Luân
lý Phật giáo và xã hội
Hòa
thượng Walpola Rahula
Phạm Kim
Khánh dịch (1965)
Lời
nói đầu
Trước hiện
tình của đất nước và sự lầm than khổ sở của trăm họ,
chúng tôi, một nhóm người tài hèn đức mọn, không biết
chi hơn là trích dịch trong quyển "GIÁO LÝ CỦA ÐỨC PHẬT"
do một vị tu sĩ Tích Lan, Ðại Ðức Walpola Rahula soạn ra,
một đoạn nói về "LUÂN LÝ PHẬT GIÁO VÀ XÃ HỘI" để cống
hiến cho đồng bào suy nghiệm.
Lời của Phật
dạy trước đây hơn 25 thế kỷ vẫn còn hợp thời, hợp
cảnh. Chúng tôi ước mong đồng bào thân mến lấy đó làm
kim chỉ nam để chung lo tạo lập một xã hội thanh bình no
ấm.
Cầu xin quả
phúc phát sanh do cuộc thí pháp này sớm đem lại cho dân tộc
Việt Nam một đời sống điều hòa, an lạc.
Chúng tôi cũng
thành tâm hồi hướng phước báu này đến hương linh của
quý vị anh hùng chiến sĩ trận vong cùng toàn thể đồng bào
tử nạn vì chiến tranh và chân thành cầu nguyện cho Chư Hương
Linh ấy được siêu thăng nhàn cảnh.
Với tấm
lòng Từ ái,
Phật tử
Nguyên thủy
Sài
gòn, Xuân Ất Tỵ (1965)
-ooOoo-
Nhiều
người tưởng rằng Phật Giáo là một học thuyết rất cao
siêu, quý trọng, nhiệm màu, mà kẻ thường nhơn, đàn ông
lẫn đàn bà, không thể đem ra thực thành trong đời sống
khắc khổ hằng ngày được. Họ tưởng rằng muốn làm một
Phật tử thuần túy phải ly gia cắt ái và ẩn dật trong một
ngôi chùa hoặc một nơi nào thanh vắng. Thật ra đó là một
quan niệm sai lầm do sự hiểu biết không chu đáo giáo lý
của Ðức Phật. Họ hấp tấp đưa ra những kết luận vội
vàng, sai lạc, vì quá tin nơi dư luận hay vì gấp rút đọc
sơ qua một quyển sách về Phật Giáo, của một soạn giả
chưa triệt thấu mọi khía cạnh giáo lý của Ðức Phật và
chỉ trình bày một đoạn sơ thiển.
Giáo lý của Ðức
Phật chẳng những dành riêng cho các tu sĩ trong nhà chùa mà
cũng cho toàn thể hàng nam nữ tại gia và gia đình của họ.
Bát Chánh Ðạo là quy tắc chung cho tất cả, không phân biệt
xuất gia hay tại gia. Mọi người không thể xuất gia để
ẩn dật trong hang đá hoặc trong rừng sâu.
Giáo lý của Ðức
Phật rất tinh khiết, cao thượng và siêu việt sẽ trở thành
vô dụng cho đại chúng nếu họ không thể áp dụng được
trong đời sống hằng ngày, giữa thế giới tân thời này.
Nhưng nếu người ta hiểu đúng đắn tôn chỉ Phật Giáo mà
không câu nệ theo từ câu chữ, thì chắc chắn ai ai cũng giữ
đạo và thực hành được trong đời sống tại gia.
Một số người
có thể hành đạo dễ dàng ở nơi thanh vắng khuất tịch,
xa cách xã hội. Nhưng đối với người khác, lối sống cô
tịch ấy có thể nặng nề và thương tổn cho tinh thần, thể
xác; dĩ nhiên, cách sống như thế không lợi ích cho sự tiến
hóa về mặt tinh thần và trí tuệ. Sự xuất gia chính đáng
không có nghĩa là phải lánh thân ra ngoài vòng thế tục.
Trong kinh Trung
A Hàm (Majjhima Nikaya, tr.30, 31), Ðại Ðức Xá Lợi Phất (Sàriputta),
vị đệ tử hầu cận của Ðức Phật, dạy rằng một người
kia sống trong rừng để thực hành khổ hạnh nhưng chứa đầy
tư tưởng xấu xa, nhơ nhớp; một người khác sống nơi thôn
quê hoặc thành thị, cũng thực hành khổ hạnh, nhưng trái
lại tâm người ấy tinh khiết, không xấu xa, nhơ nhớp. Trong
hai người, người sống trong sạch nơi thôn quê hoặc ở chốn
thành thị thật là cao thượng và đáng kính hơn người sống
trong rừng với tư tưởng nhơ nhớp.
Theo thông thường,
người ta cho rằng phải trốn tránh thế sự mới có thể
thực hành giáo lý của Ðức Phật được. Thật là không
đúng. Ðó chỉ là một ngụy biện vô ý thức để từ khước.
Trong nền văn học Phật Giáo có nhiều bằng cớ dẫn chứng
rằng đã có nhiều người nam và người nữ, sống trong gia
đình, hành đạo được kết quả và đắc Niết Bàn.
Cũng trong kinh
Trung A Hàm (Majjhima Nikaya từ tr. 490) có tích rằng thầy Ðạo
sĩ Vacchagotta hỏi Ðức Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn, đã có
người cư sĩ nam hay nữ nào sống giữa gia đình, hành theo
giáo pháp của Ngài mà được kết quả và tiến đến đạo
quả cao không?" - Ðức Phật quả quyết rằng: "Chẳng những
có một hay hai, hay một trăm, hay hai trăm, hay năm trăm mà thôi,
thật có rất nhiều cư sĩ, nam và nữ, sống giữa gia đình,
thực hành đạo pháp của Như Lai đã có kết quả và đạt
được đạo quả cao".
Có người hạp
và thích ẩn dật chỗ thanh tịnh, cách xa tiếng tăm và náo
nhiệt; nhưng rất đáng khen những ai có can đảm hành đạo
giữa đồng bào quyến thuộc để nâng đỡ và giúp ích họ.
Trong một vài trường hợp, lại cũng hữu ích, cho một số
người sống một thời gian nơi chốn cô tịch để trau dồi
tâm tánh như một giai đoạn luyện tập sơ bộ, hầu trở
nên vững mạnh khi trở về phục vụ kẻ khác. Nhưng nếu
có một người nào trọn đơfi dấn thân nơi chốn tịch mịch
chỉ để mưu cầu hạnh phúc cá nhơn và cho sự giải thoát
của riêng mình, không quan tâm đến người đồng loại, thì
điều ấy chắc chắn là không đúng với tôn chỉ Phật Giáo,
một đạo giáo đặt nền tảng trên tình thương, bi mẫn và
trên sự xả thân giúp đời.
Người ta có thể
hỏi: "Nếu giáo lý của Ðức Phật có thể thực hành được
trong đời sống tại gia, tại sao Ðức Phật lại còn lập
ra Giáo Hội Tăng Già?" Giáo Hội Tăng Già được lập ra để
cho ai có chí nguyện hy sinh đời sống, chẳng những cho sự
phát triển tinh thần và trí tuệ của mình mà cũng để phục
vụ kẻ khác. Không thể trông cậy nơi người cư sĩ đương
gánh nặng một gia đình, mong họ hy sinh tất cả thì giờ
để tiếp độ kẻ khác; trong khi ấy một vị tu sĩ không
có trách nhiệm gia đình, không còn dính dấp với thế sự,
có đủ điều kiện hy sinh trọn vẹn đời sống của mình
để đem lại an vui hạnh phúc cho nhiều người, đúng theo
lời dạy của Ðức Phật. Bởi thế trải qua lịch sử chẳng
những chùa chiền đã trở thành một trung tâm tinh thần mà
còn là một trung tâm nghiên cứu và vun bồi đạo hạnh.
Những vị tu sĩ
Phật Giáo sống hcung với nhau trong các chùa ở thành thị
cũng như ở thôn quê. Trong tất cả các xứ Phật Giáo, các
thầy phải sống độc thân, ngoại trừ vài phái ở Nhựt
Bổn và Tây Tạng.
Thầy tu trong Phật
Giáo không được phép có tài sản riêng, ngoại trừ một
chút ít cần yếu. Các Thầy có quyền sử dụng tài sản của
Giáo Hội, do tín đồ chung đậu. Do đó nhiều chùa, nhứt
là các chùa danh tiếng, có ruộng đất dùng huê lợi để
tu bổ. Thầy Tỳ Khưu và chùa đều do tín đồ bảo trợ.
Họ dâng cúng tất cả mọi vật cần thiết.
Trước kia, các
thầy Tỳ Khưu đi trì bình khất thực từ nhà này sang nhà
khác. Với sự thay đổi tình trạng kinh tế tân thời, thủ
tục ấy dần dần không còn áp dụng. Tuy nhiên cổ tục hành
khất xin ăn, nhất là ở các xứ Phật Giáo Nguyên Thủy như
Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Cam Bốt, v.v... vẫn còn duy
trì.
Phận sự của
nhà sư ở thành thị và thôn quê có hai:
1. Ðể một
phần thì giờ học đạo, xem kinh và thiền định cho sự tiến
bộ về mặt trí tuệ và tinh thần.
2. Dạy các trẻ
em đến xin học tại chùa; truyền giới và dạy đạo cho tín
đồ; tu bổ chùa chiền; thuyết pháp trong những ngày thiện
tín tựu hội cúng Phật; tổ chức các ngày lễ; sáng lập
đoàn thể cứu tế xã hội. Cũng có nhà sư ở rừng, không
liên lạc với xã hội, chỉ lo trau dồi thiền định.
Trong kinh Sigàla Sutta
(kinh Thiện Sanh), thuộc bộ Trường A Hàm (Digha-Nikaya) có chỉ
rõ rằng Ðức Phật quý trọng đời sống của người cư
sĩ, của gia đình họ và mối liên quan mật thiết của họ
đối với xã hội.
Một thanh niên
tên Sigàla giữ phận sự lễ bái sáu hướng Ðông, Nam, Tây,
Bắc, Trên, Dưới, do lời trối của người cha trước giờ
lâm chung. Ðức Phật bảo chàng thanh niên ấy rằng kỷ luật
cao thượng của Như Lai (Ariyassa Vinaya) định nghĩa sáu hướng
ấy khác nhau: Hướng Ðông là cha mẹ; hướng Nam là thầy
tổ; hướng Tây là vợ con; hướng Bắc là bằng hữu, thân
quyến; hướng Dưới là người giúp việc; hướng Trên là
các bực Sa Môn. Ðức Phật thêm rằng con người phải tôn
trọng sáu hướng ấy. Danh từ tôn trọng (Namasseyya) dùng nơi
đây rất đầy ý nghĩa, bởi khi tôn trọng một vật gì, vật
ấy có tính cách thiêng liêng, cao thượng, đáng quý trọng,
đáng tôn thờ. Sáu hạng người trong gia đình và xã hội,
như đã kể trên, theo Phật Giáo, đều được xem như "không
thể phạm đến được", đáng kính, đáng trọng. Vậy phải
tôn kính sáu hạng người ấy như thế nào? Ðức Phật dạy
phải làm tròn phận sự đối với họ và Ngài có chỉ dạy
cho chàng Sigãla như vầy:
1. Cha mẹ
phải được con tôn thờ kính trọng như Brahma - trời Phạm
Thiên (Brahmàti Màtà pitaro). Danh từ Brahma theo ín ngưỡng của
người Ấn Ðộ là Ðấng Thiêng Liêng cao cả. Ðức Phật
dạy kẻ làm con phải tôn kính cha mẹ như Ðấng Thiêng Liêng
tối thượng, nên ngày nay trong gia đình Phật Giáo, kẻ làm
con hết lòng thờ kính cha mẹ từ mai đến chiều. Họ tự
thấy phải giữ tròn bổn phận đối với cha mẹ: nhứt là
phụng dưỡng chu đáo trong lúc tuổi già; cúng dường mọi
vật cần yếu đến cha mẹ; gìn giữ danh giá cho gia đình;
duy trì sự nghiệp của cha mẹ: làm mọi việc từ thiện,
bố thí chẩn bần để tạo ra phước lành hồi hướng cho
cha mẹ chi cha mẹ đã quá cố.
Bổn phận của
cha mẹ đối với con là: dạy dỗ xa lánh con đường ác; dìu
dắt con làm các việc lành; rèn luyện con theo một nền giáo
dục cao thượng, đính hôn cho con nơi gia đình đạo đức
và chia của cho con đúng giờ phút, phải lẽ.
2. Phận
sự giữa thầy và trò. - Trò phải tôn kính và vâng lời thầy.
Nếu cần, phải phụng dưỡng thầy; siêng năng học tập.
Thầy phải hết
lòng dạy dỗ và rèn luyện trò cho ra người xứng đáng; gởi
gắm trò cho các bạn thân giao của mình và cố gắng lo cho
trò có công ăn việc làm vững chắc.
3. Phận
sự của vợ chồng - Mối chung tình giữa chồng và vợ được
xem như một giềng đạo thiêng liêng, như vật phải tôn thờ,
gọi là Sadàra Brahmacariya, nghĩa là "đời sống chúng của
vợ chồng có tính cách thiêng liêng". Nên lưu ý một lần
nữa danh từ Brahma dùng nơi đây chỉ rõ sự kính trọng cao
cả phải được thể hiện trong mối chung tình của đôi vợ
chồng. Chồng và vợ phải trung thành, kính trọng lẫn nhau,
hết lòng nâng đỡ nhau. Và phận sự đối đãi nhau là chồng
phải luôn luôn tôn trọng vợ, phải kính nể vợ, phải thương
yêu và trung thành với vợ, phải nâng cao địa vị và chiều
theo sở thích của vợ, phải làm vui lòng vợ, mua sắm đồ
trang sức làm quà tặng cho vợ. (Ðức Phật không quên nêu
ra những món quà mà người chồng phải tặng cho vợ vì Ngài
thấu rõ và dung thông những tình cảm thâm trọng của người
thế tục).
Người vợ phải
chăm nom gia đạo; niềm nở tiếp đón những người khách,
người bạn, bà con thân quyến của chồng và người giúp
việc cho mình. Phải thương mến chồng, giữ tiết hạnh với
chồng. Phải bảo toàn của cải. Phải khôn ngoan và can đảm
trong mọi hoạt động.
4. Mối liên
hệ giữa bằng hữu thân quyến và xóm riềng. - Phải niềm
nở đón tiếp nhau. Phải hết lòng giúp đỡ nhau. Phải dùng
lời khả ái và lễ độ. Phải chung lo hạnh phúc cho nhau,
đối đãi ngang nhau, không gây gổ; giúp nhau trong cơn hoạn
nạn.
5. Phận
sự của người chủ và người làm công. - người chủ nhà
cũng như kẻ thuê người giúp việc có nhiều phận sự đối
với gia nhơn và người làm công: là không giao phó công việc
nào không hạp với tài cán và khả năng cho người dưới
tay mình. Phải trả thù lao cho xứng đáng. Phải săn sóc và
cung cấp thuốc men, khi người làm công mình có bịnh. Phải
tặng quà và tiền thưởgn trong những dịp quan trọng.
Ðối lại, người
gia nhơn và người giúp việc phải cần mẫn siêng năng, thật
thà, chiều chuộng. Không dối gạt, không gian tham. Phải mẫn
cán trong việc làm.
6. Mối liên
hệ giữa các bậc tu hành và người cư sĩ. - Với tấm lòng
nhân từ và kính trọng, người cư sĩ luôn luôn lưu ý, cung
cấp những vật dụng cần thiết cho các bậc xuất gia, cho
các thầy đạo sĩ.
Các bậc tu hành
phải có lòng từ bi, chỉ dạy những điều hiểu biết, những
lời giáo huấn cho người cư sĩ; dìu dắt họ trên con đường
lành, khuyên nhủ họ xa lánh điều ác.
Ðời sống của
người cư sĩ, trong gia đình cũng như ngoài xã hôi, đã vạch
sẵn trong quy tắc cao thượng của Bát Chánh Ðạo và cũng
được khép trong khuôn khổ sinh hoạt của người Phật tử
theo huấn từ vừa kể trên của Ðức Phật.
Chính vì nếp
sống cao thượng của người cư sĩ Phật tử mà trong bộ
kinh Tạp a Hàm (Samyutta-Nikaya tr. 234), có ghi chép rằng Ðức
Vua Trời Ðế Thích (Sakka) có tuyên bố rằng chẳng những
Ngài tôn kính các bậc xuất gia đương sống một cuộc đời
thánh nhơn, mà Ngài cũng tôn kính những người cư sĩ (Upasaka)
đương làm những việc từ thiện, sống theo đạo đức và
chăm lo phụng sự gia đình một cách đoan chính.
Muốn làm một
Phật tử không cần phải tổ chức một buổi lễ chi cả.
Cũng không cần phải rửa tội. (Nhưng muốn làm một vị Tỳ
Khưu, một đoàn viên trong Giáo Hội Tăng Già, phải thuần
thục giới luật và được giáo hóa một thời gian lâu). Biết
giáo lý của Ðức Phật, biết tin chắc giáo lý ấy là con
đường chánh đạo và vui lòng cố gắng thực hành, người
ấy là một phần tử.
Nhưng theo một
cổ lệ còn áp dụng trong các xứ Phật Giáo, người được
xem như một Phật tử là người đã quy y Tam Bảo và thọ
trì Ngũ Giới (Panca sìla) là không sát sanh, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không dùng vật có chất say.
Trước một tượng Phật hoặc trước một Bảo Tháp Xá Lợi,
người thọ Quy Giới quỳ chắp tay cung kính lập lại lời
truyền Quy Giới của một vị Tỳ Khưu. Ngoài ra không còn
lễ gì khác nữa. Phật Giáo là một con đường đời. Ðiều
quan trọng là thực hành Bát Chánh Ðạo. Nhưng dĩ nhiên, trong
các xứ Phật Giáo cũng có những buổi lễ giản dị tốt
đẹp. Trong mỗi chùa thường có một ngôi Bảo Tháp (stùpa
hay dàgàba) hình mô vòng cung, trong ấy có tôn thờ Xá Lợi
của Ðức Phật, một cây Bồ Ðề (Bodhi hay Bo) kỷ niệm cội
Bồ Ðề tại Bồ Ðề Ðạo tràng (Buddhagaya), nơi Ðức Phật
thành đạo và một ngôi chùa thờ tượng Phật (Patimà ghara).
Ba vật ấy được tôn trọng theo thứ tự nói trên. Thiện
tín thường đến chùa trong những ngày mồng một, mồng tám,
rằm và hai mươi ba. Họ quỳ trước một trong ba chỗ thờ
nói trên, thọ Tam Quy, Ngũ Giới rồi thắp đèn, dâng bông,
dâng hương; đọc bài cúng Tam Bảo (Gàthà) ca tụng an đức
Phật, Pháp, Tăng. Ðó không phải là kinh cầu nguyện như các
thần giáo, mà chỉ là những lời tán dương và tưởng niệm
Ðức Phật đã truyền dạy con đường chân chánh cho đời.
kế đó họ vào giảng đường nghe thuyết pháp.
Ðến ngày rằm
và mồng một, cả ngàn Phật tử thọ Bát Quan Trai (Uposatha-sìla
hay Atthanga-sìla) là: không sát sanh, không trộm cắp, không
thông dâm (vợ chồng cữ ăn nằm với nhau), không nói dối,
không uống vật có chất say, không ăn chơm chiều, không ngồi
nằm trên giường cao, chiếu rộng, không múa hát, trửng giỡn,
không đeo tràng hoa, không thoa dầu thơm. Thường, trọn ngày
và đêm đó họ ở tại chùa, tham thiền, nghe pháp, xem kinh,
luận đạo.
Lễ lớn nhứt
nhằm ngày trăng tròn tháng Năm dương lịch (rằm tháng Tư
âm lịch), là lễ Vesak, kỷ niệm ngày Ðản Sanh, Thành Ðạo
và Ðại Niết Bàn của Ðức Phật -- thường gọi là Lễ
Tam Hợp. Ngày ấy, nhà phố, chùa chiền, đường sá đều
có treo cờ Phật Giáo sáu màu, bông hoa và đèn. Cả muôn ngàn
Phật tử, nam nữ, trẻ em đều quy tựu vào chùa. Cả trăm
quán cơm do các hội, các đoàn thể tổ chức đãi khách thập
phương đi hành hương lễ Phật. Một tinh thần bác ái, hào
hiệp, hòa đồng, thanh bình, vui vẻ tưng bừng bủa khắp trong
dân gian.
Phật Giáo không
có lễ "Rửa Tội". Nhưng khi một đứa trẻ ra đời, cha mẹ
bồng em vào chùa, gọi là ngày xuất hành, để em dưới chơn
tượng Phật, và thỉnh các nhà sư tụng kinh ban phước lành
cho em. Trước ngày đứa trẻ ra đời, người ta thỉnh các
Sư đến tụng kinh an lành, tạo phước cho người mẹ.
Các Sư trong Phật
Giáo không hành lễ trong đám cưới, vì sự cưới hỏi là
một lễ không phù hạp với nếp sống độc thân của các
bậc xuất gia. Nhưng nếu muốn cho nó có đôi chút tánh cách
tôn giáo, người ta thường mời các bạn thanh niên nam nữ
Phật tử đến tụng những bài kệ chúc lành. Các bậc xuất
gia không bao giờ tham dự lễ cưới. Tuy nhiên, trước hoặc
sau đôi ba ngày, gia chủ thường tổ chức lễ trai tăng cúng
dường đến các bậc phạm hạnh và trong dịp ấy một vị
Sư đứng ra giảng một thời Pháp, nhắc lại những lời huấn
từ của Ðức Phật và khuyên đôi tân hôn hãy chung sống
thuận hòa hầu lo xây đắp hạnh phúc gia đình.
Chư Sư lại ân
cần đến nơi có tang khó, để cầu kinh và hồi hướng phước
lành cho người quá vãng và giảng an ủi tang gia.
Khi có người
đau ốm, thân nhân thường thỉnh Chư tăng tụng kinh An Lành
(Paritta hay Pirti). Hai hoặc nhiều vị Tỳ Khưu, với một giọng
dịu dàng cảm động, tụng những bài kinh Pàli, cầu an, chúc
lành cho thiện nam tín nữ là thường sự trong xứ Phật Giáo.
Hầu hết các chùa, đôi khi có tổ chức lễ Cầu An công cộng
cho bá tánh. Những buổi lễ này có thể kéo dài liên tiếp
ngày đêm,trong một hai ngày hoặc trong một tuần lễ hoặc
lâu hơn.
Còn nhiều thứ
lễ và phong tục khác. Dù không cần yếu nhưng cũng có hiệu
lực làm thỏa mãn nguyện vọng và đức tín của người còn
kém sút về mặt trí tuệ và tinh thần, để nâng đỡ họ
trên đường đạo.
Những ai đã tin
tưởng rằng Phật Giáo chỉ lưu tâm đến lý tưởng cao siêu,
đến học thuyết đạo đức và triết lý siêu nhiên mà không
biết đến hạnh phúc xã hội và không màng đến sinh hoạt
kinh tế của dân gian, những người ấy đã hiểu lầm. Chú
trọng đến hạnh phúc của nhơn loại, Ngài cho rằng không
bao giờ có hạnh phúc ngoài một cuộc đời trong sạch căn
bản trên nguyên tố đạo đức và tinh thần. Và Ngài cũng
biết rằng rất khó mà gầy dựng được một cuộc đời
như thế nếu không có những điều kiện vật chất và xã
hội thuận lợi cho mình.
Phật Giáo không
xem sự ăn sung mặc sướng như một cứu cánh tuyệt đối;
nó chỉ là một phương tiện để tiến tới mục tiêu cao
đẹp và quý trọng hơn. Nhưng đó là một phương tiện cần
yếu, rất cần yếu để đạt một chủ đích cao thượng
hơn cho hạnh phúc con người. Bởi thế Phật Giáo nhìn nhận
phải có những điều kiện vật chất tối thiểu cần yếu
cho sự thành công về phương diện tinh thần; dù là một vị
Tỳ Khưu ở nơi cô tịch để hành thiền cũng vậy.
Ðức Phật không
tách rời những cấu hợp chằng chịt của đời sống ra khỏi
nội địa xã hội và kinh tế. Ngài xem như một, trong cục
diện tinh thần xã hội, kinh tế và chánh trị. Giáo Lý của
Ðức Phật về luân lý, tinh thần, triết học đã được
phổ thông nhưng ít người biết rõ, nhất là người phương
Tây, phần giáo lý về xã hội, kinh tế và chánh trị, mặc
dù Ðức Phật có đề cập rất nhiều đến những đề tài
ấy. Ai ai cũng có thể tìm gặp nhiều nơi trong Tam Tạng Pháp
Bảo. thí dụ như trong kinh:
Bài kinh Cakkavattisìhanàda
Sutta (Chuyển luân thánh vương Sư tử hống), kinh số 26 thuộc
bộ Trường A Hàm (Digha-Nikaya), có ghi rằng sự nghèo khổ
(Dàliddiya) là kết quả của sự bại hoại luân thường đạo
lý và tội ác như trộm cắp, gian tham, hiếp dâm, thú oán,
hung ác. Các nhà vua trong đời thượng cổ, cũng như các Chánh
Phủ hiện hữu diệt trừ những tội ác bằng hình phạt.
Trong kinh Kùtadanta-Sutta, cũng thuộc bộ Trường A Hàm (kinh
số 5, Cứu la đàn đầu), lại có ghi rằng mọi hình phạt
đều vô ích và không bao giờ có hiệu lực tuyệt trừ tội
lỗi. Trái lại, Ðức Phật khuyên nếu muốn cho con người
từ bỏ cái ác tính phạm tội phải cải thiện điều kiện
kinh tế của xã hội. Nên giúp giống và mọi vật liệu cần
thiết về canh nông cho tá điền, cho dân cày; giúp vốn cho
các thương gia và nghiệp đoàn; trả tiền thù lao thích đáng
cho lao công. Khi dân chúng được giúp phương tiện để làm
ra huê lợi đủ xài, thì họ vừa lòng, không âu lo phiền
muộn; dĩ nhiên xứ sở sẽ được thanh bình và không còn
trộm cướp, án mạng nữa.
Vì đó Ðức Phật
hằng nhắc nhở hàng cư sĩ nên thận trọng cố gắng cải
thiện nền kinh tế. Ðiều ấy dĩ nhiên không có nghĩa là
Ðức Phật chấp nhận cho mọi người tích trữ tiền của
với lòng tham lam, luyến ái, vì đó là trái với giáo lý căn
bản của Ngài. Ðức Phật cũng không chấp nhận bất cứ
phương tiện nào trong sự nuôi mạng. Có một vài nghề nghiệp,
như nghề đúc súng và buôn bán khí giới, Ðức Phật xem như
là nghề nuôi mạng tai hại.
Một người nọ,
tên Dìghajànu, ngày kia đến yết kiến và hỏi Ðức Phật:
"Bạch Ðức Thế Tôn, chúng con là hạng thường nhơn cư sĩ,
sống với gia đình vợ con, Ðức Thế Tôn có thể nào dạy
chúng con một phương pháp dẫn dắt chúng con đến nơi hạnh
phúc hiện tại và thiên đàng chăng?"
Ðức Phật cho
biết có 4 pháp đưa con người đến hạnh phúc trong đời
hiện tại:
1. Phải mẫn
cán và cương quyết, tận tâm và hăng hái trong nghề nghiệp,
bất cứ nghề nào, và phải thông thạo nghề ấy (Utthànasampàda).
2. Phải gìn giữ
lời lãi chính đáng làm ra do mồ hôi trán của mình (Àrakkhasampàda),
nghĩa là đừng để cho kẻ gian tham trộm cắp. Ðây là điều
thận trọng phải có do nơi tổ chức phức tạp của xã hội
thời xưa.
3. Phải có bạn
lành (Kalyànamitta), trung thành, học thức, đạo đức, quảng
đại, trí tuệ để giúp mình giữ vững con đường chơn chánh
và xa lánh nẻo tà.
4. Phải tiêu xài
cho có chừng mực, tùy theo huê lợi của mình; không phung phí;
không bỏn sẻn, nghĩa là chẳng nên tích trữ vì bón rít và
cũng chẳng nên buông thả xa hoa, hay nói cách khác là phải
sống cho vừa phải với tài sản sự nghiệp của mình (Samajìvikatà).
Kế đó Ðức Phật
chỉ dạy bốn đức đưa người cư sĩ đến nơi hạnh phúc
Thiên Ðàng:
1. Phải có đức
tin và tín nhiệm (Saddhà) nơi giá trị cao thượng của đạo
đức, tinh thần và trí tuệ.
2. Không sát sanh
hại vật, không trộm cắp, không lường gạt, không tà dâm,
không nói dối, không uống các vật say (Sìla).
3. Phải bố thí,
quảng đại, không tham luyến (Càga).
4. Phải khai thông
tuệ giác (Pannà) để tận diệt nguồn gốc của sự khổ
hầu tiến đến đạo quả Niết Bàn. (Phật ngôn trên đây
đã có ghi chép trong bộ Anguttara-nikàya, Tăng Nhất A Hàm, từ
trang 786).
Ðôi khi Ðức Phật
chỉ dạy tỷ mỷ về vấn đề tiết kiệm và tiêu dụng tiền
bạc. Như trong kinh Dìgha-Nikàya III, tr.1 15 (Trường A Hàm),
Ðức Phật dạy chàng thanh niên Sigàla nên truất ra một phần
tư (1/4) tiền huê lợi để tiêu xài hằng ngày; dành phân
nửa (1/2) để khuếch trương thương mãi và góc tư (1/4) còn
lại để ngừa sự bất trắc.
Kinh Anguttara-nikàya
(Tăng Nhất A Hàm), tr. 232-233, có ghi rằng một ngày kia Ðức
Phật có giảng cho ông Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika), vị triệu
phú gia, đệ tử trung thành của Ngài, đã lập một ngôi chùa
danh tiếng, là chùa Jetavana (Kỳ Viên) tại thành Sàvatthi (Xá
vệ), bốn điều hạnh phúc của người cư sĩ:
1. Hạnh phúc
thứ nhứt là sự toại hưởng một nền kinh tế vững chắc,
hoặc một tài sản dồi dào, tạo ra do những phương thế
công minh chánh trị (Atthi-sukha)
2. Hạnh phúc thứ
nhì là tiêu xài tự do cho mình, cho gia đình, cho bằng hữu
thân quyến mình và cho những việc phước thiện (Bhoga-sukha),
3. Hạnh phúc thứ
ba là không có nợ nần (Anana-sukha).
4. Hạnh phúc thứ
tư là sống một cuộc đời ngay thẳng, trong sạch, không tạo
ác bằng tư tưởng, lời nói và hành động (Anavajja-sukha).
Nên ghi rằng ba hình
thức hạnh phúc đầu tiên đều phát sanh do nguồn tài lợi
kinh tế. Nhân đó Ðức Phật nhắc nhở cho ông đại trưởng
giả rằng hạnh phúc vật chất và kinh tế không bằng một
phần mười sáu (1/16) của hạnh phúc tinh thần là hạnh phúc
tạo ra bởi một đời sống tinh khiết, lương thiện.
Xuyên qua những
từ huấn kể trên, chúng ta thấy Ðức Phật xem những tiện
nghi vật chất như một yếu kiện cho đời sống của nhơn
loại, nhưng Ngài không nhìn nhận sự tiến bộ như một sự
kiện thực tế, chắc thật, nếu sự tiến bộ ấy chỉ khuynh
hướng về vật chất mà thiếu nền tảng tinh thần và đạo
đức. Vừa khuyến khích sự tiến bộ vật chất, Phật Giáo
nhấn mạnh trên sự triển khai của bản tính đạo đức và
tinh thần, để kiến tạo một xã hội an vui, thanh bình và
mãn nguyện.
Ðức Phật chẳng
những dạy con người nên áp dụng chính sách bất bạo động
và hòa bình, Ngài lại còn thân hành ra giữa chiến trường
và trực tiếp can thiệp để trấn áp một trận giặc, lúc
hai dân tộc akya và Koliya xích mích nhau, đương dàn binh khai
chiến để giải quyết vấn đề sử dụng nguồn nước của
con sông Rohini. Và cũng nhờ lời hòa giải của Ðức Phật
mà vua Ajàtasattu (A Xà Thế) không xâm chiếm vương quốc của
dòng Vajji (Bạt kỳ).
Trong thời kỳ
Ðức Phật còn tại thế - cũng như hiện nay - có nhiều vị
vua cai trị bất công. Sưu thuế bị tăng lên quá đỗi và
hình phạt rất tàn ác. Dân chúng bị áp bức, bóc lột, tra
tấn, giết chóc. Ðức Phật vô cùng xót xa trước những sự
ngược đãi vô nhơn đạo ấy. Kinh Dhammapadatthakathà thuật
lại rằng Ðức Phật hằng lưu ý đến vấn đề tổ chức
một nền hành chánh nhơn đạo. Ý kiến của Ngài được thích
dụng trong quy chế xã hội, kinh tế và chánh trị trong thời
kỳ ấy. Ngài chỉ cho thấy rằng toàn cả một xứ bị suy
vong, đốn mạt và khốn khổ khi những người nắm vận mạng
quốc gia, như vua chúa, quần thần, quan lại quá đỗi tham
tàn và bất công. Muốn cho xứ sở được thanh bình thạnh
trị thì những người cầm quyền phải công minh, chánh trực.
Nguyên tắc thiết lập một chánh phủ công minh đã được
Ðức Phật giãi bày trong "Mười Phận Sự Của Nhà Vua" (Dasa-ràja-dhamma),
có ghi chép trong bộ chú giải Jàtaka I (Chuyện Tiền Thân),
tr. 260, 399, - II, tr. 400; - III, tr. 274, 320; - V, tr.119, 378. Danh
từ Vua (Ràja) khi xưa có thể định nghĩa là "Chánh Phủ" ngày
nay. Do đó những nhơn vật đứng ra lãnh trọng trách lèo lái
bất cứ con thuyền quốc gia nào, từ ông Quốc Trưởng, Thủ
Tướng, Tổng Trưởng, chuyên viên chánh trị, nghị viên lập
pháp, đến các công chức hành chánh, v.v... nên áp dụng "Mười
Phận Sự Của Nhà Vua":
1. Phận sự đầu
tiên là đức tính khoan dung, quảng đại, từ thiện. Vị quốc
Trưởng phải là người không tham tham, không luyến ái tiền
bạc của cải, mà phải sẵn sàng đem ra bồi đắp hạnh phúc
cho dân lành (Dàna).
2. Phải có hạnh
kiểm đạo đức cao thượng (Sìla) là không sát sanh, không
dối trá, không gian tham, không lợi dụng kẻ khác, không tà
dâm, không nói những điều hư ngụy, không uống vật có chất
say. Nghãi là ít nhất phải giữ Ngũ Giới.
3. Hy sinh tất
cả cho việc lợi ích cho dân (Pariccàga). Sẵn lòng hy sinh sự
sung sướng, tên tuổi, thanh danh và mạng sống cho quyền lợi
của dân.
4. Thanh liêm, chánh
trực (Ajjava). Không sợ áp lực và cũng không đặc biệt ưu
đãi một ai trong khi thi hành nhiệm vụ. Phải chân thật trong
ý muốn và không dối gạt quần chúng.
5. Dễ thương,
ôn hòa (Maddava). Phải có đức tánh ngọt ngòa, mềm dịu.
6. Khắc kỷ, nghiêm
túc trong thói quen (Tapa). Phải sống giản dị, không để bị
lôi cuốn trong xa xí. Phải biết mình.
7. Không ghen ghét,
không ác ý, không thù hằn (Akkodha). Không tích oán, hiềm thù
với ai cả.
8. Không bạo động
(Avihimsa). Chẳng những không làm hại ai, mà phải tích cực
biểu hiện hòa bình, cố tránh và ngăn ngừa chiến tranh cùng
tất cả những gì gây ra bạo động vè giết chóc.
9. Nhẫn nại,
tha thứ, châm chế, hiểu biết (Khanti). Phải có đủ khả
năng chịu đựng thử thách, khó khăn, nhục mạ và không giận.
10. Không chống
trả, không làm cho bế tắc (Avirodha). Nghĩa là không chống
lại ý muốn của dân, không ngăn cản một biện pháp nào
có thể đem lại hạnh phúc cho dân. Nói cách khác, phải một
mực hòa hợp với dân.
(Nên lưu ý rằng
Năm Quy tắc, gọi là Panchasìla trong chánh sách ngoại giao của
xứ Ấn Ðộ đều phù hạp với Ngũ Giới của Phật Giáo
mà xưa kia Hoàng Ðế A Dục (Asoka) cũng đã thực hiện trong
chánh sách cai trị của Ngài, trong thế kỷ thứ III, trước
Gia-tô).
Hạnh phúc thay
cho xứ nào được những nhơn vật có đức tánh cao thượng
như trên cai trị. Và đây không phải là một cuồng vọng,
bởi xưa kia đã có những nhà vua, như Hoàng Ðế A Dục của
xứ Ấn Ðộ, từng lập quốc theo tôn kiến của Ðức Phật.
Ðức Phật dạy:
"Chẳng bao giờ lấy thù hận mà rửa thù hận được. Thù
hận phải rửa bằng khoan hồng tha thứ. Ðây là chân lý bất
diệt". (kinh Pháp Cú I, tr. 5).
Cũng trong kinh
Pháp Cú XVII, tr.3, Ðức Phật dạy: "Phải thắng sự giận
bằng dung thứ, sự hung dữ bằng sự hiền từ, sự ích kỷ
bằng sự bố thí và sự nói dối bằng sự chân thật".
Con người không
bao giờ được hòa bình hạnh phúc khi họ còn mong muốn và
khao khát chinh phục, lấn áp người láng giềng của mình.
Ðức Phật dạy:
"Người thắng gây ra sự thù hận. Kẻ bại phải bị gian
khổ. Kẻ nào từ bỏ sự thắng, sự bại, sẽ được hạnh
phúc" (kinh Pháp Cú).
"Sự thắng duy
nhứt đem lại hòa bình và hạnh phúc là tự mình thắng mình.
Người ta có thể chiến thắng trong muôn ức trận giặc, nhưng
người nào khắc phục được mình, người ấy mới là người
địa thắng duy nhứt". (kinh Pháp Cú VIII, tr. 4).
Thật là một
điều an ủi, một niềm hy vọng mà tin tưởng rằng trong hiện
tại được ra đời ít nhứt một vị Chúa Tể, uy danh trong
lịch sử, có can đảm, có tín nhiệm, có sáng kiến thi hành
chánh sách bất bạo động, hòa bình, bác ái, đối nội cũng
như đối ngoại, trên một lãnh thổ mênh mông, như Hoàng Ðế
A Dục của xứ Ấn Ðộ, một tín đồ Phật Giáo trong thế
kỷ thứ III, trước Gia-tô, đã có tên là "Người yêu mến
của Chư Thiên".
Trước tiên, Hoàng
Ðế A Dục noi gương vua cha (Bindusàra) và nội tổ (Chandragupta)
nuôi mộng làm bá chủ trên toàn cõi Ấn Ðộ. Ngày kia Vua
a Dục cất đại hùng binh đi chinh phục xứ Kalinga, để xáp
nhập xứ này vào vương quốc. Muốn ức người, lớp chết,
lớp bị thương, lớp bị bắt tra tấn và cầm tù. Nhưng sau
lại, Hoàng Ðế A Dục trở thành một Phật tử và tự thay
đổi hoàn toàn do nhờ giáo lý của Ðức Phật. Một trong
những chỉ dụ danh tiếng khắc trên đá (Chỉ dụ số XIII)
hiện còn đọc được, Hoàng Ðế A Dục nhắc lại sự chinh
phục xứ Kalinga, công bố sự hối hận của Ngài và khi nhớ
đến sự tàn sát dân xứ Kalinga, Ngài rất đau lòng và hứa
từ đó không còn rút gươm ra để chinh phục nữa và mong
cho tất cả chúng sanh áp dụng chánh sách bất bạo động,
khắc kỷ, vị tha, tịnh tâm, hiền từ. "Người yêu mến của
Chư Thiên" (A Dục) xem chánh sách này như một chiến thắng
cao cả, một chiến thắng do lòng "Sùng Ðạo" (Dhamma-vijaya).
Chẳng những Vua A Dục từ bỏ chiến tranh, mà ngài còn tỏ
ý muốn cho con cháu Ngài đừng luống công đi xâm chiếm nữa,
để rảnh rang lo công cuộc "xâm chiếm do lòng Sùng Ðạo".
Ðiều ấy rất cao quý cho nhơn loại và Chư Thiên.
Ðây là một gương
duy nhứt trong lịch sử loài người. Một người chinh phục
đại thắng, đương nắm cả quyền lực trong tay, còn đầy
sức khỏe để mở rộng bờ cõi thêm nữa, nhưng lại từ
bỏ chiến tranh, từ bỏ bạo động trở về với hòa bình
và bất bạo động.
Thật là một
bài học quý giá cho thế giới hiện tại. Vị Hoàng Ðế của
một đại vương quốc công khai từ bỏ chiến tranh và bạo
động để áp dụng chánh sách hòa bình và bất bạo động.
Lịch sử cho biết rằng không có một vị vương bá láng giềng
nào thừa cơ hội lợi dụng chánh sách Sùng Ðạo của Hoàng
Ðế A Dục, cử binh khai chiến với Ngài, và trải qua triều
đại ấy không có một cuộc khởi loạn mưu phản nào cả.
Trái lại cả xứ được toại hưởng hòa bình và dường
như các xứ độc lập láng giềng đều chấp thuận sự cai
trị khoan hồng của Hoàng Ðế A Dục.
Phật Giáo chủ
trương tổ chức một xã hội không nhìn nhận sự tranh đấu
phá hoại để giành quyền, một xã hội an ninh, thanh bình,
không người thắng cũng không ai bại, một xã hội mà mọi
sự ngược đãi kẻ vô tội đều bị mãnh liệt tố cáo,
một xã hội chỉ biết tôn kính người nào tự thắng phục
được mình và không kính trọng bất cứ ai chiến thắng cả
muôn triệu người bằng khí giới và kinh tế, một xã hội
biết đem tình thân hữu rưa rhận thù, biết lấy lòng từ
thiện trả lại sự hung ác, một xã hội mà sự thù nghịch,
sự ganh tỵ, sự hiểm độc, sự tham lam không thể đầu độc
được tinh thần dân chúng. Nơi đó thương xót bi mẫn sẽ
là động cơ của hành động; nơi đó tất cả chúng sanh luôn
cả côn trùng vi tế sẽ được đối đãi công bình, được
kính trọng, thương mến, một xã hội thanh bình, huynh đệ
hòa hợp trong một thế giới mà mọi người hài lòng với
những phương tiện sinh sống thích hợp và đời sống hướng
về mục đích cứu cánh cao thượng, để đạt chân lý cùng
tột, Niết Bàn.