẫn, anh ta cầu nguyện và thực hành thiền, theo dõi hơi thở, làm cho tinh thần thoải mái và từ đó bệnh tình thuyên giảm, đời sống trở lại tốt đẹp.

Ông Norman Cousin là người bị ung thư và các bác sĩ cho biết ông sẽ không còn sống bao lâu. Ông ta không chấp nhận điều đó và thực hành chương trình tự chữa trị lấy qua đời sống an vui, thoải mái và tươi mát. Sau đó ông ta lành bệnh, viết sách nói về sự tự chữa trị bệnh ung thư và trở thành một người nổi tiếng. Khi làm việc cho trường đại học UCLA ở California, người ta gởi đến ông một bệnh nhân ung thư vì một lý do đặc biệt là bà này không chịu mổ cắt ung thư nơi ngực dù bệnh đang ở trong thời kỳ nguy kịch. Ông Cousin cho bà thử phương pháp làm gia tăng nhiệt độ của bàn tay.  Nữ bệnh nhân tỏ ra một người có khả năng đặc biệt trong việc này. Bà đã làm cho bàn tay tăng đến 14 độ (fareinheit). Sau khi được hướng dẫn thực hành các phương pháp thiền quán, bà trở về lại nhà thương. Các bác sĩ khám nghiệm và thấy vùng ung thư hoàn toàn biến mất.

Sự yên vui, thoải mái, tỉnh thức và niềm tin có thể tạo nên những kết quả kỳ diệu cho sức khỏe. Ngược lại sự lo lắng, sợ hãi hay giận dữ cũng có thể tạo ra những bệnh tật cho ta. Ngoài ra, có những trường hợp sự giận dữ hay hung hăng thái quá có thể tạo ra những cái chết bất ngờ.

Tự Giết Mình Bằng Sự Tức Giận

Bác sĩ Deepak Chopra kể lại câu chuyện anh Arthur Elliott, một luật sư trên 30 tuổi đến phòng cấp cứu bệnh viện vào buổi tối vì anh ta cảm thấy bị đau buốt nơi ngực. Bác sĩ trực khám và thấy không có triệu chứng gì của bệnh tim cả và vì anh không có bệnh tim trước đây nên bác sĩ này cho rằng anh ta chỉ bị vọp bẻ nơi bắp thịt ngực cùng dặn ngày mai anh trở lại để làm một cuộc khám nghiệm toàn diện.

Anh trở về nhà một cách miễn cưỡng. Một giờ sau đó, một cơn đau ngực tái phát và anh lại chạy vội đến nhà thương. Bác sĩ Deepak khuyên nhủ anh vài lời nhưng tinh thần anh ta rất căng thẳng. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ thấy không có gì đáng ngại nhưng cũng quan sát nhịp đập của tim anh qua tâm động đồ (máy chiếu lên màn ảnh hay ghi trên giấy đồ biểu nhịp đập của tim.) Cũng không thấy có dấu hiệu gì bất thường cả.

Sáng hôm sau, để cho chắc chắn hơn, viên bác sĩ này lại nhờ các đồng nghiệp quan sát kỹ kết quả trên tâm động đồ của anh và thấy có một sự sai biệt rất nhỏ. Bác sĩ Deepak thông báo với anh Elliott: “Đó có thể là bắp thịt tim của anh bị tổn thương rất nhỏ giữa hai thời kỳ bị đau vào tối hôm qua.” Bác sĩ định nói thêm là điều này cũng không có gì nguy hại cho anh ta vì quả tim lành mạnh thường có khả năng làm cho vết thương nhỏ ấy lành nhanh chóng. Tuy nhiên, anh ta vội la lên: “Điều này thật quá sức! Các anh chẳng coi tôi ra cái gì cả. Các anh chỉ quan tâm khi tôi bị chết mà thôi. Các anh không thể chạy chối vào đâu được. Tôi sẽ làm cho các anh trả đúng mức những điều các anh làm!” Nói khác đi người luật sư này muốn kiện các ông bác sĩ về tội hành nghề không chu đáo. Anh ta liền bốc điện thoại gọi ngay cho đồng nghiệp của mình và tinh thần mỗi lúc một thêm căng thẳng. Huyết áp của anh lên cao quá mức, các bác sĩ chỉ cho anh thuốc giảm áp huyết cùng an thần. Tuy vậy, không gì thay đổi tình trạng được cả.

Một giờ sau đó, khi miệng vẫn đang tiếp tục nói trong điện thoại, anh bị một cơn đau ngực dữ dội và anh chết sau đó do bắp thịt tim bị toét, có thể do những chấn động dữ dội của mạch máu vào tim.

Điều đáng chú ý là mạch máu anh ta không bị chất cholesterol đóng, anh lại không hút thuốc, không bị chứng áp huyết cao, bắp thịt tim cho tới trước lúc đó không bị bệnh hoạn hay hư hại gì cả. Như thế, anh chết không phải vì bệnh mà vì cái nhìn sai lầm về điều đang xảy ra. Cái nhìn sai lầm ấy tạo nên sự tức giận đưa đến cơn kích động làm cho anh chết.

Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy rõ đó là sự chấp dính vào các điều không có thật. Những điều ấy xuất hiện rồi thay đổi mà đức Phật gọi chung là các pháp hữu vi: những màu sắc, dáng vóc, âm thanh, mùi, vị, những cảm giác của thân thể cùng các hiện tượng bên trong hay bên ngoài chúng ta đều do các yếu tố kết hợp với nhau mà thành tùy theo các điều kiện xuất hiện nên gọi là duyên hợp. Chúng luôn luôn thay đổi, chuyển biến tùy theo các điều kiện thuận hay nghịch xuất hiện. Do đó, chúng ta phải thấy rõ tính cách năng động, chuyển biến không ngừng và đừng dính mắc vào cái thấy sai lầm về tính cách cố định của sự vật theo cái thấy biết bị giới hạn của chúng ta vì chúng:

“Như mộng, huyễn, bọt, bong,

Như sương cũng như điển…”

Kinh KimCang
Niềm Tin Có Khả Năng Làm Lành Bệnh
Trong giới y sĩ, câu chuyện chữa trị đặc biệt do bác sĩ Bruno Kloper kể lại đã trở thành một câu chuyện phổ biến trong giới này và trở thành một ví dụ của sức mạnh của niềm tin. Bác sĩ Kloper chữa trị cho một bệnh nhân, ông Wright, bị bệnh ung thư hạch bạch huyết. Người ông ta bị sưng lên với những cục bướu ung thư nhiều lúc lớn bằng quả cam và chảy ra hơn cả lít nước trắng đục. Mọi người đều biết ông ta không còn sống lâu nữa.

Ông Wright vẫn còn muốn sống. Ông nghe có một loại thuốc trị ung thư mới tên là Krebiozen đang được thử nghiệm. Ông ta muốn dùng loại thuốc đó. Ban đầu bác sĩ không đồng ý vì điều kiện thí nghiệm thuốc mới đòi hỏi bệnh nhân phải sống ít nhất vài tháng trong khi các bác sĩ cho rằng ông ta chỉ sống được vài tuần. Nhưng vì sự thiết tha năn nỉ mà bác sĩ mềm lòng nên chích thuốc này cho ông.

Mười ngày sau khi chích thuốc, ông ta hoàn toàn như hết bịnh. Sau đó tin tức từ báo chí cho biết loại thuốc thí nghiệm nói trên không có hiệu quả thì bệnh tình của ông ta lại trở nên trầm trọng như trước. Các bác sĩ nhận thấy sự liên hệ kỳ lạ này nên quyết định một cuộc thí nghiệm đặc biệt. Bác sĩ ông ta quyết định cho chích một thứ dung dịch không phải thuốc nhưng vô hại và nói với ông Wright đây là loại thuốc trị ung thư Krebiozen được cải tiến và liều thuốc chích mạnh gấp đôi. Để cho sự mong muốn được chích thuốc gia tăng, viên bác sĩ hoãn giờ chích thuốc lại và cho bệnh nhân với dáng vẻ vô cùng trịnh trọng.

Cũng như trước đây, chỉ vài ngày sau là các cục bướu nơi ngực ông Wright xọp xuống, nước thôi chảy và khỏe dần. Cũng như lần trước, ông lại rời bệnh viện với thân thể lành mạnh không còn những triệu chứng như trước. Điều làm cho nhân viên bệnh viện ngạc nhiên là ông Wright không được chích thuốc và chỉ được chích nước lạnh khử trùng.

Ông sống khỏe mạnh được hai tháng thì tin tức về loại thuốc kia được báo chí phổ biến một thông cáo của hiệp hội Y Khoa Hoa Kỳ (American Medical Association) như sau: “Cuộc thí nghiệm toàn quốc về loại thuốc Krebiozen chứng tỏ loại thuốc này vô dụng trong việc chữa trị ung thư.” Vài ngày sau ông lại xuất hiện ở bệnh viện, lần này ông ta hoàn toàn tuyệt vọng với những bướu ung thư nổi lên như trước. Chỉ hai ngày sau, ông ấy qua đời.

Trường hợp một tu sĩ Thần Đạo (Shinto) của Nhật Bản lại có kết quả ngược lại chuyện trên. Một toán bác sĩ ở trường đại học y khoa Kyushu ghi lại một trường hợp nghiên cứu về sự lành bệnh đặc biệt của một bệnh nhân với tên H. trong tài liệu nghiên cứu. Bệnh nhân bị ung thư nơi cổ họng và được các bác sĩ cắt chỗ ung thư. Vài tháng sau, ông ta trở lại cho biết bị đau vùng cổ họng. Bác sĩ khám và thấy vùng phát âm nơi cổ ông bị ung thư, họ đề nghị mổ. Nhưng ông ta là một người lãnh đạo tinh thần và phải thuyết giảng cho tín đồ nên không chịu giải phẫu vì sẽ không còn nói được. Sau khi về nhà, ông thăm một người cấp trên và ông này nói: “Ông là một bảo vật của giáo hội chúng ta.” Câu nói đó làm ông cảm xúc rất nhiều và quyết định tiếp tục thuyết giảng.

Nhiều năm sau đó bác sĩ khám lại và thấy ung thư nơi vùng cổ hoàn toàn biến mất. Ông ta qua đời ba mươi năm sau kể từ ngày ông khám nghiệm bị ung thư do một chứng đau lưng.

Những Khả Năng Kỳ Diệu Của Con Người

Chúng ta hãy quan sát những gì tích cực đang xảy ra tại Hoa Kỳ. Nhiều người Mỹ trong phong trào khám phá khả năng kỳ diệu của con người cho rằng sự sợ hãi chỉ là hậu quả của cái nhìn sai lầm về thực tại.  Do đó, họ nhấn mạnh sự sợ hãi FEAR là những chứng cứ, những hiện tượng được nhận biết một cách sai lầm (False Evidence Appears Real.) Như trước đây chúng ta sợ phỏng tay khi chạm vào lửa cho nên hễ thấy lửa là sợ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể bước qua lửa được. Đến khi đọc kinh Pháp Hoa nơi phẩm Phổ Môn nói rõ nếu chúng ta nhất tâm niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì rớt xuống lửa không phỏng chúng ta không dám tin là có thật.

Thân thể chúng ta có sự thông minh cùng nhiều khả năng kỳ diệu mà chúng ta chưa biết. Bác sĩ Herbert Benson thuộc viện đại học Harvard đã cử phái đoàn đến vùng Hy Mã Lạp Sơn để nghiên cứu khả năng kỳ diệu của các tu sĩ Phật Giáo Tây Tạng thực hành pháp môn Tam Muội Hỏa. Những vị thầy này ngồi nơi vùng băng tuyết cả ngày mà không bị lạnh. Họ đã sử dụng những năng lực mà người thường không biết đến.

Một phương pháp để vượt qua những chướng ngại trong đời sống được nói đến trong kinh Phổ Môn: Niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát để được ngài ban cho mọi điều an lành. Nếu kẻ nào bị rớt xuống hầm lửa mà niệm danh hiệu ngài thì không bị phỏng.

Các vị thiền sư thường nhấn mạnh đến tính cách vô ngã nên giải thích là khi niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát đến mức độ tâm ở trong trạng thái đại định thì không còn cái ngã, cái tôi nữa. Lúc đó tuy thân có bị phỏng nhưng không có cái “tôi bị phỏng.” Hoặc các ngài nhấn mạnh đến lửa ở trong phẩm Phổ Môn là lửa tham. Khi hoàn toàn chú tâm niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm đến thì lửa tham thôi đốt tâm ta.

Có những vị khác lại nhấn mạnh đến tính cách tròn đầy, viên dung, giữa lý và sự. Các hiện tượng tương đối và tuyệt đối cùng biểu lộ một lúc. Khi tâm ở trong trạng thái an định thì thân sẽ không bị phỏng khi bước đi trên than hồng.

Nhiều vị tăng sĩ Tây Tạng và Tích Lan thực hành bước qua than lửa mà không bị phỏng. Chúng ta biết trong phẩm Phổ Môn, thuộc kinh Pháp Hoa, đức Quán Thế Âm dạy tình thương yêu, lòng từ bi, có sức mạnh kỳ diệu và hãy luôn luôn sống trong năng lực của lòng thương yêu rộng lớn đó:

“Chân quán, thanh tịnh quán

Trí tuệ quán rộng lớn

Bi quán và từ quán

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng…

Ánh hào quang thanh tịnh

Chiếu xuyên màn u tối

Tiêu diệt lửa tai ương

Chẳng nơi nào không hiện.”

Về phương diện khoa học, nhiều bác sĩ hiện nay xác nhận tình thương yêu là một năng lực bảo vệ cơ thể và chữa trị bệnh tật. Niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm để khai mở lòng từ bi, tình thương yêu rộng lớn. Nhất tâm niệm danh hiệu Ngài tức là chúng ta ở trong trạng thái tâm an định. Khi có sự định tâm và sự khai mở lòng thương yêu trong sáng đó thì cơ thể chúng ta phát ra một năng lực kỳ diệu nên chúng ta sẽ không bị phỏng khi bước qua lửa.

Nếu chúng ta một lần bước qua lửa mà không bị phỏng thì chúng ta hiểu rõ một cách cụ thể cùng tin chắc về khả năng kỳ diệu của con người trong nhiều lãnh vực khác, nhất là khả năng sống đời an vui, giác ngộ và hạnh phúc bao la trong cuộc sống này.

Đức Phật dạy chúng ta về tính cách vô thường, vô ngã, bất tịnh và khổ đau của những ai thích bám víu vào những sự hiểu biết sai lầm, cho những ý tưởng thoạt đến thoạt đi, cho những vui, buồn, thương, ghét, giận hờn, sợ hãi là cái tôi (ngã) của mình, là con người thật sự của mình mà không biết các hiện tượng ấy chuyển biến không ngừng (vô thường) do những yếu tố bên ngoài và bên trong kết hợp (duyên khởi) mà xuất hiện nên nó không phải có cá tính riêng biệt, không thay đổi như vậy (vô ngã). Những khổ đau của thân và tâm do những sự xáo trộn làm vẩn đục trạng thái trong lành (bất tịnh) cho thân và tâm tạo ra khổ đau cho chúng ta. Nhưng vô thường, vô ngã, bất tịnh và khổ đau ấy là đặc tánh của những ý tưởng sai lầm, những tâm tư xao động và khổ đau trong tâm mê mờ. Do đó, trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy hãy thấy rõ những hiện tượng sinh diệt và vô thường ấy là những thứ thoáng hiện, thoáng mất, thực chất không có thật, chẳng khác gì cơn mộng hay ảo ảnh, bọt nước, như sương, như điện chớp.

Các sự lo lắng, sợ hãi, buồn rầu, khổ đau tuy không phải là sự chân thật nhưng chúng tạo nên một áp lực nặng nề nơi chúng ta. Khi chúng ta thực hành đạo Phật trong đời sống hàng ngày và khai mở được tình thương yêu rộng lớn của đại từ, thấy được tánh cách trong sáng rỗng lặng, tỏa chiếu và tràn đầy của mọi hiện tượng thì lòng chúng ta tràn đầy một niềm an vui kỳ diệu. Vì sao? Vì tánh tự nhiên sẵn có nơi chúng ta hay chân tâm, Phật tánh vốn rộng lớn, an vui, trong lành và tinh sạch như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rõ:

“Chúng sanh vốn có sẵn Phật tánh chứ chẳng phải từ nơi khác đem đến. Ví như có người trong chiếc áo có sẵn viên ngọc như ý mà chẳng hay biết. Chẳng khác nào mình có bảo vật trong kho tàng mà chẳng tự biết để đến nỗi phải chạy để tìm miếng ăn nuôi sống hàng ngày.”

Sống với tâm trong sáng, rộng lớn, an vui, là sống với cái chân thường, chân ngã, chân lạc và chân tịnh của chân tâm, tâm chân thật, của Phật tánh, tánh trong sáng, rộng lớn bao la, tràn đầy an vui kỳ diệu, tràn đầy niềm hạnh phúc sâu thẳm nơi chúng ta. Điều ấy đức Phật nhấn mạnh trong kinh Đại Niết Bàn và khuyến khích chúng ta hãy tiến lên trên con đường thực hành hạnh phúc cho mình và cho mọi người.  Nói khác đi là thực hành Bồ Tát Đạo trong đời sống hàng ngày.

Chương 4

HƯỚNG VỀ ĐỜI SỐNG KHỎE MẠNH VÀ HẠNH PHÚC

Chúng ta theo thói quen có nhiều ý kiến cố định, tin tưởng một cách sai lầm về các sự kiện xảy ra trong đời sống. Những người bị tai nạn, bệnh tật hay khổ đau thường chép miệng: “Trời bắt vậy thì phải chịu vậy” hoặc than “Nghiệp chướng mình phải trả” v.v…, rồi buông tay chịu đựng mọi thứ khổ đau, phiền não. Đức Phật dạy đừng tin tưởng vào một thứ gì mơ hồ mà phải tin trong ánh sáng của sự hiểu biết chân thật như sau:

“Đừng vội tin một điều gì dù điều ấy được nhắc nhở luôn. Đừng vội tin một điều gì, dù là di tích của người xưa hay là tập tục cổ truyền để lại phải tin. Đừng vội tin điều gì, dù điều ấy được trọng vọng bênh vực hay được ghi chép trong kinh sách.. Tất cả những sự thật, này các đệ tử, theo kinh nghiệm của ngươi, và được xác nhận phù hợp lẽ phải, hợp đạo đức, tạo thành an lạc cho người và cho các loài thì chính đó là sự thật và ngươi hãy sống theo sự thật.”

Điều nói trên đã được một nhà khảo cứu về sự già nua của con người thực hành một cách chín chắn. Viện Quốc Gia về Già Cả (National Institute On Aging) chính thức cho rằng không có một phương pháp gì làm cho con người trẻ trung trở lại qua thuốc men, ăn uống, tập thể dục hay một phương pháp tinh thần nào. Tuy vậy giáo sư Ellen Langer thuộc trường Đại học Harvard không tin như thế. Ông cho rằng sự già cả là do tâm tạo ra vậy tâm con người có thể làm cho sự già cả hết đi. Ông ta lập ra một chương trình nghiên cứu đặc biệt bằng cách tuyển chọn những người từ 75 tuổi trở lên và cho họ đi một chuyến nghỉ hè đặc biệt. Những ông cụ này được chở đến một vùng ngoại ô, nơi đó mọi sinh hoạt đều phỏng theo cách thức trước đây 20 năm. Tất cả những báo chí, phim ảnh, cùng các đề tài thảo luận đều thuộc về 20 năm về trước, tuy vậy họ luôn luôn sử dụng thì hiện tại để nói về chúng như các sự kiện đó vừa xảy ra. Nói khác đi, họ sống lại trong khung cảnh hồi họ còn trẻ 20 năm về trước.

Điều lạ lùng là sau một tuần, người ta thấy những ông cụ này thật sự trẻ lại: Trí nhớ họ gia tăng, cử động của họ nhanh nhẹn hơn trước, ngón tay của họ lại dài ra và hoạt động phần nào như trước đây. Họ ngồi thẳng thớm hơn, cầm đồ vật chắc chắn hơn và cả nghe cũng thấy rõ ràng hơn trước.

Trong tác phẩm Tỉnh Thức, Mindfulness, giáo sư Langer cho biết chính sự tỉnh thức trong đời sống: sống với tâm bén nhạy, rộng mở với những gì mới mẻ và tinh thần mạnh mẽ. Điều này chúng ta thấy rõ ràng nơi cuộc đời của đức Phật. Ngài luôn luôn sống tỉnh thức, tâm trong sáng, bén nhạy, cởi mở và an vui vô cùng. Do đó tất cả những gì về cuộc đời của Đức Phật, những lời dạy của Ngài đều hướng về đời sống lành mạnh, thoải mái, an vui và hạnh phúc kỳ diệu mà mỗi con người đều nên thực hiện cho chính mình. Do đó, chúng ta thích nhìn các tượng Phật, vì thấy hình ảnh tươi mát, tỏa chiếu ánh sáng của tình thương yêu, của sự hiểu biết chân thật, của nguồn hạnh phúc kỳ diệu làm cho tâm ta trong lành, trí ta thoải mái và lòng ta an vui. Ngoài ra, có những pháp môn tu tập quán chiếu hình ảnh đức Phật hay đức Quán Thế Âm, tưởng thấy thật rõ ràng hình ảnh đẹp đẽ, trong sáng của Đức Phật hay Đức Quán Thế Âm làm cho thân thể và tinh thần chúng ta trở nên trong sáng, tươi mát, lành mạnh và an vui. Khi quán chiếu như thế thì chúng ta xóa bỏ tất cả những giới hạn về không gian và thời gian, đi sâu vào nguồn cội tâm linh của mình vốn bất sanh bất diệt, mãi mãi có mặt. Cội nguồn tâm linh đó chính là tâm chân thật của chúng ta hay còn gọi là chân tâm hoặc Phật tánh vốn không có sinh, già, bệnh, và chết như trong kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật mà người Phật tử thường tụng đọc:

“Không có sự mê mờ và không làm cho hết mê mờ,

Không có sự già và chết và không làm cho hết già và chết.

Không có sự khổ, nguyên nhân sự khổ, làm cho hết khổ và sống giải thoát.”

Nói khác đi, khi chúng ta biết chân tâm Phật tánh nơi mỗi chúng ta vốn luôn luôn trong sáng, rộng lớn, an vui, không bao giờ bị hư hao hay mất mát thì chúng ta vượt qua sự thấy biết sai lầm giới hạn trong sinh ra, lớn lên, già cả và chết chóc cùng với khổ đau và khát vọng tiêu diệt khổ đau. Sống với tâm như thế là sống với sự thiên thu vĩnh cửu, sống với thời gian vô cùng vô tận và không gian bao la rộng lớn vô biên. Điều ấy thật đúng với lời thơ của William Blake:

“Thấy vũ trụ trong một hạt cát

Và thiên đàng nơi một đóa hoa dại

Cầm vô biên trong lòng bàn tay

Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi.”

Hay nói một cách cụ thể, rõ ràng và chân thật của vị sư tổ dòng thiền Lâm Tế, thiền sư Hoàng Bá như sau:

“Sự thật tối thượng khai mở cho chúng ta biết Tâm Chân Thật của chúng ta không nương tựa vào vật gì cả. Tâm ấy rỗng lặng, cùng khắp, lặng lẽ, tinh sạch, chiếu sáng và tràn đầy một niềm vui an bình và kỳ diệu. Tâm ta chỉ thế, ngoài ra không có gì cả.”

Biết Thật Sự Mình Muốn Gì

Đạo Phật nhấn mạnh đến tính cách liên hệ của mọi sự vật, mọi hiện tượng theo cái thấy biết chân thật về tính cách không hai, không riêng biệt (bất nhị) của mọi thứ (vạn pháp) như sau:

“Cái này có vì cái kia có,

Cái này không vì cái kia không

Cái này sanh vì cái kia sanh

Cái này diệt vì cái kia diệt.”

Ý tưởng nói trên dùng để diễn tả tính cách nương tựa vào nhau của các sự vật cũng như các hiện tượng tâm lý để làm cho xuất hiện hay “sinh ra” một điều gì, một thứ gì đó. Như một chiếc bàn là do sự kết hợp của các yếu tố gỗ, người thợ mộc, dụng cụ cưa, bào, đục, và ý muốn tạo ra chiếc bàn. Các yếu tố ấy có nên có chiếc bàn, các yếu tố ấy không có thì chiếc bàn không bao giờ xuất hiện. Hiện nay các nhà thần kinh học nhận thấy hễ bộ óc chúng ta có những ý tưởng tích cực cùng sự vui vẻ thì một số các chất hóa học tốt được tạo ra tương ứng với sự tích cực và vui vẻ đó. Nếu các ý tưởng buồn rầu, tiêu cực xuất hiện thì hệ thống miễn nhiễm chống lại bệnh tật bị suy yếu làm thân thể mệt mỏi và ốm đau, chưa kể rất nhiều bịnh không do vi trùng gây nên xuất hiện.

Những điều ấy Đạo Phật dạy là tính cách duyên khởi của mọi sự kiện vật chất hay tinh thần. Duyên khởi là những kết hợp của các thứ khác nhau để tạo ra một thứ, một tình trạng nào đó như chúng ta đã nói ở trên. Khi nói đến thời gian thì chúng ta nghĩ thời gian vốn bình đẳng với mọi người. Một người già, một em bé, một người giàu, một người nghèo, một giờ trôi qua thì vốn giống nhau cho mọi người. Trên thực tế, thời gian của mỗi người vốn khác nhau tùy theo các yếu tố kết hợp lại thành cơ thể của mỗi người như tính cách di truyền, cách ăn uống, sinh hoạt, tánh tình, sự tỉnh thức trong đời sống. Có người chỉ mới bốn mươi tuổi mà trông như ông già bảy mươi. Có những cụ già bảy mươi mà còn trẻ trung, hoạt bát, nhanh nhẹn như người năm mươi tuổi.

Sau bao nhiêu năm nghiên cứu về sự già cả, các nhà khoa học nhận biết trong người chúng ta có một thứ “đồng hồ” cơ thể điều khiển tất cả mọi nhịp độ của đời sống như thức, ngủ, ăn, uống, nhiệt độ cơ thể, áp huyết, sự tăng trưởng cùng sự sản xuất các chất kích thích tố điều hòa mọi sinh hoạt trong người chúng ta. Có một số rất ít tế bào thuộc vùng dưới đồi nhân giao thoa trên (hypothalamus), nằm ở giữa và phía dưới não lớn, gọi là suprachiasmatic nucleus, điều hành mọi hoạt động của cơ thể từ một tế bào mắt chúng ta không thể thấy được đến sự bài tiết, dinh dưỡng, v.v… Điều quan trọng mà chúng ta cần biết nơi đây là những trạng thái tâm lý ảnh hưởng và có khi làm thay đổi sự điều hành của cái “đồng hồ” này như trường hợp những người già đã trẻ lại như chúng ta đã nói ở trên. Nói khác đi, chúng ta đạt được tự do về tâm lý hay là sự tự do chân thật nhất khi chúng ta sống đời sống có tình thương yêu trong sáng, có sự hiểu biết chân thật và hạnh phúc bao la. Khi tâm ở trong trạng thái an vui tỉnh thức thì một nguồn năng lượng tích cực, tốt đẹp và mạnh mẽ tràn ngập khắp thân thể làm cho các tế bào được lành mạnh, trẻ trung và do đó thân thể được khỏe mạnh. Khi tự mình kinh nghiệm rõ ràng về sự mầu nhiệm của niềm an lạc, một niềm vui sâu thẳm và bình an hay nói khác đi một niềm hạnh phúc trong sáng tràn đầy thì chúng ta biết rõ thật sự mình muốn gì trong cuộc sống: Chúng ta muốn sống trong niềm hạnh phúc kỳ diệu của chân tâm, Phật tánh của mình. Biết được điều ấy một cách rõ ràng là chúng ta rất thành thực với mình và khai mở cho sự thông minh biểu lộ tràn đầy trong đời sống hàng ngày. Sự thông minh trong sáng bén nhạy đó cũng là tình thương yêu tỏa sáng đời sống của chúng ta.

Tình Thương Yêu Khai Mở Năng Lực Kỳ Diệu

Hiện nay ở Hoa Kỳ người ta thường nói đến tình thương yêu, có những lớp dạy về tình thương yêu vì sự trống vắng và quạnh quẽ trong đời sống dư thừa vật chất. Trong ngành chữa trị y khoa người ta lại càng thấy rõ tình thương có năng lực chữa trị bệnh tật hỗ trợ cho những thuốc men và kỹ thuật tân tiến hiện nay. Hàng trăm cuốn sách đã được viết ra để hướng dẫn hay nhắc nhở dân chúng về yếu tố quan trọng của tình thương trong việc giáo dục con cái, duy trì sức khỏe, chữa trị bệnh tật cho mình và cho người.

Điều này thật rất quen thuộc với người thực hành đạo Phật vì thực hành đạo Phật là sống với tình thương yêu rộng lớn, sự hiểu biết chân thật và nguồn an vui kỳ diệu nơi chính mỗi chúng ta.

Tình thương yêu rộng lớn đạo Phật gọi là từ bi. Từ là tình thương yêu trong lành, ấm áp, tỏa chiếu hướng đến người khác và mong họ có được sự an vui. Bi là lòng mong muốn giúp đỡ những người đang bị tai ương, ách nạn, đói khổ nói chung là bị khổ đau để họ có được đời sống an lành và tốt đẹp.

Thương yêu và muốn đem lại niềm an vui cho người là một tính tự nhiên sẵn có nơi mỗi chúng ta, đó cũng là chân tâm hay Phật tánh tràn đầy một tình thương yêu trong lành, tỏa chiếu, ấm áp và rộng lớn bao la. Đó là tình thương yêu không điều kiện, không cân nhắc, không mong cầu đáp ứng. Tình thương yêu ấy vốn tự nhiên tỏa sáng.

Chúng ta hãy nghe vị đạo sư Tây Tạng, Tarthang Tulku Rimpoche nói về tình thương yêu đó trong mối tương quan giữa con người:

“Mọi thứ đều liên hệ lẫn nhau một cách lạ lùng. Khi ý thức về điều ấy thì sự liên hệ của chúng ta đặt nền tảng trên tình thương yêu, không phải tình thương yêu cân nhắc, suy tính, mà là một tình thân hữu tự nhiên đối với mọi loài, một sự khai mở cõi lòng do sự thông hiểu tự nhiên về mối liên hệ lẫn nhau đó. Từ đó, những mong muốn về lợi lộc riêng tư sẽ tiêu tan. Không có một vấn đề gì của cá nhân còn lại…

Khi tôi càng tìm hiểu về những vấn đề của người khác thì các vấn đề của tôi càng bị tiêu trừ. Như thế, tìm hiểu các vấn đề người khác vốn rất quan trọng… Sự hiểu biết vấn đề các người khác làm gia tăng sự hiểu biết về chính mình; sự hiểu biết chính mình làm gia tăng lòng từ bi; lòng từ bi làm gia tăng sự hiểu biết người khác. Đó là một vòng tròn chắc nịch mà chúng ta chỉ có thể đi vào bằng cách buông bỏ mối quan tâm về chính những vấn đề của mình.”

Nói khác đi, khi chúng ta khai mở cõi lòng, hướng đến người khác để tìm hiểu những mối lo lắng, sợ hãi, giận hờn và khổ đau của họ thì lòng từ bi, tình thương yêu trong sáng, ấm áp, rộng lớn tràn đầy trong ta. Lúc đó, bao nhiêu những ý tưởng chấp dính vào cái tôi của mình, cái ngã của mình tan biến đi nên mọi thứ lo lắng, sợ hãi, buồn phiền và khổ đau nơi chúng ta cũng đều tan biến theo.

Phẩm Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói về sức mạnh của tình thương yêu đó cùng năng lực làm tiêu sạch mọi thứ khổ đau:

“Lòng bi vang tiếng sét

Đức từ rạng nhường mây

Cam lồ mưa pháp gội

Lửa phiền não tưới tắt.”

Lòng từ bi mãnh liệt như một cơn sấm sét và tỏa sáng như một đám mây chứa đựng ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Khi lòng từ bi bừng dậy thì tâm ta tràn đầy một sự ngọt ngào trong lành tinh sạch làm tiêu hết mọi lo âu, sợ hãi, giận hờn và khổ đau. Nói khác đi, tình thương yêu trong lành là một nguồn năng lực kỳ diệu tràn đầy nơi thân và tâm; chúng có khả năng làm cho ta an vui hạnh phúc và làm cho thân thể chúng ta được lành mạnh tươi mát.

Tình thương yêu trong lành đó không phải chỉ là một cảm xúc nhất thời nơi chúng ta hay một cảm giác thụ động hoặc tiêu cực như sầu muộn, buồn rầu, hay ray rứt. Đạo Phật nhấn mạnh từ bi là tình thương yêu trong sáng, tích cực, ấm áp, mạnh mẽ, tỏa chiếu ánh sáng của năng lực kỳ diệu nơi chính mình (từ) cùng một động lực mạnh mẽ đẩy chúng ta đi tới, thực hành những điều đem lại an lành, no ấm, bình an, phát triển và hạnh phúc cho người khác (bi). Do đó, từ bi là một nguồn năng lực kỳ diệu đem đến niềm an vui bao la cho mình và hạnh phúc cho mọi người.

Có Tình Thương Yêu Trong Sáng Là Có Sự Hiểu Biết Chân Thật

Đức Phật dạy chúng ta từ bi tức là trí tuệ. Khi nào tình thương yêu trong sáng bừng dậy thì sự hiểu biết chân thật lập tức xuất hiện. Hay ngược lại khi có sự hiểu biết chân thật thì tình thương yêu trong lành lập tức có mặt. Trí tuệ, sự thấy biết chân thật là một sự thông minh tinh túy, bén nhạy, thâm nhập vào mọi thứ tinh thần hay thể chất làm ta biết rõ ngay tánh cách trong sáng của mỗi thứ trong một cái toàn thể bao la. Cái thấy biết kỳ diệu ấy biểu lộ qua cái thấy, nghe, nếm, ngửi, cảm xúc, qua sự thấy biết rõ ràng mọi hiện tượng, qua sự biết rõ chân thật tính cách trong sáng, tinh sạch, rỗng lặng đồng thời có mặt rực rỡ tràn đầy của mỗi sự vật và qua cái thấy biết vũ trụ rộng lớn tràn đầy, tỏa chiếu, đẹp đẽ quanh chúng ta. Nói khác đi, tâm ta như thế nào thì thế giới biểu lộ như thế ấy.

Điều nói trên được nhà tâm lý học thời đại Abraham Maslow gọi là kinh nghiệm cực đỉnh (peak experience) như sau:

“Có một thứ thấy, nghe hay cảm xúc chân thật nhất... Đặc tính của kinh nghiệm cực đỉnh là sự cảm nhận toàn thể thế giới là một sự hợp nhất, là một cái toàn thể... Kinh nghiệm của riêng tôi, tôi có hai bệnh nhân nhờ kinh nghiệm cực đỉnh đó mà tức khắc, hoàn toàn và vĩnh viễn chữa lành chứng bệnh tâm loạn lo lắng kinh niên của một người và người kia sự ám ảnh mãnh liệt về ý tưởng tụu vận.”

Nhà tâm lý học thời danh trên nói nhiều về các trạng thái an vui kỳ diệu của tâm giác ngộ nhưng ông không hướng dẫn phương pháp làm cách nào để sống với tâm kỳ diệu ấy mà đạo Phật gọi là tâm chân thật, chân tâm, Phật tánh vốn có sẵn nơi mỗi chúng ta. Phương pháp sống với chân tâm, Phật tánh được các tông phái Phật giáo như Thiền Tông, Tịnh Độ Tông hay Mật Tông chỉ cách thực hành rất rõ ràng. Ngoài ra, Diệu Pháp Phổ Môn, một phương pháp tu tập kết hợp tinh hoa hàng ngày để đem lại cho chúng ta sự thoải mái, an vui, hạnh phúc về tinh thần, sự lành mạnh về thể chất và sự thành công trong cuộc sống tích cực trong các sinh hoạt xã hội hàng ngày mà chúng ta sẽ tìm hiểu thêm ở phần sau.

Dù cho chúng ta chưa đạt tới trạng thái giác ngộ để cảm nhận niềm an vui tuyệt vời của Phật tánh thì sự thực hành tu tập làm cho thân và tâm thoải mái, an vui cùng giúp chúng ta gia tăng sự thông minh, sự hiểu biết làm cho chúng ta thành công tốt đẹp trong cuộc sống vì tất cả các phương pháp tu tập của Phật giáo đều giúp chúng ta gia tăng sự tỉnh thức, thấy rõ những gì đang xảy ra, gia tăng sự tập trung tư tưởng, gia tăng nguồn năng lực thể chất và tinh thần. Như khi niệm Phật, tụng kinh, trì chú, quán tưởng hay ngồi thiền chúng ta hoàn toàn chú ý vào hiện tại cùng thực hành thật đúng và rõ ràng.

Sống An Vui, Lành Mạnh Và Thành Công

Nhiều người tuy rất thích đạt được niềm an vui trong cuộc sống nhưng họ lại cho rằng sự thực hành tu tập đòi hỏi nhiều công phu quá và sự tu tập nhiều lúc bó buộc chúng ta xa lánh những sinh hoạt cần thiết.

Nghĩ như thế thật sai lầm vì tùy theo mỗi người mà chúng ta sắp xếp thời gian tu tập cho thích hợp. Mỗi ngày chúng ta chỉ cần bỏ ra độ hai mươi phút là có thể làm cho thân thể thoải mái, tinh thần an vui và sau đó áp dụng vào việc gia tăng khả năng chuyên môn của mình. Điều trên được các nhà tâm lý học gọi là thiền hoạt động. Vào năm 1981 hai nhà tâm lý Fiebert và Mead thực hiện một cuộc nghiên cứu về thiền hoạt động. Họ đã dùng phương pháp thiền biến chế theo phương thức tâm lý học làm cho các sinh viên gia tăng khả năng học hỏi của họ theo một phương pháp rất giản dị là theo dõi hơi thở để cho thân tâm thoải mái sau đó họ học bài. Kết quả là các em học sinh này gia tăng điểm trong kỳ thi. Một nhóm học sinh khác cũng được tiến sĩ Abram ghi lại kết quả học hành tốt đẹp sau khi các em này thực hành thiền và gia tăng sự chú tâm.

Bác sĩ Herbert Benson đề nghị một phương pháp rất giản dị là chọn một chữ hay một câu thích họp, ngồi yên ổn và thoải mái, nhắm mắt và buông xả các bắp thịt, thở rất tự nhiên và lập lại chữ hay câu lựa chọn ở hơi thở ra, khi quên thì nhớ quay về sự thực hành nhưng với thái độ tích cực, đừng trách móc gì mình cả. Thực hành như thế từ mười đến hai mươi phút rồi bắt đầu chương trình học hành, nghiên cứu hay làm việc thì kết quả gia tăng rất nhiều. Điều này thật phù hợp với phương pháp thực hành tu tập của Phật giáo nhất là Diệu Pháp Thiền Tịnh để tăng gia các khả năng cần thiết trong đời sống hàng ngày của mình đồng thời sống lành mạnh, an vui và hạnh phúc.

Diệu pháp là phương pháp linh diệu đem đến cho chúng ta những kết quả tốt đẹp, Thiền Tịnh là phương pháp phối hợp Tịnh Độ Tông và Thiền Tông mà các vị tổ thường cho là phương pháp tu tập mạnh mẽ và tốt đẹp như cọp thêm cánh. Ngoài ra, người thực hành phương pháp này còn quán tưởng hình đức Quán Thế Âm như đã được đức Phật Thích Ca chỉ dạy trong phẩm Phổ Môn của kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói về thân tướng đẹp đẽ kỳ diệu và lòng thương yêu bao la của đức Quán Thế Âm. Ngài xuất hiện trong cuộc đời để ban cho chúng ta an vui, lành mạnh, sức khỏe cùng giúp cho chúng ta thực hành đạo Phật để đạt được niềm hạnh phúc bao la trong đời sống. Tóm lại, Diệu Pháp Thiền Tịnh là một phương pháp linh diệu khai mở cánh cửa rộng lớn của chân tâm, Phật tánh để chúng ta tiếp xúc được, sử dụng được những khả năng kỳ diệu có sẵn nơi mỗi chúng ta để sống cuộc đời lành mạnh, an vui, thành công và hạnh phúc. Ngoài ra, nhờ sự bảo hộ của đức Quán Thế Âm, chúng ta có thể thực hành nhiều sự nhiệm mầu.

Diệu Pháp Thiền Tịnh là một phưong pháp linh diệu dành cho người tại gia thực hành. Những người sống cuộc đời bình thường cần có một phương pháp thực hành giản dị, cụ thể, ngắn gọn và có kết quả chắc chắn để áp dụng hàng ngày ở nhà cũng như ở sở làm hầu gia tăng sức khỏe, hiệu năng làm việc và niềm an vui. Tùy theo mục đích chúng ta muốn đạt được trong sự tu tập cũng như những thành quả trong các chương trình sinh hoạt hàng ngày mà chúng ta áp dụng phương pháp thực hành.

Để thực hành phương pháp phù hợp với sự mong muốn của mình, trước hết chúng ta tự hỏi và trả lời một cách thành thật: mình muốn gì? Chúng ta muốn có đời sống an vui, lành mạnh, thoải mái và hạnh phúc. Chúng ta muốn học thêm kiến thức chuyên môn trong ngành, chúng ta muốn làm các bài tập ở trường, chúng ta muốn gia tăng khả năng tinh thần như sự sáng tạo, sự bén nhạy của tâm thức, thành công hơn trong công việc làm, trong sự giao thiệp với người thân, bạn bè, chúng ta muốn phát triển các môn thể thao hay trong các chương trình tập thể dục, làm cho thân thể khỏe mạnh. Chúng ta cũng có thể tiến xa hơn trong việc phát triển khả năng cầu nguyện và quán tưởng để chữa trị bệnh tật cho mình và cho người khác theo một phương thức tu tập đặc biệt. Dĩ nhiên, điều này cần một nỗ lực tu tập có nền tảng và bền vững hàng ngày.

Sau khi chúng ta biết rõ mình muốn gì thì chúng ta phải vạch một chương trình để thực hiện điều ấy. Nếu chỉ muốn không thôi mà không thực hiện thì đó chỉ là những mơ ước viễn vông. Và trước khi thực hành chúng ta phải có chương trình rõ rệt để có thể hoàn thành điều mình mong muốn. Và cuối cùng, chúng ta bắt tay thực hành cho có kết quả tốt đẹp.

Chương 5

THỰC HÀNH ĐỜI SỐNG LÀNH MẠNH VÀ HẠNH PHÚC

Các lời đức Phật dạy trong kinh điển thường nhắm vào những vị xuất gia, những người từ bỏ cuộc sống gia đình, sống đời tu hành trong các tu viện hay chùa chiền. Một số lời dạy của đức Phật dành cho người cư sĩ tại gia cũng quý báu cho đời sống hàng ngày của họ mà chúng ta cần ôn lại theo hệ thống.

Trong kinh Kiên Chính, Kinh Lục Phương, kinh Phước Đức, đức Phật dạy người tại gia phải học hành, phải phát triển nghề nghiệp, phải lập gia đình theo phương thức tốt đẹp nhất để sống đời hạnh phúc, phải giáo dục con cái nên người và phải thương yêu, hiếu kính đối với ông bà cha mẹ, kính trọng và gần gũi các tăng ni dạy đạo, có tình nghĩa với anh em, bạn bè, biết thương mến và giúp đỡ thân bằng quyến thuộc, người nghèo khó, đóng góp vào trong việc lợi ích cộng đồng và tìm đến các tăng ni để học đạo. Đó chính là những điều mong muốn căn bản của một người bình thường tại gia.

Những người Phật tử chúng ta cần nhớ và biết rõ mục đích của mình và nhất là đừng lẫn lộn với những lời đức Phật dạy dỗ cho các vị xuất gia phải thực hành ở chùa chiền hay tu viện. Sự lầm l