ÐOÀN SINH
VIÊN PHẬT TỬ SÀI GÒN
ÐẤU TRANH
CHO TỰ DO TÔN GIÁO (1963)
Lương
Hữu Ðịnh
Năm
1963, sau khi hay tin hòa thượng Thích Quảng Ðức đã tự thiêu
để bảo vệ chánh pháp, toàn thể các giới ở trong nước,
nhất là giới trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh, Phật
tử hay không phải Phật tử, đã sôi nổi, ồ ạt đứng lên
tham gia tích cực vào phong trào chống chính sách kỳ thị tôn
giáo. Ðộng cơ của sự tham gia này có nhiều, nhưng riêng
đối với tôi, thì khi tham gia vào sự kiện này, qua Ðoàn
Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn (SVPTS) thời ấy, thì động lực
duy nhất là đòi hỏi tự do tôn giáo. Tôi chỉ xin trình bày
các sự kiện dưới con mắt chủ quan của tôi, còn việc đánh
giá đúng sai sẽ không nói tới.
1.
Sinh viên và Phật tử:
Gia
đình tôi vốn theo đạo Phật, nên thời thơ ấu của tôi
đã đậm mùi khói hương, kinh kệ. Cứ mỗi buổi chiều, khoảng
5 giờ bà ngoại tôi và bà dì tôi lại lên một thời kinh
(vì mẹ tôi mất khi tôi mới lên bốn tuổi). Dì tôi tụng
kinh gõ mõ, bà ngoại tôi ngồi lim dim lần tràng hạt. Những
ngày lễ, tết, tôi được theo bà lên chùa. Hình ảnh những
ngôi chùa to, những pho tượng đẹp, những tu sĩ trang nghiêm
và đáng kính, đã trở thành quen thuộc với tôi. Ðến độ
bây giờ, chỉ cần nghe tiếng chuông chùa từ xa vọng lại,
tôi lại nhớ thấy cảnh kẻ ra người vào tấp nập, miệng
luôn chào nhau "A Di Ðà Phật".
Khi
ấy đạo Phật đối với tôi chỉ là những nghi lễ dành
cho người lớn, một cách sống của người già. Ðối với
tuổi trẻ thì chùa là loại thắng cảnh để rủ nhau đi chơi
vào những ngày nghỉ, kiểu như "hôm qua em đi chùa Hương,
hoa cỏ còn mờ hơi sương" để rồi "em không dám đi mau, sợ
chàng chê hấp tấp, số gian nan không giàu"; Còn đối với
con nít như tôi hồi đó, thì đức Phật là đấng ban lộc
oản chuối, xôi chè. Cái quan niệm ấy tôi giữ cho tới thời
kỳ đi vào đại học, là sinh viên. Khi ấy, đến với Ðoàn
Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn, tôi chỉ muốn tìm được những
người bạn cùng trang lứa, cùng làm việc xã hội: đi thăm
các cô nhi viện, các viện dưỡng lão, các làng tình thương:
và khi xảy ra thiên tai bão lụt, thì đi quyên góp tiền bạc,
quần áo, đi cứu trợ. Việc lễ Phật chỉ là một nghi lễ
mở đầu hay chấm dứt cho một buổi sinh hoạt.
2.
Sinh viên và tự do tín ngưỡng:
Dần
dần, việc đi lễ mỗi sáng Chủ nhật trở thành thói quen:
sáng Chủ nhật được nghỉ học, ở nhà buồn, đi lễ cho
vui. Khi ấy ở chùa Xá Lợi, sau mỗi khóa lễ từ 8 giờ tới
9 giờ, là có một lớp giáo lý ở giảng đường, từ 9 giờ
tới 11 giờ. Về sớm cũng chẳng có việc gì làm, tôi vào
dự nghe. Từ từ những bài giảng của đức Thích Ca đến
với tôi: Tứ Diệu Ðế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chánh Ðạo…Nhất
là khi ấy tôi lại học đại học Văn khoa, trường Cao Ðẳng
Phật học, được giới thiệu các vấn đề triết học, tôn
giáo, triết Ðông, triết Tây, nên tôi càng tin tưởng hơn
ở một tôn giáo đã có lịch sử 2.500 năm. Tôi có được
biết là ông Diệm theo đạo Thiên Chúa. Ông tin tưởng ở
những người Công giáo hơn, người Công giáo được ưu đãi
hơn. Nhưng chưa có gì lộ liễu, cho tới đầu năm 1963. Tháng
tư năm ấy, ông Diệm tuyên bố không thừa nhận Phật Ðản
là ngày lễ chính thức và không cho phép treo cờ tôn giáo
ngoài phạm vi cơ sở tôn giáo, đúng vào dịp sắp tới lễ
Phật Ðản. Cuộc tranh đấu của Phật giáo bắt đầu, đòi
bình đẳng tôn giáo. Còn đối với tôi, đó là đòi tự do
tín ngưỡng, một trong những quyền căn bản của con người.
Tôi chỉ còn nhớ được vài sự kiện chính:
Ngày
08.05.1963, đêm trước Phật Ðản, tại Huế, các đồng bào
Phật tử tụ tập trước đài phát thanh để đợi nghe phát
đi bài thuyết pháp của thầy Trí Quang đã được ghi âm từ
buổi sáng. Nhưng bài ấy đã không được phát thanh, có thể
là vì trong đó Thầy đòi treo cờ Phật giáo. Ðồng bào Phật
tử tụ tập càng lúc càng đông, chính quyền Huế cho xe tăng
ra đàn áp. Ðồng bào không chịu giải tán, kết quả có 8
người bị xe tăng cán chết. Những tấm hình chụp được
gửi đi các nơi, mọi người phẫn uất.
Ngày
25.05, Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập
để lãnh đạo cuộc tranh đấu đòi tự do tôn giáo. Nguyên
tắc tranh đấu là bất bạo động: chỉ tổ chức những buổi
thuyết pháp, tuyệt thực, biểu tình, phổ biến thông tin…Ðoàn
SVPTS đặc biệt đóng góp vào công việc thông tin trong giới
học sinh, sinh viên, để mọi người biết rõ sự thực, vì
khi ấy chính quyền miền nam kiểm duyệt chặc chẽ báo chí,
chỉ đưa ra những tin tức có lợi cho Nhà nước.
Ngày
11.06 Hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu. Một hình thức
tranh đấu đặc biệt của Phật giáo để bảo vệ chánh pháp.
Ngày
20.08 chính quyền miền Nam bắt đầu một cuộc bắt bớ rộng
khắp, đầu tiên là các tăng ni ở trong chùa, sau tới các
Phật tử ở nhà. Nhiều Ðoàn viên SVPTS đã bị bắt vào dịp
này, trong đó có tôi. Ðầu tiên chúng tôi bị tạm giữ ở
Tổng nha cảnh sát đô thành để lấy lời khai. Vì chẳng
có gì phải dấu diếm , nên việc lấy cung rất nhanh. Sau đó
chúng tôi được đưa qua trại Lê Văn Duyệt, gọi là để
học tập, cho tới ngày 1.11 Ðối với chúng tôi, những ngày
tháng ở trại LVD chỉ lưu lại những kỷ niệm vui nhiều
hơn là buồn.
3.
Bi, Trí và Dũng:
Nhìn
lại thời kỳ sinh hoạt với Ðoàn SVPHS và nhất là qua cuộc
tranh đấu cho tự do tôn giáo, tôi thấy rõ 3 giai đoạn thể
hiện ba mức độ mà tôi đã đến với Ðoàn. Ðầu tiên chỉ
là một ước muốn được đóng góp một cái gì đó cho xã
hội, cho những người nghèo khổ, vì biết riêng mình chẳng
làm được gì, nên tôi đã đến với người bạn cùng ước
mơ ấy. Ðó là Bi.
Rồi
trong thời gian học ở Ðại học Văn khoa và trường Cao đẳng
Phật học, tôi được biết về các vấn đề nhân sinh quan,
vũ trụ quan, bản thể luận, cũng như các hệ thống triết
học nhằm giải quyết những vấn đề căn bản ấy. Nên khi
theo các lớp giáo lý Phật giáo, tôi thấy đó là cả một
hệ thống triết học toàn diện, chứ không chỉ là những
nghi thức trong đời sống hằng ngày. Theo Phật không chỉ
là tụng kinh, gõ mõ, lễ Phật ăn chay…dành cho ông già bà
cả hay giới tăng sĩ, mà còn là cả một quan niệm sống,
một cách sống lành dành cho giới trẻ, giới trí thức; càng
biết nhiều càng say mê, đó là Trí.
Còn
dũng thì thật là khó khăn. Dũng không phải là khỏe mạnh
để đi đánh nhau với người khác, mà dũng là sức mạnh
để tự thắng mình. Ngồi yên đó để cho bị đánh đập,
bị giam cầm, nhịn đói để biểu lộ sự phản đối, tự
thiêu để cảnh tỉnh. Tôi nhìn hình ảnh Hòa thượng Thích
Quảng Ðức ngồi giữa ngọn lửa bốc lên…Người ta nói
trái tim của Hòa Thượng không cháy vì khi ấy tâm trí ngài
tập trung về trái tim với ước nguyện cầu cho nhà cầm quyền
thức tỉnh, cầu cho Phật giáo đồ mau qua cơn pháp nạn.
Kết
luận:
Thì
ra nếu chỉ hiểu Phật giáo qua các biểu hiện ở bên ngoài
thì dễ hiểu lầm Phật giáo. Nếu chỉ tụng kinh và y kinh
chú giải, thì dễ oan tam thế Phật lắm. Còn có vị thiền
sư chỉ giác ngộ cho ông thầy chẻ pho tượng Phật bằng
gỗ, bỏ vào đống lửa để sưởi ấm một đêm giá lạnh,
tuyết rơi trong hang đá. Tìm trong kinh không thấy, tìm trong
ảnh tượng lại càng bị trói buộc. Vậy mà khi đi vào đời,
tới với người nghèo khổ, những lúc bản thân hay gia đình
gặp khó khăn, hoạn nạn, thì lời dạy đức Thế Tôn lại
vang lên, chỉ đường giải thoát. Người ta đã nói về đạo
Phật cho giới cư sĩ, cho giới trẻ, cho ngày nay. Khi biết
khế lý và khế cơ, thì Phật giáo sẽ là chân lý của mọi
người, mọi thời đại. Sau năm 1964, tôi hết là sinh viên;
và cũng vì bị lôi cuốn theo dòng đời, tôi đã rời Ðoàn
SVPTS, chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau, nhưng chắc chắn
là ở bất cứ nơi nào, chúng tôi vẫn nhớ đến nhau vì lòng
cùng hướng về một đấng Từ Phụ.
Nguồn
Tài Liệu: Tuần báo Giác ngộ, số 111, 16.05.1998