Đức
Thế Tôn ngại rằng Pháp của Ngài quá thâm sâu, những hạng
người “đang mải đắm chìm trong tục lụy” khó có
thể hiểu được, và sự chứng ngộ ấy vượt lên trên khả
năng lãnh hội của họ.
Kinh
điển Phật giáo giai đoạn đầu (hệ kinh Nikàya) ghi lại
rằng, sau khi chứng ngộ đạo quả Niết bàn và giải thoát
khỏi vòng sinh tử luân hồi, trở thành Bậc Chánh Đẳng Giác,
ban đầu Đức Phật cảm thấy ngần ngại khi nghĩ đến việc
tuyên giảng cho loài người Pháp mà Ngài đã thể chứng (Kinh
Trung Bộ - Kinh Thánh Cầu). Đức Thế Tôn ngại rằng Pháp
của Ngài quá thâm sâu, những hạng người “đang mải
đắm chìm trong tục lụy” khó có thể hiểu được, và
sự chứng ngộ ấy vượt lên trên khả năng lãnh hội của
họ. Ngài nói:
“Chúng
sinh này thì ưa thích những cái được ấp ủ, thích thú với
cái được ấp ủ, cho nên sự thực này là khó hiểu. Đó
là sự sinh khởi do quan hệ y duyên”(*). (Ariyapariyesanà-sutta,
M.i. 167, àlayàràmà kho panàyam pajà àlayaratàya àlaya-sammuditàya
duddasam idam thànam yadidam idappaccayatà paticcasamuppàdo). (Tuệ
Sỹ, Huyền thoại Duy Ma Cật, NXB Phương Đông, tr 55).
Lúc
ấy, Phạm Thiên biết được ý nghĩ ấy nên rất lo lắng,
ông ta sợ thế giới “sẽ bị hủy diệt” nếu Đức Phật
đi vào Niết bàn mà không tuyên giảng đạo giải thoát. Ông
liền xuống trần và hiện ra trước Đức Phật, thỉnh cầu
Ngài hãy vì những chúng sinh đang đau khổ mà ở lại đời
để tuyên giảng giáo lý Ngài đã giác ngộ:
"Như
người đứng trên đỉnh núi cao
Có
thể nhìn khắp những người xung quanh.
Đấng
Giác Ngộ, Bậc Biến Tri, cũng như thế,
Ngài
hãy ngự lên Pháp đường.
Đấng
Vô Phiền hãy nhìn loài người đây
Đắm
chìm trong sầu não, bị sinh già chế ngự.
Hãy
đứng lên hỡi vị anh hùng chiến thắng, người dẫn đầu
đoàn lữ hành
Bậc
hết mọi nợ nần, hãy đi khắp thế gian
Nguyện
Đức Thế Tôn tuyên giảng Chánh pháp
Sẽ
có những chúng sanh hiểu được”.
(Ariyapariyesanà
sutta - Kinh Thánh Cầu)
Sau
những lời thỉnh cầu thiết tha của Phạm Thiên, Đức Phật
đã dùng Phật nhãn quán sát thế gian và thấy rằng chúng
sinh thật sự có nhiều thiên hướng khác nhau. Như hoa sen trong
đầm, có những nụ vươn lên khỏi mặt nước tỏa hương
thơm ngát, có những nụ còn chìm ngập trong nước chờ ngày
vươn lên, nhưng cũng có những nụ chết lịm trong nước không
thể vươn lên được; các loài chúng sinh cũng vậy, “có
kẻ nhiễm ít bụi trần, có kẻ nhiễm nhiều bụi trần, có
kẻ lợi căn, và cũng có kẻ độn căn… có kẻ dễ dạy,
nhưng cũng có kẻ khó dạy”. Sau khi quán sát như vậy,
với tâm Đại bi, Đức Phật quyết định ở lại đời tuyên
giảng Chánh pháp.
"Cửa
bất tử rộng mở,
Cho
những ai chịu nghe”.
Bỏ
qua những ngụ ý mang tính huyền thoại, tất cả mọi truyền
thống Phật giáo đều chấp nhận tính lịch sử của câu
chuyện này. Nghĩa là, họ cho rằng Đức Phật đã giác ngộ
dưới gốc bồ đề tại Gaya, nơi đó gọi là Bồ Đề Đạo
Tràng (Bodhgayà); ban đầu Ngài không muốn truyền dạy những
điều Ngài đã giác ngộ, nhưng sau nhiều tuần trầm tư, Ngài
đã quyết định truyền dạy Chánh pháp của Ngài cho thế
gian.
Tuy
nhiên, khi đã quyết định như vậy, Đức Phật phải nghĩ
đến việc làm thế nào để cho Giáo pháp của Ngài thích
hợp với căn cơ của chúng sanh, tức là Pháp được
nói ra phải phù hợp với trình độ của người nghe dù đó
là hạng chúng sanh nào, lợi căn hay độn căn. Ngài đã giải
quyết vấn đề này bằng phương pháp gọi là Phương
tiện thiện xảo (Skt: upàya-kauslya, Pali: upàya-kusala).
Bởi vì cảnh giới chứng ngộ của Đức Phật vượt lên
trên mọi tư duy và diễn đạt bằng ngôn ngữ, cho nên Ngài
nói rằng giáo pháp của Ngài chỉ như “ngón tay chỉ mặt
trăng”, đó chỉ là sự chỉ bày hữu ích cho sự thể nhập
Sự thật chứ bản thân nó không phải là Sự thật.
Điều
đó có nghĩa rằng, Pháp chỉ có tính tùy thời chứ không
phải là những giáo điều cố định. Hơn nữa, là một
“phương tiện” mang tính quyền xảo đưa đến
mục đích cứu cánh, giáo pháp này có tính cách năng động
và tùy hoàn cảnh. Lập trường triết lý mang tính thực dụng
này đem lại cho Đức Phật một sự linh động rất lớn -
nghĩa là Ngài có thể tùy lúc mà điều chỉnh giáo pháp sao
cho thích ứng với trình độ của thính chúng. Đây thực sự
là một yếu tố hết sức quan trọng cần được để ý đến
mỗi khi tìm hiểu nội hàm giáo pháp của Đức Phật.
Ở
mức độ căn bản, “phương tiện thiện xảo”
xuất hiện trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy như một
hình thức “giảng giải tiệm tiến” (Hán: thứ đệ thuyết
pháp, Pàli: anupubbi-kathà) về pháp. Khi giảng pháp cho những
đệ tử có khả năng lãnh hội cao, Đức Phật giảng giải
trực tiếp những phạm trù giáo lý uyên áo. Chẳng hạn như
trong bài kinh Chuyển Pháp Luân (thuộc Tương Ưng Bộ kinh),
ngay từ đầu, Đức Thế Tôn đã chỉ thẳng cho năm anh em
Tôn giả Kiều Trần Như một sự bóc trần không khoan nhượng
về Thánh đế thứ nhất - Khổ đế. Theo đó cuộc sống được
phơi bày ra thành những nỗi khổ đáng nhàm chán một cách
không né tránh: “Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ,
chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán tắng gặp
nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ.
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ”.
Tuy
nhiên, đối với những người mới đến với đạo, Ngài
chỉ giảng những bài pháp đơn giản dễ hiểu về giới hạnh
chung chung, sau đó mới tiến lên những giáo lý cao hơn. Tiến
trình này được minh họa rõ ràng trong bài kinh dạy cho Upàli
như sau:
“Rồi
Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho gia chủ Upàli, tức là
thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi
trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô
các dục lạc, những lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết
gia chủ Upàli tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không
triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Ngài
mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao:
Khổ, Tập, Diệt, Ðạo.” (Kinh Trung Bộ, kinh Ưu Ba Ly,
HT. Minh Châu dịch).
Ở
mức độ cao hơn, “Phương tiện thiện xảo” mang những
hình thái mà trong những hoàn cảnh khác có thể bị xem là
trái ngược, hoặc thậm chí là ngoại đạo. Như trong kinh
Tevijja (Tam minh) thuộc Trường Bộ kinh, hai thanh niên Bà la
môn Vàsettha và Bhàradvàja tranh cãi không quyết được “con
đường dẫn đến cộng trú với Phạm Thiên” do vị đạo
sư Bà la môn nào dạy là đúng. Vì nghe Đức Phật có trí
tuệ siêu việt nên họ tìm đến nhờ Ngài phân giải.
Ở
đây, Đức Phật không phủ nhận Phạm Thiên cũng như không
phủ nhận mục đích cộng trú với Phạm Thiên, Ngài chỉ
dùng cách hỏi và đáp để phủ nhận con đường mà các vị
đạo sư Bà la môn ấy đã chỉ dạy, bởi vì thực ra những
vị đạo sư ấy không có khả năng đó, họ chỉ là những
người tuy thông hiểu ba bộ Vệ đà nhưng tâm vẫn còn lặn
hụp trong vũng lầy ái dục, bị năm triền cái trói buộc.
Chính bản thân họ không biết Phạm Thiên ở đâu và con đường
nào dẫn đến cộng trú với Phạm Thiên. Sau khi phân biệt
sự sai lầm của những đạo sư Bà la môn kể trên, dựa trên
phạm
vi nhận thức của hai thanh niên Bà la môn này, Đức Phật
nói rằng: “Ta biết Phạm Thiên, Phạm Thiên giới và con
đường đưa đến Phạm Thiên giới.”
Hai
thanh niên Bà la môn sau khi bị Đức Phật chinh phục đã thỉnh
cầu Ngài dạy về con đường “cộng trú với Phạm Thiên”.
Để hướng hai người thanh niên này đến lối sống tốt
đẹp và đúng đắn, Đức Phật đã khéo léo lồng lối sống
phạm hạnh của Ngài vào “con đường dẫn đến cộng trú
với Phạm Thiên”, đặc biệt sự tu tập tứ vô lượng
tâm hay Phạm trú (brahma-vihara): từ - bi - hỷ - xả. Đức
Phật xác nhận với họ rằng đó mới chính là “con đường
đưa đến cộng trú với Phạm Thiên” chân chính, con đường
này cũng chính là cửa ngõ đi vào Niết bàn giải thoát. Hai
thanh niên Bà la môn rất hoan hỷ với giáo lý được trình
bày rõ ràng ấy, và tán thán giáo lý có khả năng diễn bày
của Đức Thế Tôn như sau:
“Thật
vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị
quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để
những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp
đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày”.
Cũng
tương tự như thế, chúng ta biết rằng Đức Phật phủ nhận
dứt khoát bất kỳ một ý niệm nào về cái ngã trường cửu,
Ngài dạy rằng con người do năm uẩn - sắc, thọ, tưởng,
hành, thức - kết hợp tạo thành. Tuy vậy, khi đàm luận với
một vị Bà la môn theo phái Thuận Thế (Pàli: Carvaka, Sanskrit:
Càrvàka) - một trường phái chủ trương “Không có bố
thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị
thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời
khác, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh…
Con
người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại
trở về trả lại cho địa giới; thủy đại trở về trả
lại cho thủy giới; hỏa đại trở về trả lại cho hỏa
giới; phong đại trở về trả lại cho phong giới; các căn
nhập vào hư không” - Đức Phật nhận thấy cn phải
sử dụng một phương pháp mạnh như vị đại phu cần một
liều thuốc mạnh cho một bệnh nhân đang bệnh nặng. Để
cho nhà duy vật này từ bỏ cực đoan đoạn kiến, Ngài tạm
thời nói đến một cái ngã. Tuy ngã kiến cũng là một cực
đoan, nhưng dù sao nó cũng khiến người ta biết đến trách
nhiệm về hành vi của bản thân.
Đức
Phật thường dạy “thà rằng chấp có còn hơn chấp
không” là vậy. Sau khi biết rằng vị Thuận Thế này
đã từ bỏ cực đoan đoạn kiến rồi, Đức Phật mới chỉ
rõ ngã kiến cũng là một cực đoan cần phải tránh xa, và
Ngài dạy về giáo lý ngũ uẩn - một con đường tránh xa cả
hai cực đoan.
Hình
thức “phương tiện thiện xảo” do Đức Phật
khởi xướng trong những kinh điển Nguyên thủy được nói
trên đây đã tạo nên một mô thức cho tất cả những phát
triển sau này của Phật giáo. Đặc biệt sau này trong Phật
giáo Đại thừa, “phương tiện thiện xảo” (Skt: upàya-kausalya)
- cùng với trí tuệ Bát nhã (prajnà) - trở thành phẩm chất
đặc thù của một vị Bồ tát, một “chúng sanh giác ngộ”.
Vị chúng sanh giác ngộ này đợi tất cả mọi chúng sanh thành
Phật rồi mới nhập Niết bàn.
Phương
tiện thiện xảo thật sự cũng đã đóng một vai trò quan
trọng trong sự truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ đến các
nước khác, việc này đã xảy ra từ thế kỷ thứ nhất trước
Tây lịch. Nhờ việc kết hợp hài hòa những tín ngưỡng
địa phương (như Nho, Lão…) vào trong sự “giáo hóa tiệm
thứ”, các phái đoàn truyền giáo Phật giáo đã “hợp thức
hóa” những tín ngưỡng này thành những “nấc thang sơ khởi”
tiến đến Niết bàn, và vì thế dễ dàng nhận được sự
quy hướng của mọi người.
(*)
Đoạn kinh tương đương do HT. Minh Châu dịch: "Pháp này
do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng,
tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người
trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái
ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục,
khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được
định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y tánh Duyên khởi pháp);
sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất
cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn
diệt, Niết bàn.” (Trung Bộ, Kinh Thánh cầu).
Ở
đây có từ àlaya là một từ phức tạp, bản tiếng Anh của
Bhikku Bodhi dịch là Worldliness, tiếng Hán dịch là quật, trạch,
tàng, y xứ; TT. Tuệ Sỹ dịch là “cái được ấp ủ”,
trong khi HT. Minh Châu dịch là “ái dục”. Từ
àlaya này, theo Bhikku Bodhi là một từ Pàli cổ, khó tìm được
từ tương đương trong Anh ngữ cũng như Hán ngữ. Pháp
sư Ấn Thuận hiểu từ này là nơi cư trú (quật
trạch) trong Tam giới khi dịch: “The Buddha felt the Dharma
too profound to understand and reluctant to teach the Dharma, the problem
was that “The sentient beings indulge in pleasure of the Three Realms
Habitat (Đức Phật nhận thấy Pháp quá sâu khó hiểu và
không muốn tuyên thuyết Pháp ấy, cái khó khăn chính là “chúng
sanh tham đắm nơi cư trú trong Tam giới”).
Thanh
Hòa
(chuyenphapluan.com)
10-24-2007
05:23:12