MỤC LỤC
Lời
kính thưa trong kỳ tái bản
Lời
giới thiệu
Chương
1
TỪ
BỎ ƯU PHIỀN VÀ HƯỚNG ĐẾN AN VUI
Người
Cô Quạnh
Luôn
Luôn Muốn Hơn Người
Tự
Mình Tạo Ra Thảm Kịch
Một
Bài Học Quý Giá
Chương
2
CĂNG
THẲNG LÀ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TRONG THÂN VÀ TÂM
Sự
Căng Thẳng
Sự
Căng Thẳng Và Bệnh Tật
Nguyên
Nhân Và Mức Độ Căng Thẳng
Chương
3
NĂNG
LỰC KỲ DIỆU CỦA CON NGƯỜI
Khả
Năng Chữa Trị Bệnh Tật Nơi Chúng Ta
Tự
Giết Mình Bằng Sự Tức Giận
Niềm
Tin Có Khả Năng Làm Lành Bệnh
Những
Khả Năng Kỳ Diệu Của Con Người
Chương
4
HƯỚNG
VỀ ĐỜI SỐNG KHỎE MẠNH VÀ HẠNH PHÚC
Biết
Thật Sự Mình Muốn Gì
Tình
Thương Yêu Khai Mở Năng Lực Kỳ Diệu
Có
Tình Thương Yêu Trong Sáng Là Có Sự Hiểu Biết Chân Thật
Sống
An Vui, Lành Mạnh Và Thành Công
Chương
5
THỰC
HÀNH ĐỜI SỐNG LÀNH MẠNH VÀ HẠNH PHÚC
Tập
Thở
Sống
Tỉnh Thức Để Luôn Luôn An Lạc
Thực
Hành Tu Tập Để Chuẩn Bị Cho Mọi Hoạt Động Thành Công
Tốt Đẹp
Cầu
Nguyện Là Tiếp Nhận Năng Lực Kỳ Diệu Của Vũ Trụ
Chương
6
MỖI
NGƯỜI CHÚNG TA LÀ MỘT THẾ GIỚI KỲ DIỆU
Phép
Lạ Nơi Vùng Núi Hy Mã Lạp Sơn
Phép
Lạ Hiện Rõ Dưới Con Mắt Của Khoa Học
Cách
Thực Hành Tam Muội Hỏa
Cái
Thấy Toàn Diện Và Chân Thật
Hệ
Thống Miễn Nhiễm
Thành
Phần Và Hoạt Động Của Hệ Thống Miễn Nhiễm
Sức
Khỏe Hoàn Toàn
Chân
Thường, Chân Ngã, Chân Tịnh Và Chân Lạc
Hãy
Có Thái Độ Tích Cực
Chương
7
SỐNG
LÀNH MẠNH VÀ HẠNH PHÚC LÀ PHÉP LẠ LỚN NHẤT CỦA CON NGƯỜI
Tu
Tập Diệu Pháp Thiền Tịnh
Ý
Nghĩa Và Cách Thực Hành Diệu Pháp Thiền Tịnh
An
Vui Và Khỏe Mạnh
Không
Già, Bệnh Và Chết
Buông
Bỏ Cái Thấy Biết Sai Lầm
Chương
8
CÂU
THẦN CHÚ MỞ CÁNH CỬA HUYỀN DIỆU CỦA ĐỜI SỐNG
Khả
Năng Kỳ Diệu Của Chúng Ta
Khoa
Học Xác Nhận Khả Năng Kỳ Diệu Của Con Người
Lục
Tự Đại Minh Chân Ngôn
Đông
Và Tây Gặp Nhau Trong Khoa Học Chữa Trị Các Bệnh Tật
Trì
Niệm Thần Chú Và Cầu Nguyện Để Chữa Trị Các Bệnh Tật
Thân
Và Tâm Là Một Khối Trong Sáng Rộng Lớn Và An Vui
Diệu
Pháp Thiền Tịnh Làm Cho Bệnh Tật Chóng Lành
Chữa
Trị Các Chứng Bệnh Tâm Thần
Chương
9
THỰC
HÀNH DIỆU PHÁP THIỀN TỊNH ĐỂ SỐNG ĐỜI AN VUI KHỎE MẠNH
CÙNG CHỮA TRỊ CÁC THỨ BỆNH TẬT
Cách
Chữa Trị Các Bệnh Tật
Cách
Quán Tưởng Để Chữa Trị Các Loại Bệnh Thể Chất
Cách
Quán Tưởng Để Chữa Trị Các Bệnh Tâm Thần
Chương
10
ĐẠO
PHẬT LÀM CHO ĐỜI TÔI TƯƠI SÁNG AN VUI VÀ HẠNH PHÚC VÔ CÙNG
Làm
Sao Sống Với Niềm An Vui Hạnh Phúc Bao La Ấy
Đạo
Phật Không Diệt Dục Mà Chỉ Diệt Khổ
Bốn
Điều Muốn Tốt (Thiện Dục) Cần Thực Hành
Năm
Điều Xấu Ác Không Làm (Ngũ Giới)
Năm
Điều Lành Nguyện Làm
Bồ
Tát Đạo
Sống
Đời Tích Cực Là Sống Giác Ngộ
Sách
tham khảo
Phương
danh quí vị phát tâm ấn tống
Lời
Kính Thưa Trong Kỳ Tái Bản
Sau
khi nhóm Khóm Hồng San Diego phổ biến tập Hạnh Phúc kỳ diệu
vào mùa xuân 1993, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến đóng
góp tích cực. Nhận thấy sự cần thiết trình bày thêm những
cách thức cụ thể áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày để
duy trì và phát triển niềm an vui trong lành, tươi mát và tích
cực, chúng tôi đã soạn thêm trên một trăm trang cho kỳ tái
bản này.
Joseph
Campbel, nhà huyền thoại học trứ danh của Hoa Kỳ vào cuối
thế kỷ thứ hai mươi này, khi được sinh viên của ông hỏi
họ phải chọn lựa con đường nào, ông ta trả lời không
chút do dự: “Hãy đi theo niềm an vui kỳ diệu của chính
mình.”
Niềm
an vui kỳ diệu đó không đến từ sự thỏa mãn các nhu cầu
vật chất hay tâm lý. Niềm an vui kỳ diệu ấy đã có sẵn
muôn thuở nơi mỗi người chúng ta. Nhà triết học cổ Hy
Lạp đã nhắc nhở chúng ta: “Hãy tự biết về chính mình.”
Đức Phật chỉ rõ cho thấy con người chân thật của mỗi
chúng ta vốn vượt ra giới hạn của thời gian và không gian:
có mặt mãi mãi (chân thường), vốn rộng lớn bao la (chân
ngã), trong sáng và tinh sạch vô cùng (chân tịnh) và vốn luôn
luôn an vui kỳ diệu (chân lạc). Đức Phật gọi đó là viên
ngọc quý vô giá mà mỗi chúng ta đều có. Viên ngọc ấy
quý giá vô cùng dù chúng ta không biết đến để sử dụng
mà sống an vui hạnh phúc trong đời sống hàng ngày. Quyển
sách này hy vọng nói lên được một phần rất nhỏ về điều
ấy.
Trong
kỳ tái bản này, chúng tôi thành kính tri ân ông bà Nguyễn
Xuân Dũng và Mạnh Hoa đã có nhã ý vận động quý đạo hữu
để in cùng quý vị phát tâm ấn tống mà phương danh được
trình bày đầy đủ nơi trang cuối. Lòng hảo tâm và sự sốt
sắng của quý vị tạo duyên lành cho kỳ tái bản quyển sách
này. Chúng tôi xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Dũng, ngoài những
tấm ảnh mỹ thuật tặng cho chùa Việt Nam, đã bỏ nhiều
thời gian đọc và sửa lỗi trong bản thảo. Nhờ công đức
đó mà quyển sách này được nhiều phần tốt đẹp hơn.
Chúng
tôi xin thành thật tri ơn hai đạo hữu Phạm Bá Trung và Phạm
Kiều Nga, như mọi lần, đã vui vẻ và bỏ rất nhiều thời
gian và công sức cho phần trình bày được đầy đủ và trang
nhã. Chúng tôi cũng xin cảm ơn bà Nguyễn Thị Nguyên Hảo
cùng phu quân đã phụ trách cho phần in được tốt đẹp như
ý và kịp thời.
Chúng
tôi cũng xin chắp tay hướng về thầy Viện Chủ Thích Nguyên
Hạnh cùng chư vị Tăng Ni và quý vị Phật tử thuộc Trung
Tâm Phật Giáo Việt Nam dâng lời cảm tạ. Chính qua những
sự đóng góp liên tục, tốt đẹp và thành tâm của quý vị
Phật tử không nề hà bao nhiêu khó khăn cùng với sự hy sinh
và chịu đựng khó khăn gian khổ của thầy Viện Chủ cố
gắng hoằng dương Phật pháp tại địa phương cũng như tại
các tiểu bang Illinois, Massachusetts, Washington, Michigan, v.v...
cùng với nỗ lực giúp đỡ cho những người nghèo khó, những
thầy cô và một số đồng bào trong trại tỵ nạn và quý
tăng ni sinh bên nhà làm cho chúng tôi và các vị Phật tử
rất cảm kích.
Sự
tham dự sinh hoạt và đóng góp của quý vị Phật tử làm
cho sinh hoạt Trung Tâm Phật Giáo chùa Việt Nam được tiến
triển mỗi ngày một tốt đẹp. Nhờ đó, chương trình xây
cất Ngôi Chánh Điện được xúc tiến tốt đẹp như đã
dự trù. Nguyện cầu chư Phật lực gia hộ cho công trình tốt
đẹp này thành tựu viên mãn.
Chúng
tôi cũng thành kính dâng lời cảm tạ đến chư Tôn Đức
Tăng Già cùng quý vị Phật tử vùng Houston đã cùng nhau thực
hiện nhiều chương trình hoằng pháp, cầu nguyện cho quê hương
, cùng các sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, và xã hội làm gia
tăng niềm tin của quần chúng Phật tử vào đạo pháp. Chính
lòng bao dung, sự cảm thông hòa hợp, sự hiểu biết chân
thật, lòng thương yêu trong sáng và niềm an vui do việc thực
hành các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ trong đời sống hàng ngày của quý vị
là tấm gương sáng cho những người con Phật và cũng là một
khích lệ lớn lao cho chúng tôi hoàn thành tập sách này.
Đệ
tử xin thành kính đảnh lễ chư Tôn Đức Tăng Ni tại Hải
Ngoại cũng như tại Việt Nam. Chính nỗ lực hành trì và phát
huy đạo pháp của các ngài làm cho Phật tử chúng con luôn
luôn nhớ và cố gắng hành lời Phật dạy:
“Chiến
thắng không thể bại
Trên
đời không dấu tích
Phật
giới rộng mênh mông
Làm
sao hòng theo dõi.
Lưới
mê được giải tỏa
Ái
phược hết buộc ràng
Phật
giới rộng mênh mông
Làm
sao hòng theo dõi.
Người
trí chuyên thiền định
Thích
an tịnh, giải thoát
Bậc
chánh giác chánh niệm
Chư
thiên đều ái kính.
Sinh
làm người là khó
Được
sống còn là khó
Nghe
chánh pháp là khó
Sống
gặp Phật là khó.
Chớ
làm các điều ác
Gắng
làm các hạnh lành
Giữ
tâm ý trong sạch
Chính
lời chư Phật dạy.”
Phẩm
Phật Đà – Buddhavagg
Kinh
Pháp Cú
(Bản
dịch trong Kinh Lời Vàng)
Và
cuối cùng, chúng tôi thành kính dâng lời cầu nguyện hồng
ân Tam Bảo tỏa chiếu tràn đầy đến các đồng bào trong
các trại tỵ nạn để tất cả đều được an lành như ý
nguyện, đến quý thầy cô và Phật tử đang lặn lội đến
những nơi nghèo khó xa xôi giúp đỡ cho các em bé, những cụ
già, những người ốm đau tật bệnh, những người nạn nhân
thiên tai, bão lụt cùng tất cả đồng bào chúng ta nơi quê
nhà và mọi chúng sanh trong Pháp Giới đều được an vui trong
năm mới.
Xuân
Quý Dậu
Phật
Lịch 2537 – Năm 1994
Đệ
tử Thích Phụng Sơn Cẩn Bái
DUYÊN
LÀNH
Trnng
tinh thần tu học, khóm Hồng San Diego đã hơn một lần được
đón tiếp Thầy Thích Phụng Sơn. Với Thầy, trong hành xử
chúng tôi học được hạnh khiêm cung, hòa ái. Trong các bài
giảng, chúng tôi thấy đạo Từ Bi của Đấng Như Lai được
chứng minh bằng các dữ kiện xã hội hàng ngày, được nhìn
bằng con mắt rất mới và đầy khoa học. Qua các khóa tu,
chúng tôi mỗi lúc mỗi thấy đời sống là kỳ diệu, chúng
tôi biết nâng niu từng hơi thở, biết trân quý từng lá cỏ,
áng mây... Và riêng với các em nhỏ lớn lên tại hải ngoại,
không thông thạo tiếng Việt, các em cũng nhận lãnh được
mỹ ý của đấng Thế Tôn qua lời giảng của thầy bằng
Anh ngữ. Vì thế trong khóa tu Mùa Đông 1992, Nam Cali, tại Tu
Viện Minh Đăng Quang, Thầy đã đúc kết các bài giảng của
mình thành một tập sách nhỏ, mang tên Hạnh Phúc Kỳ Diệu.
Đây là những bài học rất quý cho chúng ta, những Phật tử
sống ở nước ngoài. Thầy đã trao tập bản thảo này cho
Khóm Hồng để tùy duyên phổ biến. Từ đó đạo hữu Phổ
Hành lo về ấn loát, đạo hữu Văn Moch vẽ bìa và toàn thể
anh chị em trong Khóm Hồng và bằng hữu đóng góp tài chánh
để cuốn sách được hoàn thành. Đó là tất cả cơ duyên
khiến cuốn sách này có trong tay quý vị.
Chúng
tôi xin tri ân tác giả, Thầy Phụng Sơn, và trân trọng giới
thiệu cuốn sách này cùng quý Phật tử xa gần.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Khóm
Hồng San Diego
Mùa
Xuân Phật Lịch 2537
Chương
1
TỪ BỎ ƯU
PHIỀN VÀ HƯỚNG ĐẾN AN VUI
Ca
sĩ Michael Jackson là ngôi sao sáng số một của nhạc trẻ Hoa
Kỳ. Lợi tức hàng năm của anh là hàng chục triệu mỹ kim.
Dang vọng của anh lên đến tột đỉnh cùng với đời sống
giàu sang. Tuy đã được rất nhiều giải thưởng và tiền
bạc dư giả, Michael Jackson vẫn muốn có thêm danh vọng. Khi
những đĩa nhạc mới của anh được một phần thưởng Grammy,
phần thưởng cho những bản nhạc hay nhất trong năm, anh ta
rất buồn vì chỉ được “một” giải thưởng mà thôi.
Anh khóc lóc rất nhiều vì rất phiền muộn về chuyện đó.
Anh tâm sự với một ký giả: “Điều ấy làm tôi bận tâm
rất nhiều. Tôi khóc rất nhiều. Gia đình tôi nghĩ tôi sắp
hóa điên vì tôi khóc quá nhiều do chuyện ấy.”
Một
người đang ở tuyệt đỉnh vinh quang và giàu sang như Michael
mà phải khổ đau như thế không phải là một chuyện đặc
biệt. Nhiều người khác ở Hoa Kỳ và trên thế giới luôn
luôn bất mãn về chính mình dù họ đã vượt lên trên nhiều
người, có đầy đủ sức khỏe, tiền bạc và danh tiếng.
Vì sao xảy ra như thế? Vì họ luôn luôn bị sự thôi thúc
bên trong phải cạnh tranh chính với mình, phải luôn luôn vượt
lên mãi mãi. Đối thủ không còn là người bên ngoài nữa
mà đối thủ chính là họ. Và khi luôn luôn có sự bất như
ý về chính mình như thế họ sẽ mãi mãi khổ đau vì không
hưởng được hạnh phúc đang tràn đầy.
Đức
Phật trên 2,500 năm trước đây ngài đã biết rõ điều ấy
nên dạy cho chúng ta một phương pháp kỳ diệu về sống đời
hạnh phúc như sau:
“Chính
ta cũng mắc phải ưu phiền nhưng thấy có ưu phiền thì có
khổ nên ta hướng đến cảnh an tịnh vô thượng của Niết
Bàn vốn không ưu phiền. Cảnh an tịnh không gì hơn ấy ta
đã chứng và cả Niết Bàn không ưu phiền nữa.”
Đức
Phật dạy chúng ta phải giải quyết những vấn đề trong
cuộc sống qua sự hiểu biết rõ ràng về bốn sự thật trong
đời sống: Khổ, nguyên nhân của khổ, làm thế nào diệt
khổ và cách sống an vui hạnh phúc tuyệt vời nhất mà chúng
ta có thể thực hiện được trong đời sống hằng ngày. Chúng
ta hãy đọc câu chuyện sau đây để hiểu rõ về điều ấy.
Người
Cô Quạnh
Chúng
ta hãy nghe bác sĩ Ornish kể lại một câu chuyện đặc biệt
như sau: Sam đến với chương trình nghiên cứu cách chữa bệnh
tim của bác sĩ Ornish. Bác sĩ Ornish là một chuyên gia chữa
trị bệnh tim nổi tiếng thế giới vì ông ta dùng phương
pháp trị liệu mới mẻ nhất tại Hoa Kỳ: cho bệnh nhân ngồi
thiền, ăn chay, tập thể thao và tỏ bày những xúc cảm của
mình để bớt bị cảm giác cô đơn trong đời sống.
Sam
là một lực sĩ đã thành tựu điều mong ước. Anh cho biết
anh đã tham gia thế vận hội, một lực sĩ thế giới về
chạy bộ, đi bộ và xe đạp. Anh khám phá mình có bệnh vào
lúc anh 49 tuổi. Trong một cuộc tranh giải, anh ta bị đau ngực
rất nhiều nhưng cũng cố gắng hoàn tất cuộc đua. Bác sĩ
khám bệnh sau đó và cho thấy nhiều động mạch vành tim của
anh bị nghẽn. Các bác sĩ chữa trị bằng cách thông mạch
máu tim cho anh và anh hết bị chứng đau ngực. Nhưng sáu tuần
sau đó trong một cuộc chạy bộ, anh ta lại cảm thấy chứng
đau ngực trở lại. Lần này bác sĩ thấy một trong các
động mạch vành tim của anh ta hoàn toàn bị nghẽn nên không
thể thực hành sự thông mạch máu tim như trước đây. Anh
được giới thiệu đến chương trình nghiên cứu cách chữa
bệnh tim đặc biệt của bác sĩ Ornish và thay đổi lối sống
của mình.
Anh
ta tuân theo chương trình ăn uống kiêng khem, không hút thuốc
lá và thực hành sự giảm thiểu áp lực trong đời sống
hàng ngày một cách máy móc trong sáu tuần lễ, nhưng sau đó
anh ta ngưng hẳn thực hành điều ấy. Bác sĩ Ornish nhắc nhở
anh Sam là chỉ nên tập thể thao trong giới hạn bác sĩ đề
nghị và đừng bị ám ảnh bởi các ý tưởng mình phải luôn
luôn vượt thắng, luôn luôn bắt buộc mình phải thực hiện
một cuộc tranh đua để đạt được những sự mong ước
về chính mình. Sự tập thể thao không tạo ra áp lực nhưng
chính thái độ cạnh tranh tạo ra những áp lực trong đời
sống.
Tuy
anh ta tuân theo cách ăn uống kiêng khem và cách tập thể thao
nhưng anh từ chối sự bày tỏ các cảm tưởng của anh trong
những buổi họp chung vì anh lý luận: “Cảm tưởng chẳng
dính dáng gì đến bệnh tim cả. Chỉ có cách ăn uống, tập
tành, và cách làm cho chất cholesterol giảm xuống mới là điều
chính yếu.” Lần đầu anh trách cứ người bạn gái của
anh về hậu quả anh phải chịu, nhưng người bạn gái chỉ
im lặng và không tỏ bày cảm tưỏng nào cả. Cách ăn uống
đặc biệt làm cho số lượng cholesterol giảm từ 249 còn 121.
Anh thấy chứng đau ngực không còn nữa và bắt đầu chơi
thể thao nhiều như trước đây.
Luôn
Luôn Muốn Hơn Người
Sam
luôn luôn muốn chứng tỏ mình là con người đặc biệt để
được thương yêu và quý trọng. Vì vậy anh ta tự cho mình
là lực sĩ thượng thặng, một người đã tham dự thế vận
hội, một lực sĩ tài ba. Nhưng đó là một điều sai lầm
có tính cách sinh tử.
Khi
tạo ra một hình ảnh lý tưởng về mình - chứ không phải
biết rõ con người thật sự của mình – anh ta đã tạo ra
một hình ảnh giả tạo mà mình không thể nào đạt được
cả. Đạo Phật gọi đó là đầu mối, là nguyên nhân của
khổ đau: ham muốn điều không thể có được. Con người
lý tưởng mà anh vẽ ra đó luôn luôn cách biệt với con người
thật sự của mình nên anh thấy bị cô đơn và thiếu tình
thương yêu. Và vì cảm giác cô đơn và thiếu thốn tình yêu
đó anh ta lại càng bị chính mình thúc dục phải thực hiện
sự cạnh tranh, không phải với người nào khác, mà với chính
anh ta để thấy mình có giá trị.
Trong
một phiên họp có tính cách trị liệu, người ta yêu cầu
các bệnh nhân vẽ hình quả tim. Sam vẽ hình quả tim với
một vùng đen bao bọc chung quanh để bày tỏ sự cô quạnh
mà anh đã cảm nhận. Tuy nhiên, anh từ chối nói về cảm
tưởng của mình.
Mười
tháng sau khi được chấp nhận chữa trị trong chương trình
nổi tiếng này, Sam đã chết vì chứng bệnh tim! Đó là người
bệnh duy nhất chết khi tham dự chương trình này.
Tự
Mình Tạo Ra Thảm Kịch
Hôm
đó anh đến một trung tâm thể thao và leo lên một máy chèo
thuyền mà người chèo có thể tranh đua với hình ảnh những
người chèo thuyền khác trong một máy chiếu hình ảnh. Hễ
ngừời bên ngoài chèo nhanh thì hình ảnh của người bên
trong cũng chèo nhanh. Hễ người bên ngoài chèo chậm lại thì
hình ảnh bên trong cũng chèo chậm lại nhưng vẫn tiến hơn
về phía trước. Sau một giờ chèo thuyền đua, Sam đã tự
hào nói với người bên cạnh là mình đã vượt qua 150 hình
những người chèo thuyền trong phim truyền hình. Sau đó, anh
ta đứng lên, vào phòng vệ sinh, bị ngất xỉu rồi chết
tức thì.
Bác
sĩ Ornish cho đây là một thảm kịch vì một người luôn luôn
muốn tranh thắng để có được cảm tưởng mình là quan trọng
thì đến một cái máy cũng làm phát sinh ý muốn tranh chấp
với nó. Anh cho phép một cái máy vô hồn có khả năng khơi
động những xúc cảm nơi anh và đưa anh đến cái chết nhanh
chóng. Khi giải phẫu tử thi, người ta khám phá một mạch
máu vành tim của anh bị một cục máu đông làm nghẽn, một
mạch máu khác bị co thắt đột ngột làm cho bể và chảy
máu phía trong mạch máu này. Hai thứ trên là do áp lực muốn
thi đua với máy truyền hình như là một chuyện sinh tử không
thắng không được.
Một
Bài Học Quý Giá
Bác
sĩ Ornish rất buồn khi mất một người bệnh mà mình đã
biết rõ. Qua sự mất mát đó ông ta đã rút ra một bài học
quý giá như sau:
1.
Cho người khác biết tin tức về sự bảo vệ sức khỏe cũng
chưa chắc họ đã nghe theo:
Hiện
nay hàng triệu người Mỹ vẫn hút thuốc lá dù trên bao thuốc
có ghi hàng chữ: Hút thuốc lá làm nguy hại cho sức khỏe
của bạn. Mỗi năm Bộ Y Tế đều có thông báo thống kê
trên 400,000 người chết do thuốc lá mà số người hút thuốc
vẫn nhiều: 50 triệu người hút thuốc lá làm cho 50 ngàn người
không hút thuốc bị bệnh chết hàng năm vì ở gần họ. Mỗi
năm, hàng ngàn trẻ em phải vào bệnh viện để chữa trị
chứng hen xuyễn do khi thuốc lá mà cha hay mẹ các em đang hút
trong nhà.
Khi
một người cảm thấy cô đơn, không có niềm an vui trong cuộc
sống thì anh ta nhìn cuộc đời theo cách tự làm cho mình thất
bại và tự hủy diệt. Thái độ tự hủy diệt đó biểu
lộ qua nhiều cách: ám ảnh không nguôi về sự cạnh tranh,
tập dợt thể thao, làm việc liên tục, ám ảnh về dục tính,
hút thuốc, rượu chè, xử dụng các thứ cần sa ma túy, cùng
hàng trăm cách khác. Làm những điều trên họ sẽ giảm được
sự khổ đau trong một thời gian rất ngắn nhưng sau đó cảm
giác cô đơn lại gia tăng mãnh liệt.
2.
Thay đổi thái độ có lúc cũng không phải là đủ cho sự
chữa trị bệnh tật:
Chúng
ta thay đổi lối sống như cách sinh hoạt, ăn uống làm việc
là do chúng ta thay đổi về nhận thức trong đời sống. Nếu
không có sự thay đổi sâu xa về cách nhận thức này mà chỉ
có sự thay đổi những hành vi bên ngoài vì một lý do nào
đó thì cũng không có ích lợi chữa trị thật sự như trường
hợp anh Sam nói trên. Do đó, điều quan trọng là mình cảm
nhận sự an vui của đời sống qua sự tiếp xúc với nguồn
năng lực bên trong của mình với niềm an vui của mình và
từ đó mình không còn bị ám ảnh bởi những giới hạn do
mình tự tạo đưa đến khổ đau cho chính mình.
3.
Sự lệ thuộc vào bên ngoài là nguyên nhân của khổ đau:
Khi
chúng ta đầu tư vào sự quý trọng và giá trị của mình
tùy thuộc vào sự chấp nhận của những người khác hay những
biến cố bên ngoài thì vô tình chúng ta cho những người ấy,
sự biến cố ấy có quyền hạn trên đời sống của mình.
Thái độ của họ hay những gì xảy ra quanh mình có khả năng
làm cho mình vui hay buồn, sướng hay khổ hay làm cho mình cảm
thấy có giá trị hay không có giá trị. Hay nguy hại hơn, những
yếu tố bên ngoài đó quyết định sự sống chết của mình.
4.
Càng lệ thuộc càng xa rời hạnh phúc:
Cuối
cùng, càng lệ thuộc vào người hay yếu tố bên ngoài để
có hạnh phúc thì chúng ta càng quên đi, càng mất đi khả
năng kỳ diệu, sức mạnh kỳ diệu sẵn có nơi mình. Khả
năng kỳ diệu đó làm cho ta vui tươi, lành mạnh và hạnh
phúc vô cùng.
Đạo
Phật đưa chúng ta vào thế giới tâm linh trong sáng trong đó
chúng ta cảm nhận sự ấm áp, tươi mát, tích cực của nguồn
năng lực giác ngộ có mặt tràn đầy nơi mỗi chúng ta. Khi
sống với lòng an vui rộng lớn tràn mình như các thiền sư
trên núi hay sống trong gia đình, sống giữa đô thị ồn ào
hay nơi vùng thôn quê hẻo lánh, chúng ta luôn luôn cảm thấy
an vui, thoải mái và hạnh phúc.
Sống
như thế là sống với tâm Phật, tâm giác ngộ hay tâm chân
thật của mình làm cho chúng ta khỏe mạnh, vui vẻ và tích
cực trong đời sống hàng ngày. Thật khác với những kẻ
sống với cảm giác cô quạnh vì, theo bác sĩ Ornish, cảm giác
cô quạnh, biệt lập với thế giới quanh mình đưa đến:
·
Cách biệt với những cảm xúc của mình, của nội tâm và
của bình an trong lòng.
·
Cách biệt với kẻ khác.
·
Cách biệt với những năng lực cao cả.
Chúng
ta có những năng lực kỳ diệu cần phải được khám phá
và sử dụng để sống an vui, lành mạnh và hạnh phúc.
Chương
2
CĂNG THẲNG
LÀ NGUỒN GỐC
CỦA BỆNH
TRONG THÂN VÀ TÂM
Trong
quyển Người Chữa Trị Bên Trong, The Healer Within, tác giả
nhấn mạnh đến khả năng gây bệnh tật cũng như chữa trị
bệnh tật nơi mỗi chúng ta. Nói khác đi, yếu tố tinh thần
đóng một vai trò rất quan trọng vì đó là một năng lực
kỳ diệu mà ta ít biết đến. Tác giả nói về bác sĩ Ishigami
sau mười năm nghiên cứu về bệnh lao đã tìm thấy sự liên
hệ giữa đời sống bệnh nhân và chứng bệnh này. Ông ta
thấy có những trường hợp bệnh phát triển hay giảm bớt
đúng theo dự đoán. Tuy nhiên, có những trường hợp mà bệnh
biến chứng bất thường, vượt ra ngoài mọi điều dự liệu.
Những trường hợp này, người bị bệnh càng lúc càng trở
nặng thêm hoặc một người đang mạnh khỏe bỗng nhiên bị
bệnh một cách kỳ lạ.
Bác
sĩ Ishigami cho biết chính đời sống tình cảm của con người
đóng góp rất nhiều. Khi liệt kê các yếu tố liên quan đến
bệnh tật ông ta thấy như sau:
·
Thất bại trong việc kinh doanh
·
Gia đình không hòa hợp,
·
Ghen tương, giận hờn,
·
Những người thần kinh hay căng thẳng.
Những
người nói trên được xem là bệnh sẽ gia tăng. Còn những
trường hợp bệnh nhân phục hồi dù bị đau nặng là những
người có tinh thần tích cực và không lo âu.
Sau
một thời gian dài nghiên cứu các bệnh nhân bị lao phổi,
bác sĩ Tohru Ishigami nhận xét:
“Có
những trường hợp bệnh đang thuyên giảm thì một điều
không may xảy đến làm cho thay đổi trạng thái bệnh tật.
Những bệnh nhân lao phổi ở ngoài thời kỳ thứ hai bề ngoài
có thể tỏ ra mạnh khỏe khi chăm sóc mẹ, vợ, con hay thân
nhân bị bệnh lao. Nhưng nếu người thân họ chết thì sự
tuyệt vọng nơi họ sẽ kéo theo một triệu chứng bệnh trầm
trọng... Những bệnh nhân đó có thể chết.”
Từ
đó, bác sĩ Tohru Ishigami viết một bài về Sự Ảnh Hưởng
Của Tâm Đối Với Sự Lành Bệnh Lao Phổi. Bài nói trên được
đăng trên tạp chí nghiên cứu bệnh lao ở Hoa Kỳ The American
Review of Tuberculosis: 1919. Biến cố này rất quan trọng vì đây
là một chuyên gia về bệnh lao viết về tâm thần ảnh hưởng
đến sự chữa trị bệnh tật chứ không phải một chuyên
viên tâm lý viết về vấn đề vốn rất mới mẻ này vào
thời đó. Điều nói trên đã được một y sĩ nổi tiếng
Anh Quốc William Osler phát biểu trước đây: “Sự chữa trị
bệnh lao tùy thuộc nhiều vào những gì trong đầu bệnh nhân
hơn là những gì trong ngực của họ.”
Từ
đó người ta đã khám phá nhiều loại bệnh do tâm sinh, psychosomatic
hay là tinh thần ảnh hưởng đến sức khỏe của thể chất
và ngược lại, thể chất cũng ảnh hưởng đến tinh thần.
Các chuyên gia đã liệt kê bảy chứng bệnh sau đây do tâm
sinh:
·
Loét bao tử.
·
Huyết áp cao,
·
Chứng cường giáp: Tuyến giáp trạng gia tăng quá nhiều hoạt
động (hyperthroidism), thường phối hợp với bệnh bứu cổ,
·
Chứng phong thấp,
·
Viêm ruột kết loét: Chứng sưng ruột già có tính cách mãn
tính và tiêu ra máu (ulcerative colitis)
·
Viêm da thần kinh: Bệnh da nổi ban, ngứa cổ và da dày xếp
nếp ở khủy tay, khủy chân hay đầu gối (neurodermatitis).
·
Bệnh suyễn.
Người
ta cho rằng bản danh sách nói trên quá ngắn vì hầu như đa
số các chứng bệnh đều do tâm sinh.
Bệnh
do tâm sinh không có nghĩa là tinh thần là nguyên nhân duy nhất
mà bệnh tật là kết quả. Nơi đây họ muốn nhấn mạnh
đến một tình trạng có nhiều yếu tố có sẵn liên hệ,
tác động, ảnh hưởng lẫn nhau như yếu tố di truyền, cơ
thể mạnh yếu, tâm thần thích nghi với các áp lực của
đời sống có dễ dàng hay không, v.v... làm cho bệnh tật phát
sinh. Đạo Phật gọi đó là duyên hợp, những yếu tố thuận
tiện kết hợp với nhau để phát sinh ra một tình trạng,
hay biểu lộ, bày tỏ ra một trạng thái mà chúng ta có thể
nhận biết hay quan sát được.
Sự
Căng Thẳng
Khi
nói bệnh do tâm sinh chúng ta nói đến một áp lực, một sự
căng thẳng phát sinh khi tinh thần hay cơ thể phải thích nghi
với một sự kiện nào đó. Các tác giả của quyển sách
nêu trên đã viện dẫn lời giải thích của bác sĩ Robert
Rose, chuyên viên nghiên cứu về sự căng thẳng như sau:
Căng
thẳng là một sự thúc bách (như làm cho xong một công việc
vào kỳ hạn ấn định) và phản ứng tạo nên sau đó (như
đau loét bao tử hay nhức đầu) là một bệnh tật. Vậy sự
thúc bách là nguyên do tạo căng thẳng và sự phản ứng của
cơ thể là sự căng thẳng đưa đến bệnh tật.
Trong
quyển Người Chữa Trị Bên Trong cũng nói đến một cuộc
nghiên cứu đặc biệt. Vào thập niên 1960, chuyên viên tâm
lý Peter Bourne thực hiện cuộc nghiên cứu mức độ căng thẳng
của 12 binh sĩ thuộc nhóm đặc nhiệm ở biên giới Việt
Nam và Cao Miên. Ông ta đo mức độ của chất 17-hydroxycorticosteroid
(17-OHCS) là một chất hóa học tiết ra từ nan thượng thận
trong thời gian người ta bị căng thẳng.
Các
binh sĩ này đều là những lính chuyên nghiệp, được huấn
luyện kỹ càng và có kinh nghiệm tác chiến. Mỗi người phụ
trách một phần vụ chuyên môn như tháo gỡ mìn, y tế, viễn
thông, v.v... và họ phối hợp với nhau rất là chặt chẽ.
Họ được tin đồn của họ sẽ bị tấn công khoảng từ
18 đến 22 tháng năm, có lẽ vào ngày 19. Tất cả đều hoạt
động ráo riết để chuẩn bị cho ngày chiến đấu đó.
Bourne
nhận thấy có sự khác biệt về mức độ căng thẳng giữa
nhóm binh sĩ và sĩ quan. Binh sĩ tuân lệnh cấp trên chuẩn
bị chiến đấu bằng cách kiểm soát tuyến phòng vệ, đặt
các vũ khí vào các vị trí ấn định, đặt trạm y tế cấp
cứu. Những hoạt động đó làm cho họ điều hòa được
sự căng thẳng khi trận chiến đến gần. Còn những sĩ quan
thì khác hẳn. Họ càng lúc càng lo cho binh sĩ dưới quyền,
phải quyết định từng mỗi giờ cho thích nghi với tình thế
và đồng thời gạt bỏ những lệnh từ bộ chỉ huy cách
xa 40 dặm đề nghị những điều không thiết thực vì không
hiểu tình thế địa phương.
Suốt
thời gian mà thời điểm cuộc chiến sắp diễn ra mức độ
căng thẳng của các sĩ quan được ghi nhận là gia tăng, còn
nhóm binh sĩ thì ngược lại giảm xuống trừ nhân viên vô
tuyến vì anh ta phải luôn luôn ở cạnh viên sĩ quan chỉ huy
do đó anh ta bị ảnh hưởng không khí căng thẳng khi viên
sĩ quan này phải có những quyết định ra lệnh cho thuộc
cấp.
Từ
đó các chuyên viên nghiên cứu đã biết rõ thêm về những
yếu tố liên hệ đến sự đề kháng chống lại bệnh tật:
hoàn cảnh sinh sống, những gì liên hệ đến bên ngoài hay
bên trong của cá nhân, những tác động tạo ra những phản
ứng
trong các hoàn cảnh riêng biệt, và cuối cùng là sự tạo
ra bệnh tật. Các chuyên viên y tế nghĩ đến những gì xảy
ra trong thân thể và não bộ khi có sự căng thẳng xảy ra:
những chuyển đổi về yếu tố thần kinh và chất hóa học.
Nói khác đi, yếu tố duyên hợp của nhiều thứ có mặt bên
trong lẫn bên ngoài.
Sự
Căng Thẳng Và Bệnh Tật
Số
người bị bệnh trong cộng đồng tỵ nạn thường rất nhiều.
Họ đã phải bỏ lại nhiều người thân ở quê nhà, phải
thích nghi với lối sống mới cùng hoàn cảnh họ chưa quen
thuộc. Những điều ấy tạo ra sự căng thẳng nơi họ.
Các
nhà tâm lý học đã khảo sát sự căng thẳng này thấy rằng
sự căng thẳng nơi con người không phải là một loại cảm
xúc như vui hay buồn mà là một phản ứng của thân thể khi
ta bó buộc phải làm một điều gì đó. Một em bé dự kỳ
thi cuối năm, một người thương gia điền thuế lợi tức
để gởi đi trước ngày 15 tháng tư, một binh sĩ chuẩn bị
cho một cuộc tấn công, v.v...
Theo
bác sĩ Hans Selve cơ thể phản ứng theo một nguyên tắc gọi
là Hội Chứng Thích Nghi Tổng Quát (General Adaptation Syndrom)
gồm ba giai đoạn như sau:
1.
Phản ứng báo động (Alarm reaction): Cơ thể tạo ra sự báo
động khi chúng ta phải đối phó với một vấn đề gì quan
trọng. Các chất kích thích tố gia tăng trong máu (như chất
adrenal cortial hormone) kèm theo với phản ứng nhức đầu, ăn
mất ngon và mệt mỏi. Cha mẹ thường thấy trạng thái này
nơi con cái khi các em sắp sửa có kỳ thi quan trọng.
2.
Giai đoạn đối kháng (stage of resistance): Nếu tình trạng căng
thẳng kéo dài thì cơ thể sẽ phản ứng chống lại, chấm
dứt các triệu chứng gây ra bởi giai đoạn một nói trên.
Cơ thể trở lại trạng thái bình thường và sức khoẻ có
thể gia tăng. Nếu nguyên nhân làm căng thẳng không còn nữa
như kỳ thi qua đi, địch quân bao vây căn cứ rút lui hay những
sự đe dọa khác chấm dứt. Nếu những nguyên nhân có tính
cách đe dọa vẫn kéo dài thì phản ứng đối kháng nơi chúng
ta yếu dần và cơ thể chúng ta bị kiệt sức.
3.
Giai đoạn kiệt sức (stage of exhaustion): Đây là lúc mà cơ
thể bị mòn mỏi, nhiều triệu chứng của giai đoạn một,
giai đoạn báo động, lại xuất hiện. Nếu tình trạng này
kéo dài thì chúng ta sẽ bị bệnh tật và có thể đưa đến
cái chết.
Nguyên
Nhân Và Mức Độ Căng Thẳng
Các
nhà tâm lý học đã tìm thấy nguyên nhân sự căng thẳng đó
phát xuất từ sự thay đổi, sự không tiên liệu, không kiểm
soát được các biến cố xảy ra trong đời sống cùng những
sự xung đột nội tâm của chúng ta. Điều ấy đạo Phật
gọi là tính cách vô thường, sự chuyển biến hay đổi thay
của vạn pháp, của mọi hiện tượng từ thể chất đến
tinh thần. Những biến cố bất ngờ như có thân nhân qua đời,
mất việc làm, thay đổi chỗ ở hay mượn tiền đều tạo
ra sự căng thẳng. Sự căng thẳng ấy có thể quan sát và
đo lường được theo những biến cố khác nhau.
Hai
chuyên gia về tâm thần Holmes và Rahe đã thiết lập một bảng
kê khai mức độ các loại căng thẳng nơi con người khi có
những biến cố xảy ra như sau:
Các
Biến Cố Xảy Ra và Trị Số Mức Độ Căng Thẳng Trong Đời
Sống (với điểm cao nhất là 100 điểm)
Vợ
hay chồng qua đời
100
Ly
dị
73
Ly
thân
65
Bị
tù
63
Có
thân nhân qua đời
53
Bị
thương hay bệnh
50
Bị
mất việc làm
47
Vợ
chồng tái hòa hợp
45
Về
hưu
45
Sự
sa sút sức khỏe của người thân trong nhà
44
Có
sự khó khăn về sinh lý
39
Có
thêm người trong gia đình
39
Điều
chỉnh lại cơ sở thương mại
39
Có
sự thay đổi về tình trạng tài chánh
38
Một
người bạn thân qua đời
37
Đổi
ngành làm việc (trong cùng một sở)
36
Thay
đổi số lượng tranh luận giữa vợ chồng
35
Tiền
nợ nhà trên 10,000 một năm
31
Ký
giấy vay nợ
30
Thay
đổi trách nhiệm ở sở làm
29
Con
cái rời gia đình
29
Đạt
được sự thành công ưu hạng
28
Vợ
bắt đầu đi làm hay nghỉ việc
26
Học
sinh bắt đầu đi học hay đến kỳ hè
26
Thay
đổi cách sống
25
Duyệt
xét lại những thói quen
24
Khó
khăn với người chủ
23
Thay
đổi giờ hay điều kiện làm việc
20
Thay
đổi chỗ ở
20
Thay
đổi sinh hoạt ở trường học
20
Thay
đổi cách giải trí
19
Thay
đổi sinh hoạt tôn giáo
19
Thay
đổi sinh hoạt xã hội
18
Vay
nợ dưới 10,000
17
Thay
đổi thói quen ngủ nghỉ
16
Thay
đổi số lượng gặp gỡ trong gia đình
15
Thay
đổi cách ăn uống
15
Nghỉ
hè
13
Nghỉ
giáng sinh
12
Bị
phạt vi phạm luật vi cảnh (như lái xe vượt đèn đỏ)
11
Tóm
lại, bất cứ một biến cố gì, một sự thay đổi nào buồn
hay vui đều tạo ra một sự căng thẳng nhiều hay ít. Hai chuyên
viên tâm lý Holmes và Rahe nhận thấy nếu tổng số điểm
căng thẳng nơi một người cao hơn 300 điểm trong một năm
thì người đó sẽ bị bệnh vì cơ thể không chịu nổi áp
lực quá nhiều đó.
Nếu
nhìn vào bảng kê khai nói trên, chúng ta thấy phản ứng của
người tị nạn ở Hoa Kỳ có thể khác biệt như thân nhân
qua đời, bị mất sở làm, ly dị, người thân bị ốm thì
mức độ căng thẳng có thể cao hơn người Hoa Kỳ. Trái lại
các vấn đề như có thêm người trong gia đình, có thai, v.v...
mức độ căng thẳng có thể ít hơn. Đạo Phật đề cao trí
tuệ, sự hiểu biết chân thật, do đó chúng ta tìm hiểu thêm
về những lời Phật dạy cùng những gì đang xảy ra quanh
ta để thấy rõ sự mầu nhiệm của đạo Phật trong việc
chỉ dẫn cho chúng ta thực hành đời sống an vui và hạnh
phúc thật sự.
Chương
3
NĂNG LỰC KỲ
DIỆU CỦA CON NGƯỜI
Đạo
Phật giúp chúng ta nhìn thấy căn nguyên của bệnh tật và
chữa trị từ gốc. Đạo Phật nhấn mạnh đến tính cách
vô thường, sự thay đổi trong đời sống, là một nguyên
nhân tạo ra khổ đau. Sự thay đổi hay chuyển biến đó tác
động vào đời sống thể chất (cơ thể của chúng ta) và
tinh thần. Và vì sự thay đổi luôn luôn xảy ra nên chúng
ta phải đối diện với cái khổ bất cứ lúc nào.
Về
phương diện thể chất, đức Phật nói rõ bốn trường hợp
chúng ta cảm nhận rõ rệt nhất sự khổ đau: Sinh, già, bệnh
và chết. Khi người mẹ sinh con, áp lực đẩy hài nhi ra khỏi
bụng mẹ tạo nên một sự đau đớn dữ dội cho người mẹ
lẫn đứa con. Nếu chúng ta quá già nua tuổi tác thì cảm
thấy buồn phiền vì sức khỏe yếu kém và hay bệnh tật.
Những lúc bệnh tật thì già hay trẻ cũng đều đau đớn
và khó chịu như nhau. Còn lúc cái chết xảy ra thì kẻ qua
đời sợ hãi và người thân còn sống khổ đau vô cùng. Về
tinh thần, những gì chúng ta muốn, chúng ta thích mà bị xa
lìa, mất mát, điều gì chúng ta ghét mà phải cận kề thì
chúng ta khổ đau. Khổ đau đó là do hậu quả của một sự
căng thẳng, một áp lực khó chịu trong lòng chúng ta. Áp lực
hoặc sự căng thẳng thể chất hay tinh thần đó là nguồn
gốc của mọi bệnh tật. Vì thế, đức Phật dạy mọi hiện
tượng đều do tâm mình tạo ra. Nếu tâm bất an, buồn rầu,
bực bội, chán chường, tiêu cực gây nên bệnh tật thì tâm
an vui, thoải mái, trong lành, tích cực, bao dung tạo ra sức
khỏe và làm cho bệnh tật tiêu trừ. Do đó, đức Phật dạy
chúng ta phương pháp thực hành sống đời an vui và khỏe mạnh.
Khả
Năng Chữa Trị Bệnh Tật Nơi Chúng Ta
Những
cuộc thí nghiệm càng lúc càng gia tăng về yếu tố tinh thần
tác động vào sự lành mạnh hay đau yếu thân thể giúp cho
chúng ta thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa hai bên thân
và tâm. Để thấy rõ những gì xảy ra trong thực tế, chúng
ta hãy nghe bác sĩ Herbert Benson, chuyên viên về tim của trường
đại học Y Khoa Harvard kể câu chuyện về khả năng chữa
trị bệnh tật của bệnh nhân như sau:
Mike
là một thương gia thành công ở vùng New York. Một hôm trong
một chuyến du hành thương mại anh ta đi đến một quán ăn
ở Paris. Chẳng may chỗ anh ta ngồi bốn bức tường châu lại
như một cái vòm làm anh có cảm tưởng mình bị úp trong đó.
Người trong phòng càng lúc càng đông. Anh ngồi ngược với
cửa ra vào. Khói thuốc càng lúc càng gia tăng với số người.
Một cơn sợ hãi khoảng hẹp (claustrophobia) dữ dội xuất
hiện. Anh thở ngáp cá, bao tử thắt lại và biết rằng nếu
anh không đi ra khỏi nơi đó thì anh có thể chết. Anh xin lỗi
các bạn ngồi ăn rồi đi nhanh ra khỏi phòng. Đến một chiếc
trụ bên vệ đường, anh ta đứng tựa và thở hổn hển.
Kể
từ đó anh phát ra chứng sợ hãi chỗ hẹp. Chứng này càng
lúc càng gia tăng làm cho anh sợ hãi cả đi cầu thang máy,
ngồi phía sau các xe không có cửa sau, v.v… Sau đó nhờ người
bạn chỉ dẫn, anh ta cầu nguyện và thực hành thiền, theo
dõi hơi thở, làm cho tinh thần thoải mái và từ đó bệnh
tình thuyên giảm, đời sống trở lại tốt đẹp.
Ông
Norman Cousin là người bị ung thư và các bác sĩ cho biết ông
sẽ không còn sống bao lâu. Ông ta không chấp nhận điều
đó và thực hành chương trình tự chữa trị lấy qua đời
sống an vui, thoải mái và tươi mát. Sau đó ông ta lành bệnh,
viết sách nói về sự tự chữa trị bệnh ung thư và trở
thành một người nổi tiếng. Khi làm việc cho trường đại
học UCLA ở California, người ta gởi đến ông một bệnh nhân
ung thư vì một lý do đặc biệt là bà này không chịu mổ
cắt ung thư nơi ngực dù bệnh đang ở trong thời kỳ nguy
kịch. Ông Cousin cho bà thử phương pháp làm gia tăng nhiệt
độ của bàn tay. Nữ bệnh nhân tỏ ra một người có
khả năng đặc biệt trong việc này. Bà đã làm cho bàn tay
tăng đến 14 độ (fareinheit). Sau khi được hướng dẫn thực
hành các phương pháp thiền quán, bà trở về lại nhà thương.
Các bác sĩ khám nghiệm và thấy vùng ung thư hoàn toàn biến
mất.
Sự
yên vui, thoải mái, tỉnh thức và niềm tin có thể tạo nên
những kết quả kỳ diệu cho sức khỏe. Ngược lại sự lo
lắng, sợ hãi hay giận dữ cũng có thể tạo ra những bệnh
tật cho ta. Ngoài ra, có những trường hợp sự giận dữ hay
hung hăng thái quá có thể tạo ra những cái chết bất ngờ.
Tự
Giết Mình Bằng Sự Tức Giận
Bác
sĩ Deepak Chopra kể lại câu chuyện anh Arthur Elliott, một luật
sư trên 30 tuổi đến phòng cấp cứu bệnh viện vào buổi
tối vì anh ta cảm thấy bị đau buốt nơi ngực. Bác sĩ trực
khám và thấy không có triệu chứng gì của bệnh tim cả và
vì anh không có bệnh tim trước đây nên bác sĩ này cho rằng
anh ta chỉ bị vọp bẻ nơi bắp thịt ngực cùng dặn ngày
mai anh trở lại để làm một cuộc khám nghiệm toàn diện.
Anh
trở về nhà một cách miễn cưỡng. Một giờ sau đó, một
cơn đau ngực tái phát và anh lại chạy vội đến nhà thương.
Bác sĩ Deepak khuyên nhủ anh vài lời nhưng tinh thần anh ta
rất căng thẳng. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ thấy không có
gì đáng ngại nhưng cũng quan sát nhịp đập của tim anh qua
tâm động đồ (máy chiếu lên màn ảnh hay ghi trên giấy đồ
biểu nhịp đập của tim.) Cũng không thấy có dấu hiệu gì
bất thường cả.
Sáng
hôm sau, để cho chắc chắn hơn, viên bác sĩ này lại nhờ
các đồng nghiệp quan sát kỹ kết quả trên tâm động đồ
của anh và thấy có một sự sai biệt rất nhỏ. Bác sĩ Deepak
thông báo với anh Elliott: “Đó có thể là bắp thịt tim của
anh bị tổn thương rất nhỏ giữa hai thời kỳ bị đau vào
tối hôm qua.” Bác sĩ định nói thêm là điều này cũng không
có gì nguy hại cho anh ta vì quả tim lành mạnh thường có
khả năng làm cho vết thương nhỏ ấy lành nhanh chóng. Tuy
nhiên, anh ta vội la lên: “Điều này thật quá sức! Các anh
chẳng coi tôi ra cái gì cả. Các anh chỉ quan tâm khi tôi bị
chết mà thôi. Các anh không thể chạy chối vào đâu được.
Tôi sẽ làm cho các anh trả đúng mức những điều các anh
làm!” Nói khác đi người luật sư này muốn kiện các ông
bác sĩ về tội hành nghề không chu đáo. Anh ta liền bốc
điện thoại gọi ngay cho đồng nghiệp của mình và tinh thần
mỗi lúc một thêm căng thẳng. Huyết áp của anh lên cao quá
mức, các bác sĩ chỉ cho anh thuốc giảm áp huyết cùng an
thần. Tuy vậy, không gì thay đổi tình trạng được cả.
Một
giờ sau đó, khi miệng vẫn đang tiếp tục nói trong điện
thoại, anh bị một cơn đau ngực dữ dội và anh chết sau
đó do bắp thịt tim bị toét, có thể do những chấn động
dữ dội của mạch máu vào tim.
Điều
đáng chú ý là mạch máu anh ta không bị chất cholesterol đóng,
anh lại không hút thuốc, không bị chứng áp huyết cao, bắp
thịt tim cho tới trước lúc đó không bị bệnh hoạn hay hư
hại gì cả. Như thế, anh chết không phải vì bệnh mà vì
cái nhìn sai lầm về điều đang xảy ra. Cái nhìn sai lầm
ấy tạo nên sự tức giận đưa đến cơn kích động làm
cho anh chết.
Trong
kinh Kim Cang, đức Phật dạy rõ đó là sự chấp dính vào
các điều không có thật. Những điều ấy xuất hiện rồi
thay đổi mà đức Phật gọi chung là các pháp hữu vi: những
màu sắc, dáng vóc, âm thanh, mùi, vị, những cảm giác của
thân thể cùng các hiện tượng bên trong hay bên ngoài chúng
ta đều do các yếu tố kết hợp với nhau mà thành tùy theo
các điều kiện xuất hiện nên gọi là duyên hợp. Chúng luôn
luôn thay đổi, chuyển biến tùy theo các điều kiện thuận
hay nghịch xuất hiện. Do đó, chúng ta phải thấy rõ tính
cách năng động, chuyển biến không ngừng và đừng dính mắc
vào cái thấy sai lầm về tính cách cố định của sự vật
theo cái thấy biết bị giới hạn của chúng ta vì chúng:
“Như
mộng, huyễn, bọt, bong,
Như
sương cũng như điển…”
Kinh
KimCang
Niềm
Tin Có Khả Năng Làm Lành Bệnh
Trong
giới y sĩ, câu chuyện chữa trị đặc biệt do bác sĩ Bruno
Kloper kể lại đã trở thành một câu chuyện phổ biến trong
giới này và trở thành một ví dụ của sức mạnh của niềm
tin. Bác sĩ Kloper chữa trị cho một bệnh nhân, ông Wright,
bị bệnh ung thư hạch bạch huyết. Người ông ta bị sưng
lên với những cục bướu ung thư nhiều lúc lớn bằng quả
cam và chảy ra hơn cả lít nước trắng đục. Mọi người
đều biết ông ta không còn sống lâu nữa.
Ông
Wright vẫn còn muốn sống. Ông nghe có một loại thuốc trị
ung thư mới tên là Krebiozen đang được thử nghiệm. Ông ta
muốn dùng loại thuốc đó. Ban đầu bác sĩ không đồng ý
vì điều kiện thí nghiệm thuốc mới đòi hỏi bệnh nhân
phải sống ít nhất vài tháng trong khi các bác sĩ cho rằng
ông ta chỉ sống được vài tuần. Nhưng vì sự thiết tha
năn nỉ mà bác sĩ mềm lòng nên chích thuốc này cho ông.
Mười
ngày sau khi chích thuốc, ông ta hoàn toàn như hết bịnh. Sau
đó tin tức từ báo chí cho biết loại thuốc thí nghiệm nói
trên không có hiệu quả thì bệnh tình của ông ta lại trở
nên trầm trọng như trước. Các bác sĩ nhận thấy sự liên
hệ kỳ lạ này nên quyết định một cuộc thí nghiệm đặc
biệt. Bác sĩ ông ta quyết định cho chích một thứ dung dịch
không phải thuốc nhưng vô hại và nói với ông Wright đây
là loại thuốc trị ung thư Krebiozen được cải tiến và liều
thuốc chích mạnh gấp đôi. Để cho sự mong muốn được
chích thuốc gia tăng, viên bác sĩ hoãn giờ chích thuốc lại
và cho bệnh nhân với dáng vẻ vô cùng trịnh trọng.
Cũng
như trước đây, chỉ vài ngày sau là các cục bướu nơi ngực
ông Wright xọp xuống, nước thôi chảy và khỏe dần. Cũng
như lần trước, ông lại rời bệnh viện với thân thể lành
mạnh không còn những triệu chứng như trước. Điều làm
cho nhân viên bệnh viện ngạc nhiên là ông Wright không được
chích thuốc và chỉ được chích nước lạnh khử trùng.
Ông
sống khỏe mạnh được hai tháng thì tin tức về loại thuốc
kia được báo chí phổ biến một thông cáo của hiệp hội
Y Khoa Hoa Kỳ (American Medical Association) như sau: “Cuộc thí
nghiệm toàn quốc về loại thuốc Krebiozen chứng tỏ loại
thuốc này vô dụng trong việc chữa trị ung thư.” Vài ngày
sau ông lại xuất hiện ở bệnh viện, lần này ông ta hoàn
toàn tuyệt vọng với những bướu ung thư nổi lên như trước.
Chỉ hai ngày sau, ông ấy qua đời.
Trường
hợp một tu sĩ Thần Đạo (Shinto) của Nhật Bản lại có
kết quả ngược lại chuyện trên. Một toán bác sĩ ở trường
đại học y khoa Kyushu ghi lại một trường hợp nghiên cứu
về sự lành bệnh đặc biệt của một bệnh nhân với tên
H. trong tài liệu nghiên cứu. Bệnh nhân bị ung thư nơi cổ
họng và được các bác sĩ cắt chỗ ung thư. Vài tháng sau,
ông ta trở lại cho biết bị đau vùng cổ họng. Bác sĩ khám
và thấy vùng phát âm nơi cổ ông bị ung thư, họ đề nghị
mổ. Nhưng ông ta là một người lãnh đạo tinh thần và phải
thuyết giảng cho tín đồ nên không chịu giải phẫu vì sẽ
không còn nói được. Sau khi về nhà, ông thăm một người
cấp trên và ông này nói: “Ông là một bảo vật của giáo
hội chúng ta.” Câu nói đó làm ông cảm xúc rất nhiều và
quyết định tiếp tục thuyết giảng.
Nhiều
năm sau đó bác sĩ khám lại và thấy ung thư nơi vùng cổ
hoàn toàn biến mất. Ông ta qua đời ba mươi năm sau kể từ
ngày ông khám nghiệm bị ung thư do một chứng đau lưng.
Những
Khả Năng Kỳ Diệu Của Con Người
Chúng
ta hãy quan sát những gì tích cực đang xảy ra tại Hoa Kỳ.
Nhiều người Mỹ trong phong trào khám phá khả năng kỳ diệu
của con người cho rằng sự sợ hãi chỉ là hậu quả của
cái nhìn sai lầm về thực tại. Do đó, họ nhấn mạnh
sự sợ hãi FEAR là những chứng cứ, những hiện tượng được
nhận biết một cách sai lầm (False Evidence Appears Real.) Như
trước đây chúng ta sợ phỏng tay khi chạm vào lửa cho nên
hễ thấy lửa là sợ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể
bước qua lửa được. Đến khi đọc kinh Pháp Hoa nơi phẩm
Phổ Môn nói rõ nếu chúng ta nhất tâm niệm danh hiệu Đức
Quán Thế Âm Bồ Tát thì rớt xuống lửa không phỏng chúng
ta không dám tin là có thật.
Thân
thể chúng ta có sự thông minh cùng nhiều khả năng kỳ diệu
mà chúng ta chưa biết. Bác sĩ Herbert Benson thuộc viện đại
học Harvard đã cử phái đoàn đến vùng Hy Mã Lạp Sơn để
nghiên cứu khả năng kỳ diệu của các tu sĩ Phật Giáo Tây
Tạng thực hành pháp môn Tam Muội Hỏa. Những vị thầy này
ngồi nơi vùng băng tuyết cả ngày mà không bị lạnh. Họ
đã sử dụng những năng lực mà người thường không biết
đến.
Một
phương pháp để vượt qua những chướng ngại trong đời
sống được nói đến trong kinh Phổ Môn: Niệm danh hiệu đức
Quán Thế Âm Bồ Tát để được ngài ban cho mọi điều an
lành. Nếu kẻ nào bị rớt xuống hầm lửa mà niệm danh hiệu
ngài thì không bị phỏng.
Các
vị thiền sư thường nhấn mạnh đến tính cách vô ngã nên
giải thích là khi niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát
đến mức độ tâm ở trong trạng thái đại định thì không
còn cái ngã, cái tôi nữa. Lúc đó tuy thân có bị phỏng nhưng
không có cái “tôi bị phỏng.” Hoặc các ngài nhấn mạnh
đến lửa ở trong phẩm Phổ Môn là lửa tham. Khi hoàn toàn
chú tâm niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm đến thì lửa tham
thôi đốt tâm ta.
Có
những vị khác lại nhấn mạnh đến tính cách tròn đầy,
viên dung, giữa lý và sự. Các hiện tượng tương đối và
tuyệt đối cùng biểu lộ một lúc. Khi tâm ở trong trạng
thái an định thì thân sẽ không bị phỏng khi bước đi trên
than hồng.
Nhiều
vị tăng sĩ Tây Tạng và Tích Lan thực hành bước qua than
lửa mà không bị phỏng. Chúng ta biết trong phẩm Phổ Môn,
thuộc kinh Pháp Hoa, đức Quán Thế Âm dạy tình thương yêu,
lòng từ bi, có sức mạnh kỳ diệu và hãy luôn luôn sống
trong năng lực của lòng thương yêu rộng lớn đó:
“Chân
quán, thanh tịnh quán
Trí
tuệ quán rộng lớn
Bi
quán và từ quán
Thường
nguyện thường chiêm ngưỡng…
Ánh
hào quang thanh tịnh
Chiếu
xuyên màn u tối
Tiêu
diệt lửa tai ương
Chẳng
nơi nào không hiện.”
Về
phương diện khoa học, nhiều bác sĩ hiện nay xác nhận tình
thương yêu là một năng lực bảo vệ cơ thể và chữa trị
bệnh tật. Niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm để khai mở
lòng từ bi, tình thương yêu rộng lớn. Nhất tâm niệm danh
hiệu Ngài tức là chúng ta ở trong trạng thái tâm an định.
Khi có sự định tâm và sự khai mở lòng thương yêu trong
sáng đó thì cơ thể chúng ta phát ra một năng lực kỳ diệu
nên chúng ta sẽ không bị phỏng khi bước qua lửa.
Nếu
chúng ta một lần bước qua lửa mà không bị phỏng thì chúng
ta hiểu rõ một cách cụ thể cùng tin chắc về khả năng
kỳ diệu của con người trong nhiều lãnh vực khác, nhất
là khả năng sống đời an vui, giác ngộ và hạnh phúc bao
la trong cuộc sống này.
Đức
Phật dạy chúng ta về tính cách vô thường, vô ngã, bất
tịnh và khổ đau của những ai thích bám víu vào những sự
hiểu biết sai lầm, cho những ý tưởng thoạt đến thoạt
đi, cho những vui, buồn, thương, ghét, giận hờn, sợ hãi
là cái tôi (ngã) của mình, là con người thật sự của mình
mà không biết các hiện tượng ấy chuyển biến không ngừng
(vô thường) do những yếu tố bên ngoài và bên trong kết
hợp (duyên khởi) mà xuất hiện nên nó không phải có cá
tính riêng biệt, không thay đổi như vậy (vô ngã). Những
khổ đau của thân và tâm do những sự xáo trộn làm vẩn
đục trạng thái trong lành (bất tịnh) cho thân và tâm tạo
ra khổ đau cho chúng ta. Nhưng vô thường, vô ngã, bất tịnh
và khổ đau ấy là đặc tánh của những ý tưởng sai lầm,
những tâm tư xao động và khổ đau trong tâm mê mờ. Do đó,
trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy hãy thấy rõ những hiện
tượng sinh diệt và vô thường ấy là những thứ thoáng hiện,
thoáng mất, thực chất không có thật, chẳng khác gì cơn
mộng hay ảo ảnh, bọt nước, như sương, như điện chớp.
Các
sự lo lắng, sợ hãi, buồn rầu, khổ đau tuy không phải là
sự chân thật nhưng chúng tạo nên một áp lực nặng nề
nơi chúng ta. Khi chúng ta thực hành đạo Phật trong đời sống
hàng ngày và khai mở được tình thương yêu rộng lớn của
đại từ, thấy được tánh cách trong sáng rỗng lặng, tỏa
chiếu và tràn đầy của mọi hiện tượng thì lòng chúng
ta tràn đầy một niềm an vui kỳ diệu. Vì sao? Vì tánh tự
nhiên sẵn có nơi chúng ta hay chân tâm, Phật tánh vốn rộng
lớn, an vui, trong lành và tinh sạch như trong kinh Thủ Lăng
Nghiêm nói rõ:
“Chúng
sanh vốn có sẵn Phật tánh chứ chẳng phải từ nơi khác
đem đến. Ví như có người trong chiếc áo có sẵn viên ngọc
như ý mà chẳng hay biết. Chẳng khác nào mình có bảo vật
trong kho tàng mà chẳng tự biết để đến nỗi phải chạy
để tìm miếng ăn nuôi sống hàng ngày.”
Sống
với tâm trong sáng, rộng lớn, an vui, là sống với cái chân
thường, chân ngã, chân lạc và chân tịnh của chân tâm, tâm
chân thật, của Phật tánh, tánh trong sáng, rộng lớn bao la,
tràn đầy an vui kỳ diệu, tràn đầy niềm hạnh phúc sâu
thẳm nơi chúng ta. Điều ấy đức Phật nhấn mạnh trong kinh
Đại Niết Bàn và khuyến khích chúng ta hãy tiến lên trên
con đường thực hành hạnh phúc cho mình và cho mọi người.
Nói khác đi là thực hành Bồ Tát Đạo trong đời sống hàng
ngày.
Chương
4
HƯỚNG VỀ
ĐỜI SỐNG KHỎE MẠNH VÀ HẠNH PHÚC
Chúng
ta theo thói quen có nhiều ý kiến cố định, tin tưởng một
cách sai lầm về các sự kiện xảy ra trong đời sống. Những
người bị tai nạn, bệnh tật hay khổ đau thường chép miệng:
“Trời bắt vậy thì phải chịu vậy” hoặc than “Nghiệp
chướng mình phải trả” v.v…, rồi buông tay chịu đựng
mọi thứ khổ đau, phiền não. Đức Phật dạy đừng tin tưởng
vào một thứ gì mơ hồ mà phải tin trong ánh sáng của sự
hiểu biết chân thật như sau:
“Đừng
vội tin một điều gì dù điều ấy được nhắc nhở luôn.
Đừng vội tin một điều gì, dù là di tích của người xưa
hay là tập tục cổ truyền để lại phải tin. Đừng vội
tin điều gì, dù điều ấy được trọng vọng bênh vực hay
được ghi chép trong kinh sách.. Tất cả những sự thật, này
các đệ tử, theo kinh nghiệm của ngươi, và được xác nhận
phù hợp lẽ phải, hợp đạo đức, tạo thành an lạc cho
người và cho các loài thì chính đó là sự thật và ngươi
hãy sống theo sự thật.”
Điều
nói trên đã được một nhà khảo cứu về sự già nua của
con người thực hành một cách chín chắn. Viện Quốc Gia về
Già Cả (National Institute On Aging) chính thức cho rằng không
có một phương pháp gì làm cho con người trẻ trung trở lại
qua thuốc men, ăn uống, tập thể dục hay một phương pháp
tinh thần nào. Tuy vậy giáo sư Ellen Langer thuộc trường Đại
học Harvard không tin như thế. Ông cho rằng sự già cả là
do tâm tạo ra vậy tâm con người có thể làm cho sự già cả
hết đi. Ông ta lập ra một chương trình nghiên cứu đặc
biệt bằng cách tuyển chọn những người từ 75 tuổi trở
lên và cho họ đi một chuyến nghỉ hè đặc biệt. Những
ông cụ này được chở đến một vùng ngoại ô, nơi đó
mọi sinh hoạt đều phỏng theo cách thức trước đây 20 năm.
Tất cả những báo chí, phim ảnh, cùng các đề tài thảo
luận đều thuộc về 20 năm về trước, tuy vậy họ luôn
luôn sử dụng thì hiện tại để nói về chúng như các sự
kiện đó vừa xảy ra. Nói khác đi, họ sống lại trong khung
cảnh hồi họ còn trẻ 20 năm về trước.
Điều
lạ lùng là sau một tuần, người ta thấy những ông cụ này
thật sự trẻ lại: Trí nhớ họ gia tăng, cử động của
họ nhanh nhẹn hơn trước, ngón tay của họ lại dài ra và
hoạt động phần nào như trước đây. Họ ngồi thẳng thớm
hơn, cầm đồ vật chắc chắn hơn và cả nghe cũng thấy rõ
ràng hơn trước.
Trong
tác phẩm Tỉnh Thức, Mindfulness, giáo sư Langer cho biết chính
sự tỉnh thức trong đời sống: sống với tâm bén nhạy,
rộng mở với những gì mới mẻ và tinh thần mạnh mẽ. Điều
này chúng ta thấy rõ ràng nơi cuộc đời của đức Phật.
Ngài luôn luôn sống tỉnh thức, tâm trong sáng, bén nhạy,
cởi mở và an vui vô cùng. Do đó tất cả những gì về cuộc
đời của Đức Phật, những lời dạy của Ngài đều hướng
về đời sống lành mạnh, thoải mái, an vui và hạnh phúc
kỳ diệu mà mỗi con người đều nên thực hiện cho chính
mình. Do đó, chúng ta thích nhìn các tượng Phật, vì thấy
hình ảnh tươi mát, tỏa chiếu ánh sáng của tình thương
yêu, của sự hiểu biết chân thật, của nguồn hạnh phúc
kỳ diệu làm cho tâm ta trong lành, trí ta thoải mái và lòng
ta an vui. Ngoài ra, có những pháp môn tu tập quán chiếu hình
ảnh đức Phật hay đức Quán Thế Âm, tưởng thấy thật
rõ ràng hình ảnh đẹp đẽ, trong sáng của Đức Phật hay
Đức Quán Thế Âm làm cho thân thể và tinh thần chúng ta trở
nên trong sáng, tươi mát, lành mạnh và an vui. Khi quán chiếu
như thế thì chúng ta xóa bỏ tất cả những giới hạn về
không gian và thời gian, đi sâu vào nguồn cội tâm linh của
mình vốn bất sanh bất diệt, mãi mãi có mặt. Cội nguồn
tâm linh đó chính là tâm chân thật của chúng ta hay còn gọi
là chân tâm hoặc Phật tánh vốn không có sinh, già, bệnh,
và chết như trong kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật mà người
Phật tử thường tụng đọc:
“Không
có sự mê mờ và không làm cho hết mê mờ,
Không
có sự già và chết và không làm cho hết già và chết.
Không
có sự khổ, nguyên nhân sự khổ, làm cho hết khổ và sống
giải thoát.”
Nói
khác đi, khi chúng ta biết chân tâm Phật tánh nơi mỗi chúng
ta vốn luôn luôn trong sáng, rộng lớn, an vui, không bao giờ
bị hư hao hay mất mát thì chúng ta vượt qua sự thấy biết
sai lầm giới hạn trong sinh ra, lớn lên, già cả và chết
chóc cùng với khổ đau và khát vọng tiêu diệt khổ đau.
Sống với tâm như thế là sống với sự thiên thu vĩnh cửu,
sống với thời gian vô cùng vô tận và không gian bao la rộng
lớn vô biên. Điều ấy thật đúng với lời thơ của William
Blake:
“Thấy
vũ trụ trong một hạt cát
Và
thiên đàng nơi một đóa hoa dại
Cầm
vô biên trong lòng bàn tay
Và
vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi.”
Hay
nói một cách cụ thể, rõ ràng và chân thật của vị sư
tổ dòng thiền Lâm Tế, thiền sư Hoàng Bá như sau:
“Sự
thật tối thượng khai mở cho chúng ta biết Tâm Chân Thật
của chúng ta không nương tựa vào vật gì cả. Tâm ấy rỗng
lặng, cùng khắp, lặng lẽ, tinh sạch, chiếu sáng và tràn
đầy một niềm vui an bình và kỳ diệu. Tâm ta chỉ thế,
ngoài ra không có gì cả.”
Biết
Thật Sự Mình Muốn Gì
Đạo
Phật nhấn mạnh đến tính cách liên hệ của mọi sự vật,
mọi hiện tượng theo cái thấy biết chân thật về tính cách
không hai, không riêng biệt (bất nhị) của mọi thứ (vạn
pháp) như sau:
“Cái
này có vì cái kia có,
Cái
này không vì cái kia không
Cái
này sanh vì cái kia sanh
Cái
này diệt vì cái kia diệt.”
Ý
tưởng nói trên dùng để diễn tả tính cách nương tựa vào
nhau của các sự vật cũng như các hiện tượng tâm lý để
làm cho xuất hiện hay “sinh ra” một điều gì, một thứ
gì đó. Như một chiếc bàn là do sự kết hợp của các yếu
tố gỗ, người thợ mộc, dụng cụ cưa, bào, đục, và ý
muốn tạo ra chiếc bàn. Các yếu tố ấy có nên có chiếc
bàn, các yếu tố ấy không có thì chiếc bàn không bao giờ
xuất hiện. Hiện nay các nhà thần kinh học nhận thấy hễ
bộ óc chúng ta có những ý tưởng tích cực cùng sự vui vẻ
thì một số các chất hóa học tốt được tạo ra tương
ứng với sự tích cực và vui vẻ đó. Nếu các ý tưởng
buồn rầu, tiêu cực xuất hiện thì hệ thống miễn nhiễm
chống lại bệnh tật bị suy yếu làm thân thể mệt mỏi
và ốm đau, chưa kể rất nhiều bịnh không do vi trùng gây
nên xuất hiện.
Những
điều ấy Đạo Phật dạy là tính cách duyên khởi của mọi
sự kiện vật chất hay tinh thần. Duyên khởi là những kết
hợp của các thứ khác nhau để tạo ra một thứ, một tình
trạng nào đó như chúng ta đã nói ở trên. Khi nói đến thời
gian thì chúng ta nghĩ thời gian vốn bình đẳng với mọi người.
Một người già, một em bé, một người giàu, một người
nghèo, một giờ trôi qua thì vốn giống nhau cho mọi người.
Trên thực tế, thời gian của mỗi người vốn khác nhau tùy
theo các yếu tố kết hợp lại thành cơ thể của mỗi người
như tính cách di truyền, cách ăn uống, sinh hoạt, tánh tình,
sự tỉnh thức trong đời sống. Có người chỉ mới bốn
mươi tuổi mà trông như ông già bảy mươi. Có những cụ
già bảy mươi mà còn trẻ trung, hoạt bát, nhanh nhẹn như
người năm mươi tuổi.
Sau
bao nhiêu năm nghiên cứu về sự già cả, các nhà khoa học
nhận biết trong người chúng ta có một thứ “đồng hồ”
cơ thể điều khiển tất cả mọi nhịp độ của đời sống
như thức, ngủ, ăn, uống, nhiệt độ cơ thể, áp huyết,
sự tăng trưởng cùng sự sản xuất các chất kích thích tố
điều hòa mọi sinh hoạt trong người chúng ta. Có một số
rất ít tế bào thuộc vùng dưới đồi nhân giao thoa trên
(hypothalamus), nằm ở giữa và phía dưới não lớn, gọi là
suprachiasmatic nucleus, điều hành mọi hoạt động của cơ thể
từ một tế bào mắt chúng ta không thể thấy được đến
sự bài tiết, dinh dưỡng, v.v… Điều quan trọng mà chúng
ta cần biết nơi đây là những trạng thái tâm lý ảnh hưởng
và có khi làm thay đổi sự điều hành của cái “đồng hồ”
này như trường hợp những người già đã trẻ lại như chúng
ta đã nói ở trên. Nói khác đi, chúng ta đạt được tự
do về tâm lý hay là sự tự do chân thật nhất khi chúng ta
sống đời sống có tình thương yêu trong sáng, có sự hiểu
biết chân thật và hạnh phúc bao la. Khi tâm ở trong trạng
thái an vui tỉnh thức thì một nguồn năng lượng tích cực,
tốt đẹp và mạnh mẽ tràn ngập khắp thân thể làm cho các
tế bào được lành mạnh, trẻ trung và do đó thân thể được
khỏe mạnh. Khi tự mình kinh nghiệm rõ ràng về sự mầu nhiệm
của niềm an lạc, một niềm vui sâu thẳm và bình an hay nói
khác đi một niềm hạnh phúc trong sáng tràn đầy thì chúng
ta biết rõ thật sự mình muốn gì trong cuộc sống: Chúng
ta muốn sống trong niềm hạnh phúc kỳ diệu của chân tâm,
Phật tánh của mình. Biết được điều ấy một cách rõ
ràng là chúng ta rất thành thực với mình và khai mở cho sự
thông minh biểu lộ tràn đầy trong đời sống hàng ngày. Sự
thông minh trong sáng bén nhạy đó cũng là tình thương yêu
tỏa sáng đời sống của chúng ta.
Tình
Thương Yêu Khai Mở Năng Lực Kỳ Diệu
Hiện
nay ở Hoa Kỳ người ta thường nói đến tình thương yêu,
có những lớp dạy về tình thương yêu vì sự trống vắng
và quạnh quẽ trong đời sống dư thừa vật chất. Trong ngành
chữa trị y khoa người ta lại càng thấy rõ tình thương có
năng lực chữa trị bệnh tật hỗ trợ cho những thuốc men
và kỹ thuật tân tiến hiện nay. Hàng trăm cuốn sách đã
được viết ra để hướng dẫn hay nhắc nhở dân chúng về
yếu tố quan trọng của tình thương trong việc giáo dục con
cái, duy trì sức khỏe, chữa trị bệnh tật cho mình và cho
người.
Điều
này thật rất quen thuộc với người thực hành đạo Phật
vì thực hành đạo Phật là sống với tình thương yêu rộng
lớn, sự hiểu biết chân thật và nguồn an vui kỳ diệu nơi
chính mỗi chúng ta.
Tình
thương yêu rộng lớn đạo Phật gọi là từ bi. Từ là tình
thương yêu trong lành, ấm áp, tỏa chiếu hướng đến người
khác và mong họ có được sự an vui. Bi là lòng mong muốn
giúp đỡ những người đang bị tai ương, ách nạn, đói khổ
nói chung là bị khổ đau để họ có được đời sống an
lành và tốt đẹp.
Thương
yêu và muốn đem lại niềm an vui cho người là một tính tự
nhiên sẵn có nơi mỗi chúng ta, đó cũng là chân tâm hay Phật
tánh tràn đầy một tình thương yêu trong lành, tỏa chiếu,
ấm áp và rộng lớn bao la. Đó là tình thương yêu không điều
kiện, không cân nhắc, không mong cầu đáp ứng. Tình thương
yêu ấy vốn tự nhiên tỏa sáng.
Chúng
ta hãy nghe vị đạo sư Tây Tạng, Tarthang Tulku Rimpoche nói
về tình thương yêu đó trong mối tương quan giữa con người:
“Mọi
thứ đều liên hệ lẫn nhau một cách lạ lùng. Khi ý thức
về điều ấy thì sự liên hệ của chúng ta đặt nền tảng
trên tình thương yêu, không phải tình thương yêu cân nhắc,
suy tính, mà là một tình thân hữu tự nhiên đối với mọi
loài, một sự khai mở cõi lòng do sự thông hiểu tự nhiên
về mối liên hệ lẫn nhau đó. Từ đó, những mong muốn về
lợi lộc riêng tư sẽ tiêu tan. Không có một vấn đề gì
của cá nhân còn lại…
Khi
tôi càng tìm hiểu về những vấn đề của người khác thì
các vấn đề của tôi càng bị tiêu trừ. Như thế, tìm hiểu
các vấn đề người khác vốn rất quan trọng… Sự hiểu
biết vấn đề các người khác làm gia tăng sự hiểu biết
về chính mình; sự hiểu biết chính mình làm gia tăng lòng
từ bi; lòng từ bi làm gia tăng sự hiểu biết người khác.
Đó là một vòng tròn chắc nịch mà chúng ta chỉ có thể
đi vào bằng cách buông bỏ mối quan tâm về chính những vấn
đề của mình.”
Nói
khác đi, khi chúng ta khai mở cõi lòng, hướng đến người
khác để tìm hiểu những mối lo lắng, sợ hãi, giận hờn
và khổ đau của họ thì lòng từ bi, tình thương yêu trong
sáng, ấm áp, rộng lớn tràn đầy trong ta. Lúc đó, bao nhiêu
những ý tưởng chấp dính vào cái tôi của mình, cái ngã
của mình tan biến đi nên mọi thứ lo lắng, sợ hãi, buồn
phiền và khổ đau nơi chúng ta cũng đều tan biến theo.
Phẩm
Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói về sức mạnh của
tình thương yêu đó cùng năng lực làm tiêu sạch mọi thứ
khổ đau:
“Lòng
bi vang tiếng sét
Đức
từ rạng nhường mây
Cam
lồ mưa pháp gội
Lửa
phiền não tưới tắt.”
Lòng
từ bi mãnh liệt như một cơn sấm sét và tỏa sáng như một
đám mây chứa đựng ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Khi
lòng từ bi bừng dậy thì tâm ta tràn đầy một sự ngọt
ngào trong lành tinh sạch làm tiêu hết mọi lo âu, sợ hãi,
giận hờn và khổ đau. Nói khác đi, tình thương yêu trong
lành là một nguồn năng lực kỳ diệu tràn đầy nơi thân
và tâm; chúng có khả năng làm cho ta an vui hạnh phúc và làm
cho thân thể chúng ta được lành mạnh tươi mát.
Tình
thương yêu trong lành đó không phải chỉ là một cảm xúc
nhất thời nơi chúng ta hay một cảm giác thụ động hoặc
tiêu cực như sầu muộn, buồn rầu, hay ray rứt. Đạo Phật
nhấn mạnh từ bi là tình thương yêu trong sáng, tích cực,
ấm áp, mạnh mẽ, tỏa chiếu ánh sáng của năng lực kỳ
diệu nơi chính mình (từ) cùng một động lực mạnh mẽ đẩy
chúng ta đi tới, thực hành những điều đem lại an lành,
no ấm, bình an, phát triển và hạnh phúc cho người khác (bi).
Do đó, từ bi là một nguồn năng lực kỳ diệu đem đến
niềm an vui bao la cho mình và hạnh phúc cho mọi người.
Có
Tình Thương Yêu Trong Sáng Là Có Sự Hiểu Biết Chân Thật
Đức
Phật dạy chúng ta từ bi tức là trí tuệ. Khi nào tình thương
yêu trong sáng bừng dậy thì sự hiểu biết chân thật lập
tức xuất hiện. Hay ngược lại khi có sự hiểu biết chân
thật thì tình thương yêu trong lành lập tức có mặt. Trí
tuệ, sự thấy biết chân thật là một sự thông minh tinh
túy, bén nhạy, thâm nhập vào mọi thứ tinh thần hay thể
chất làm ta biết rõ ngay tánh cách trong sáng của mỗi thứ
trong một cái toàn thể bao la. Cái thấy biết kỳ diệu ấy
biểu lộ qua cái thấy, nghe, nếm, ngửi, cảm xúc, qua sự
thấy biết rõ ràng mọi hiện tượng, qua sự biết rõ chân
thật tính cách trong sáng, tinh sạch, rỗng lặng đồng thời
có mặt rực rỡ tràn đầy của mỗi sự vật và qua cái thấy
biết vũ trụ rộng lớn tràn đầy, tỏa chiếu, đẹp đẽ
quanh chúng ta. Nói khác đi, tâm ta như thế nào thì thế giới
biểu lộ như thế ấy.
Điều
nói trên được nhà tâm lý học thời đại Abraham Maslow gọi
là kinh nghiệm cực đỉnh (peak experience) như sau:
“Có
một thứ thấy, nghe hay cảm xúc chân thật nhất... Đặc tính
của kinh nghiệm cực đỉnh là sự cảm nhận toàn thể thế
giới là một sự hợp nhất, là một cái toàn thể... Kinh
nghiệm của riêng tôi, tôi có hai bệnh nhân nhờ kinh nghiệm
cực đỉnh đó mà tức khắc, hoàn toàn và vĩnh viễn chữa
lành chứng bệnh tâm loạn lo lắng kinh niên của một người
và người kia sự ám ảnh mãnh liệt về ý tưởng tụu vận.”
Nhà
tâm lý học thời danh trên nói nhiều về các trạng thái an
vui kỳ diệu của tâm giác ngộ nhưng ông không hướng dẫn
phương pháp làm cách nào để sống với tâm kỳ diệu ấy
mà đạo Phật gọi là tâm chân thật, chân tâm, Phật tánh
vốn có sẵn nơi mỗi chúng ta. Phương pháp sống với chân
tâm, Phật tánh được các tông phái Phật giáo như Thiền
Tông, Tịnh Độ Tông hay Mật Tông chỉ cách thực hành rất
rõ ràng. Ngoài ra, Diệu Pháp Phổ Môn, một phương pháp tu
tập kết hợp tinh hoa hàng ngày để đem lại cho chúng ta sự
thoải mái, an vui, hạnh phúc về tinh thần, sự lành mạnh
về thể chất và sự thành công trong cuộc sống tích cực
trong các sinh hoạt xã hội hàng ngày mà chúng ta sẽ tìm hiểu
thêm ở phần sau.
Dù
cho chúng ta chưa đạt tới trạng thái giác ngộ để cảm
nhận niềm an vui tuyệt vời của Phật tánh thì sự thực
hành tu tập làm cho thân và tâm thoải mái, an vui cùng giúp
chúng ta gia tăng sự thông minh, sự hiểu biết làm cho chúng
ta thành công tốt đẹp trong cuộc sống vì tất cả các phương
pháp tu tập của Phật giáo đều giúp chúng ta gia tăng sự
tỉnh thức, thấy rõ những gì đang xảy ra, gia tăng sự tập
trung tư tưởng, gia tăng nguồn năng lực thể chất và tinh
thần. Như khi niệm Phật, tụng kinh, trì chú, quán tưởng
hay ngồi thiền chúng ta hoàn toàn chú ý vào hiện tại cùng
thực hành thật đúng và rõ ràng.
Sống
An Vui, Lành Mạnh Và Thành Công
Nhiều
người tuy rất thích đạt được niềm an vui trong cuộc sống
nhưng họ lại cho rằng sự thực hành tu tập đòi hỏi nhiều
công phu quá và sự tu tập nhiều lúc bó buộc chúng ta xa lánh
những sinh hoạt cần thiết.
Nghĩ
như thế thật sai lầm vì tùy theo mỗi người mà chúng ta
sắp xếp thời gian tu tập cho thích hợp. Mỗi ngày chúng ta
chỉ cần bỏ ra độ hai mươi phút là có thể làm cho thân
thể thoải mái, tinh thần an vui và sau đó áp dụng vào việc
gia tăng khả năng chuyên môn của mình. Điều trên được
các nhà tâm lý học gọi là thiền hoạt động. Vào năm 1981
hai nhà tâm lý Fiebert và Mead thực hiện một cuộc nghiên cứu
về thiền hoạt động. Họ đã dùng phương pháp thiền biến
chế theo phương thức tâm lý học làm cho các sinh viên gia
tăng khả năng học hỏi của họ theo một phương pháp rất
giản dị là theo dõi hơi thở để cho thân tâm thoải mái
sau đó họ học bài. Kết quả là các em học sinh này gia tăng
điểm trong kỳ thi. Một nhóm học sinh khác cũng được tiến
sĩ Abram ghi lại kết quả học hành tốt đẹp sau khi các em
này thực hành thiền và gia tăng sự chú tâm.
Bác
sĩ Herbert Benson đề nghị một phương pháp rất giản dị
là chọn một chữ hay một câu thích họp, ngồi yên ổn và
thoải mái, nhắm mắt và buông xả các bắp thịt, thở rất
tự nhiên và lập lại chữ hay câu lựa chọn ở hơi thở
ra, khi quên thì nhớ quay về sự thực hành nhưng với thái
độ tích cực, đừng trách móc gì mình cả. Thực hành như
thế từ mười đến hai mươi phút rồi bắt đầu chương
trình học hành, nghiên cứu hay làm việc thì kết quả gia
tăng rất nhiều. Điều này thật phù hợp với phương pháp
thực hành tu tập của Phật giáo nhất là Diệu Pháp Thiền
Tịnh để tăng gia các khả năng cần thiết trong đời sống
hàng ngày của mình đồng thời sống lành mạnh, an vui và
hạnh phúc.
Diệu
pháp là phương pháp linh diệu đem đến cho chúng ta những
kết quả tốt đẹp, Thiền Tịnh là phương pháp phối hợp
Tịnh Độ Tông và Thiền Tông mà các vị tổ thường cho là
phương pháp tu tập mạnh mẽ và tốt đẹp như cọp thêm cánh.
Ngoài ra, người thực hành phương pháp này còn quán tưởng
hình đức Quán Thế Âm như đã được đức Phật Thích Ca
chỉ dạy trong phẩm Phổ Môn của kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói
về thân tướng đẹp đẽ kỳ diệu và lòng thương yêu bao
la của đức Quán Thế Âm. Ngài xuất hiện trong cuộc đời
để ban cho chúng ta an vui, lành mạnh, sức khỏe cùng giúp
cho chúng ta thực hành đạo Phật để đạt được niềm hạnh
phúc bao la trong đời sống. Tóm lại, Diệu Pháp Thiền Tịnh
là một phương pháp linh diệu khai mở cánh cửa rộng lớn
của chân tâm, Phật tánh để chúng ta tiếp xúc được, sử
dụng được những khả năng kỳ diệu có sẵn nơi mỗi chúng
ta để sống cuộc đời lành mạnh, an vui, thành công và hạnh
phúc. Ngoài ra, nhờ sự bảo hộ của đức Quán Thế Âm, chúng
ta có thể thực hành nhiều sự nhiệm mầu.
Diệu
Pháp Thiền Tịnh là một phưong pháp linh diệu dành cho người
tại gia thực hành. Những người sống cuộc đời bình thường
cần có một phương pháp thực hành giản dị, cụ thể, ngắn
gọn và có kết quả chắc chắn để áp dụng hàng ngày ở
nhà cũng như ở sở làm hầu gia tăng sức khỏe, hiệu năng
làm việc và niềm an vui. Tùy theo mục đích chúng ta muốn
đạt được trong sự tu tập cũng như những thành quả trong
các chương trình sinh hoạt hàng ngày mà chúng ta áp dụng phương
pháp thực hành.
Để
thực hành phương pháp phù hợp với sự mong muốn của mình,
trước hết chúng ta tự hỏi và trả lời một cách thành
thật: mình muốn gì? Chúng ta muốn có đời sống an vui, lành
mạnh, thoải mái và hạnh phúc. Chúng ta muốn học thêm kiến
thức chuyên môn trong ngành, chúng ta muốn làm các bài tập
ở trường, chúng ta muốn gia tăng khả năng tinh thần như
sự sáng tạo, sự bén nhạy của tâm thức, thành công hơn
trong công việc làm, trong sự giao thiệp với người thân,
bạn bè, chúng ta muốn phát triển các môn thể thao hay trong
các chương trình tập thể dục, làm cho thân thể khỏe mạnh.
Chúng ta cũng có thể tiến xa hơn trong việc phát triển khả
năng cầu nguyện và quán tưởng để chữa trị bệnh tật
cho mình và cho người khác theo một phương thức tu tập đặc
biệt. Dĩ nhiên, điều này cần một nỗ lực tu tập có nền
tảng và bền vững hàng ngày.
Sau
khi chúng ta biết rõ mình muốn gì thì chúng ta phải vạch
một chương trình để thực hiện điều ấy. Nếu chỉ muốn
không thôi mà không thực hiện thì đó chỉ là những mơ ước
viễn vông. Và trước khi thực hành chúng ta phải có chương
trình rõ rệt để có thể hoàn thành điều mình mong muốn.
Và cuối cùng, chúng ta bắt tay thực hành cho có kết quả
tốt đẹp.
Chương
5
THỰC HÀNH ĐỜI
SỐNG LÀNH MẠNH VÀ HẠNH PHÚC
Các
lời đức Phật dạy trong kinh điển thường nhắm vào những
vị xuất gia, những người từ bỏ cuộc sống gia đình, sống
đời tu hành trong các tu viện hay chùa chiền. Một số lời
dạy của đức Phật dành cho người cư sĩ tại gia cũng quý
báu cho đời sống hàng ngày của họ mà chúng ta cần ôn lại
theo hệ thống.
Trong
kinh Kiên Chính, Kinh Lục Phương, kinh Phước Đức, đức Phật
dạy người tại gia phải học hành, phải phát triển nghề
nghiệp, phải lập gia đình theo phương thức tốt đẹp nhất
để sống đời hạnh phúc, phải giáo dục con cái nên người
và phải thương yêu, hiếu kính đối với ông bà cha mẹ,
kính trọng và gần gũi các tăng ni dạy đạo, có tình nghĩa
với anh em, bạn bè, biết thương mến và giúp đỡ thân bằng
quyến thuộc, người nghèo khó, đóng góp vào trong việc lợi
ích cộng đồng và tìm đến các tăng ni để học đạo. Đó
chính là những điều mong muốn căn bản của một người
bình thường tại gia.
Những
người Phật tử chúng ta cần nhớ và biết rõ mục đích
của mình và nhất là đừng lẫn lộn với những lời đức
Phật dạy dỗ cho các vị xuất gia phải thực hành ở chùa
chiền hay tu viện. Sự lầm l