PHÙ ĐỔNG
63
(Để
nhớ tất cả những vị khách bất đắc dĩ của Hội Trường
Nha Công An Trung Nguyên Trung Phần kể từ sáng ngày 21.8.1963)
Hoàng
Nguyên Nhuận
Qua
cuộc đấu tranh chống lại chế độ nhà Ngô năm 1963, Phật
giáo vùng đứng dậy như một Thánh Gióng, một Thạch Sanh
để chống lại một chế độ đã nhân danh tư cách và quyền
lợi ý thức hệ để xâm phạm và chà đạp những quyền
căn bản và truyền thống của đồng bào đồng loại.
Biến
cố nầy cũng đẩy Phật giáo Việt Nam vào vận thăng trầm
chung của đất nước đang ở vào thời cao điểm cùng tắc
biến của Chiến Tranh Lạnh.
Biến
cố nầy thường được sử sách nhắc tới nhiều cách khác
nhau như “vụ Đài Phát Thanh Huế”, “vụ cờ Phật Giáo”,
“phong trào Phật giáo chống chính quyền”, “vụ Phật Đản
63”.v.v... Và sử sách cho đến bây giờ vẫn chưa đồng ý
về một vài điểm như lệnh cấm treo cờ Phật giáo, “bài
diễn văn” của Thượng Tọa Trí Quang trong lễ Phật Đản
1963, cuộc biểu tình tại Đài Phát Thanh Huế đêm Phật Đản,
thỏa hiệp giửa chính quyền và Phật giáo sau vụ Đài Phát
Thanh Huế, Hoa Kỳ và biến cố 1963, kế hoạch Nước Lũ 20.8,
việc Thượng Tọa Trí Quang tỵ nạn chính trị trong Tòa Đại
Sứ Mỹ, Phật giáo và cách mạng 1.11.
Vì
mọi chuyện xảy ra đều do trùng trùng duyên khởi, vì người
ta thường nhớ những gì “đáng” nhớ, vì ngôn từ có thể
bộc bạch mà cũng có thể ngụy trang thực tại nên tham vọng
xác quyết một sự thật khách quan chỉ là tham vọng bắt
lươn đầu đuôi. Lão Tử đã nhắc nhở điều đó khi nói
về “đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường
danh”. Một đôi người vẫn tin vào các sử liệu chính thức
là các hồ sơ công văn đã - hoặc sẽ dần dần, được bạch
hóa. Nhưng cứ xem qua một vài ví dụ như Pentagon Papers, hay
Before The Fall của William Safire (1), In Retrospect của MacNamara
(2) mới thấy công văn hay ý kiến công khai chính thức của
người chủ động trong cuộc chưa hẳn đã rành rọt khúc
chiết như hai với hai là bốn.
Sự
thật trước tiên là điều để mà sống với chứ không phải
là điều để mà nói về. Truyền đạt hay cảm thông sự
thật đó với người khác là chuyện đến sau, tùy cơ duyên
người nói người nghe. Những điều được ghi lại sau đây
vẫn còn thiếu sót, đã hẳn. Khác biệt duy nhất - nếu có,
chính là chỗ điều ghi lại ở đây đã được tẩm bằng
máu, nước mắt, nụ cười của kẻ đã chấp nhận dấn thân
vào biến cố đó như một cách trả nợ đời, một cách giải
nghiệp.
LÁ
CỜ CHỈ LÀ MIẾNG VẢI KHÔNG ĐÁNG BA XU
Michael
MacLear gọi Huế là thánh địa của Phật giáo Việt Nam như
Mecca là thánh địa của Hồi giáo hay Vatican là thánh địa
của Kitô giáo (3). Huế là cái nôi và là trụ sở của Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam thành lập năm 1950 do sự hợp nhất
của Phật giáo Bắc, Trung, Nam.
Nguyện
vọng của Phật giáo bấy giờ là nhất thống tổ chức để
có thể điều hợp một cách hiệu quả hơn các Phật sự
của tín đồ toàn quốc trong một tình thế đang có nhiều
chuyển biến. Nhưng luật pháp không cho phép nguyện vọng đó
thành tựu vì Dụ số 10 do Bảo Đại ban hành năm 1950 chỉ
mặc nhiên thừa nhận một tôn giáo duy nhất ở Việt Nam là
Kitô giáo Vatican dù Kitô giáo ở đây cũng chỉ là một chi
nhánh của Kitô giáo Pháp do Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp
trực tiếp điều hành mãi đến năm 1960 mới được thay thế
bằng Hội Đồng Giám Mục được Vatican khai sinh để quản
trị Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam. Theo tinh thần đó,
Việt Nam không có một tôn giáo nào đúng nghĩa cả, trừ Kitô
giáo. Phật giáo cũng như Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo đều
chỉ có tư cách pháp nhân của hiệp hội, tương tự như hội
đua ngựa, hội thể thao, hội tương tế... Điều nầy giải
thích tại sao khi đã hợp nhất rồi Phật Giáo Việt Nam vẫn
phải núp dưới cái tên Tổng Hội Phật Giáo chứ không thể
xưng là Giáo Hội Phật Giáo, chưa kể một khó khăn khác là
bất cứ lúc nào chính quyền có thể cấm dùng luôn hai chữ
Phật Giáo và bắt phải gọi là Phật Học mới chấp nhận
cho lập hội.
Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam đặt trụ sở trung ương tại chùa
Từ Đàm Huế và quyết định lấy cờ Phật Giáo quốc tế
làm cờ của Phật giáo Việt Nam. Miếng vải ngủ sắc nầy
quả đã ấp ủ nguyện vọng thâm trầm của Phật giáo trong
giai đoạn đó là thoát khỏi những áp lực tôn chính nặng
nề do ngoại nhân áp đặt để được tồn tại như một
tôn giáo Việt Nam, trước mắt là hủy bỏ những ràng buộc
kỳ thị bất công của Dụ số 10.
Huế
có hai cuộc lễ quần chúng lớn lao là lễ Phật Đản và
ngày cúng âm hồn 23 tháng Năm âm lịch - thường được gọi
là ngày thất thủ kinh đô, trong đó dân Huế đã dùng tín
ngưỡng để kỷ niệm ngày độc lập quốc gia bị bức tử
khi Pháp đánh chiếm thủ đô Huế.
Theo
thông lệ hàng năm, đến ngày Phật Đản các tư gia đều
treo cờ Phật giáo, có nơi lập bàn thờ trước nhà hay những
nơi công cộng như ngã ba, ngã tư đường hay các công viên
công trường.
Năm
1963, Đài Phát Thanh Huế cũng dành cho Phật giáo mấy chương
trình buổi tối để kỷ niệm Phật Đản. Phụ trách buổi
phát thanh Phật giáo đêm 6.5 là Gia Đình Phật Tử, đêm 7.5
là Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế, và đêm 8.5 hay đêm Phật
Đản do chính Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần, ngoài phần
tin tức Phật sự, chương trình thường cho phát thanh lại
phần ghi âm buổi lễ Phật Đản chính thức hồi trưa.
Chương
trình Phật Đản 1963 còn có lễ rước Phật từ Chùa Diệu
Đế về Chùa Từ Đàm để cử hành lễ chính thức. Chịu
trách nhiệm chung về buổi lễ Phật Đản 1963 tại Huế là
Thượng Tọa Trí Quang, Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Trung
Phần, trực tiếp chịu trách nhiệm cuộc rước Phật là Thượng
Tọa Mật Hiển mà Phật tử thường gọi là Ôn Trúc Lâm (4).
Trước
lễ Phật Đản, các tỉnh thị toàn quốc đều nhận được
công điện số 9195 ngày 6.5.1963 của Phủ Tổng Thống nhắc
lại lệnh cấm treo cờ tôn giáo nơi tư gia cũng như nơi công
cộng nghĩa là các lễ đài, các quyền môn mừng Phật Đản.
Công điện nầy đến Huế vào ngày 7.5 và đúng là giọt nước
rót vào bình nước đã đầy be. Phát ngôn viên của Tòa Đại
Sứ Mỹ sau nầy đã ví von rằng Tổng Thống Việt Nam ra lệnh
cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản thì cũng chẳng
khác gì Tổng Thống Mỹ ra lệnh cấm hát thánh ca trong lễ
Giáng Sinh (5). Cảnh sát công an cứ theo lệnh mà thi hành khiến
cho nhiều nơi xảy ra xô xác giữa Phật tử và nhân viên công
lực. Phật tử Huế còn xúc động hơn vì suốt mấy tuần
qua, Kitô giáo và chính quyền Huế đã tưng bừng kỷ niệm
lễ thụ phong linh mục của Ngô đình Thục, và thành phố
Huế tràn ngập cờ Vatican, ngay cả những nơi không có một
tín đồ hay một cơ sở Kitô giáo nào cả.
Đối
phó với lệnh cấm treo giáo kỳ đó, Tổng Hội Phật Giáo
đã họp khẩn vào chiều 7.5 và quyết định cử một phái
đoàn Trưởng Lão đến gặp Thị Trưởng Huế kiêm Tỉnh Trưởng
Thừa Thiên Nguyễn văn Đẳng yêu cầu chính quyền thu hồi
công điện về giáo kỳ. Cuộc đấu tranh của Phật Giáo chính
thức bắc đầu từ lúc đó chứ không phải đợi đến ngày
hôm sau với những phát biểu nẩy lửa của Thượng Tọa Trí
Quang hay thảm cảnh đẩm máu tại Đài Phát Thanh Huế.
Nếu
tinh ý, chính quyền hẳn thấy quyết tâm của Phật giáo qua
hành động xuất tướng bằng phái đoàn trưởng lão đó để
rồi có thể đối phó thức thời và uyễn chuyển hơn. Đáng
tiếc là chính quyền không chịu nhận thấy điều đó cho
nên phái đoàn đại diện Phật Giáo chỉ nhận được những
giải thích quanh co và những hứa hẹn mơ hồ tự thị. Phần
lớn cũng vì uy quyền quốc gia trong chế độ nầy không nằm
trong một hệ thống minh bạch nào cả. Trên Thị Trưởng còn
có Đại Biểu Chính Phủ, trên Đại Biểu Chính Phủ còn có
Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung Ngô đình Cẩn, trên Ngô đình
Cẩn còn có ông bà Cố Vấn Chính Trị Ngô đình Nhu, trên
ông bà Ngô đình Nhu là Tổng Thống Ngô đình Diệm, trên Tổng
Thống là Giám Mục Ngô đình Thục vừa chăn chiên vừa giữ
thành trong tư cách “quyền huynh thế phụ” tuyệt đối.
Và đương nhiên, trên tất cả những quyền lực bản xứ
đó là Đại Sứ Vatican hay Khâm Sứ Tòa Thánh nắm trọn linh
hồn tập thể tín hữu Ki - tô đang đứng sau lưng anh em họ
Ngô và Toà Đại Sứ Mỹ thần hộ mạng Ngô đình Diệm.
Trong
khi Tổng Thống Ngô đình Diệm dằn mặt những âm mưu đối
lập rằng “sau Hiến Pháp còn có tôi” và Giám Mục Ngô
đình Thục nói thẳng “lá cờ chỉ là một miếng vải ba
xu có chi mà phải tranh đấu...” (6) thì Phật Giáo Huế quả
đã đi vào con đường hẽm một chiều vậy.
CUỘC
RƯỚC PHẬT VÀ NHỮNG BIỂU NGỮ BỐC LỬA
Ngày
Phật Đản 1963 bắt đầu bằng lễ rước Phật từ Chùa Diệu
Đế lên Chùa Từ Đàm do các đoàn thể như Khuôn Hội Phật
giáo, Gia Đình Phật Tử, Sinh Viên Phật Tử, Công Chức Phật
Tử, Tiểu Thương Phật Tử... phụ trách. Hàng lãnh đạo Phật
giáo, các hàng Phật tử, đại diện chính quyền trong đó
có Thị Trưởng Huế, các quan khách trong đó có đại diện
của Toà Lãnh Sự Mỹ và Đài Loan và đại diện của Phòng
Thông Tin Văn Hóa Pháp tại Huế và Phật tử thì tề tựu
ở Từ Đàm chờ Phật “về” đến để cử hành lễ chính
thức.
Hôm
nay Phật về hơi trể. Lý do vì đoàn rước Phật vừa băng
qua cầu Gia Hội để vào đường chính của thành phố thì
một loạt các biểu ngữ lạ xuất hiện ngay trong đoàn rước
Phật như sấm chớp làm ù tai hoa mắt không những số công
an cảnh sát đang lăm le canh chừng đoàn rước Phật mà cả
đối với những dân chúng và Phật tử đứng đầy hai bên
đường xem đoàn rước đi ngang. Những biểu ngữ ấy viết:
- Chúng
tôi đã đến lúc bị bắt buộc phải tranh đấu cho chủ trương
tôn giáo bình đẳng. Chúng tôi không từ chối một hy sinh
nào
- Phản
đối chính sách bất công gian ác
- Cờ
Phật giáo quốc tế không thể bị triệt hạ
- Phật
giáo đồ chỉ ủng hộ chính sách bình đẳng tôn giáo
- Yêu
cầu chính phủ thi hành chính sách tôn giáo bình đẳng
- Phật
giáo đồ nhất trí bảo vệ Chánh Pháp dù phải hy sinh
Không
đợi chính quyền phản ứng bằng cách ngăn chận và giải
tán đoàn rước, tịch thu các biểu ngữ và bắt giam những
người căng biểu ngữ v.v..., với tư cách người chịu trách
nhiệm về đoàn rước, Thượng Toạ Mật Hiển đã ra lệnh
ngưng đoàn rước và tịch thu các biểu ngữ rồi mới cho
đoàn rước tiến hành. Các biểu ngữ bị tịch thu, đoàn
rước tiếp tục tiến lên một quảng thì đợt biểu ngữ
thứ hai với nội dung y hệt lại lác đác xuất hiện ở những
đoạn khác trong đoàn rước. Tình trạng đó xảy ra mấy lần
và cuối cùng Ban Tổ Chức phải mời cả Thượng Tọa Trí
Quang xuống hiện trường ra lệnh dẹp các biểu ngữ để
lễ rước Phật có thể tiếp tục và hứa với những người
trương biểu ngữ là khi về đến Từ Đàm Thượng Tọa sẽ
trả lời về những yêu sách trên các biểu ngữ đó. Đoàn
rước cuối cùng đã về đến Từ Đàm...
Với
tư cách trưởng ban tổ chức lễ Phật Đản 1963 tại Huế,
Thượng Tọa Trí Quang đã đứng ra cáo lỗi vì lễ đã không
cử hành đúng chương trình. Lý do chậm trễ đó là các biểu
ngữ đột ngột xuất hiện trong cuộc tuần hành. Một lần
nữa, Thượng Tọa yêu cầu Phật tử căng các biểu ngữ ấy
lên cao cho mọi người thấy rõ họ muốn gì. Những biểu
ngữ đã biến mất hồi sáng giờ lại xuất hiện. Thượng
Tọa đọc lần lượt từng biểu ngữ, giải thích nội dung
cũng như nguyên nhân tại sai có biểu ngữ đó và ghi nhận
nguyện vọng phản ảnh qua những biểu ngữ đó. Không khí
khuôn viên Chùa Từ Đàm như có chuyền điện, mặt đất khuôn
viên chùa như rung chuyển theo từng lời của Thượng Tọa.
Thượng Tọa không đọc một diễn từ soạn sẵn hay ứng
khẩu nào cả nhưng những lời giải thích các biểu ngữ của
Thượng Tọa đã biến thành một cáo trạng mạch lạc và
minh bạch về thảm cảnh bất bình đẳng và đàn áp tôn giáo
mà Phật giáo là nạn nhân từ thời Pháp thuộc và nhất là
từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
Sau
phần ứng khẩu giải thích biểu ngữ của Thượng Tọa Trí
Quang là phần nghi lễ diễn ra một cách bình thường êm đẹp.
Nhưng đó chỉ là êm đẹp bề mặt bởi theo đúng chương
trình thì những lời ứng khẩu nẩy lửa của Thượng Tọa
Trí Quang trưa hôm nay đã được ghi băng và sẽ được phát
lại trong buổi phát thanh Phật giáo tối hôm nay...
KHÔNG
PHẢI LÀ LẦN ĐẦU
Trước
biến cố Phật Đản 1963 và về phương diện đối kháng không
cộng sản, ít ra chính quyền cũng đã đi qua năm cơn bão tố
chính trị như cuộc biến động Bình Xuyên-Nguyễn văn Hinh,
vụ ám sát hụt ở Ban Mê Thuột của Hà minh Trí, phong trào
vận động dân chủ chính trị hay phong trào Caravelle của nhóm
Nguyễn xuân Chữ, vụ binh biến của Nguyễn chánh Thi và cuộc
ném bom Dinh Độc Lập của Phạm phú Quốc - Nguyễn văn Cử.
Trong cả năm lần đó, không một bản cáo trạng công khai
nào nhằm vào chế độ được tung ra. Thượng Tọa Trí Quang
là người đầu tiên công khai ứng khẩu bản cáo trạng cô
đọng thành sáu tấm biểu ngữ mộc mạc nhưng vang như sấm,
xẹt lửa như lằng chớp và xoáy sâu vào tâm khảm của hơn
tám mươi phần trăm dân chúng cảm thấy mình là Phật tử
cách nầy hay cách khác. Sáu biểu ngữ đó chỉ xoáy vào điểm
duy nhất là tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo (7).
Nhưng về điểm nầy, Thượng Tọa Trí Quang cũng không phải
là người đầu tiên.
Đất
nước chia đôi, Ngô đình Diệm được Mỹ đưa về xóa bỏ
chế độ Quốc Gia, lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại, thành
lập chế độ Cộng Hòa Việt Nam. Chính quyền Ngô đình Diệm
là một cái Big Mac một bên là chính quyền Mỹ, một bên là
thế lực Kitô giáo Hoa Kỳ và Vatican, phần giữa là gia đình
họ Ngô và tay chân. Ngoài ba thành phần đó ra, tất cả còn
lại đều được nhìn dưới con mắt “ai không theo ta là
kẻ thù của ta” như Thánh Kinh dạy. Phật giáo, Cao Đài,
Hòa Hảo, và cả Tin Lành đều được nhìn dưới con mắt
ấy. Tình trạng trở thành tệ hại cho người Phật tử từ
khi có chiến dịch Tố Cộng, phong trào Dinh Điền khẩn hoang
lập ấp và phong trào Ấp Chiến Lược. Dưới mắt một số
người hăng say với nhiệm mệnh thừa sai và tin rằng cứu
cánh biện minh cho phương tiện thì các biện pháp chính trị
kinh tế xã hội đó là những cơ hội tốt để đưa những
kẻ ngoại đạo về với “ánh sáng Phúc Âm”. Sa vào hoàn
cảnh ấy, người Phật tử chỉ còn ba đường hoặc theo đạo
Ki - tô để hưởng đặc ân, hoặc “bõ” đạo Phật “theo”
Đạo Ông Bà để được tạm thời yên thân, hoặc chọn cái
chết để giữ đạo gốc. Tình trạng đó ngày càng trở thành
tệ hại, nhất là ở Nam Trung Phần và cao nguyên kể từ năm
1959. Phật giáo đã không nhắm mắt trước hiện tượng “bất
công gian ác” đó. Ngày 20.2.1962, Pháp Chủ Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết đã gởi cho
Tổng Thống Ngô đình Diệm và Chủ Tịch Quốc Hội Trần
văn Lắm một hồ sơ đúc kết hàng trăm vụ “bất công gian
ác” đối với Phật tử và yêu cầu chính quyền hãy vì
quyền lợi quốc gia kịp thời can thiệp (8). Nhưng ngay cả
việc đơn giản hồi âm cho Phật giáo biết là đã nhận được
hồ sơ -một biện pháp hành chánh và lịch sự tối thiểu,
Ngô đình Diệm và Trần văn Lắm đều không nhớ đến nữa
thì còn mong gì chuyện xét can thiệp.
Trưa
ngày Phật Đản 1963, trong khi đọc và giải thích nội dung
sáu biểu ngữ "tự phát" nêu trên, Thượng Tọa Trí Quang thật
ra chỉ nhắc lại những gì Phật Giáo đã nói từ trước.
Khác chăng là lần nầy Phật giáo không dùng văn thư tay đôi
tay ba nữa mà bằng biểu ngữ, bằng lời nói công khai cho
vạn người nghe, và có thể cho triệu người nghe khi cuộn
băng thu âm lễ Phật Đản được quây phát lại trong chương
trình phát thanh của Phật giáo tối hôm đó.
ĐÀI
PHÁT THANH HUẾ ĐÊM PHẬT ĐẢN
Đài
Phát Thanh Huế nằm ngay chân cầu Tràng Tiền phía hữu ngạn
sông Hương. Đến tối, xướng ngôn viên đài xin lỗi vì lý
do kỷ thuật chương trình thường lệ dành cho Phật giáo không
thể phát thanh được và lấp chỗ trống bằng nhạc. Điều
nầy khiến Phật tử thắc mắc tức bực đổ về trong khuôn
viên đài mỗi lúc một đông. Không biểu ngữ, không hoan hô
đả đảo, chỉ lặng yên chờ cho đài giải quyết xong phần
kỷ thuật để được nghe lại những lời Thượng Tọa Trí
Quang nói hồi sáng tại chùa Từ Đàm. Thế thôi, ít ai nghĩ
rằng mình đang được chứng kiến một cuộc biểu tình, một
cuộc đấu tranh bất bạo động đang diễn ra trước mắt.
Rồi
nhạc lấp chỗ trống cũng hết, làn sóng đài bỗng lặng
câm, mở đầu cho một diễn biến mới khi một chiếc xe thông
tin gắn loa phóng thanh cực mạnh đến loan báo là chính quyền
được tin đêm nay Việt Cộng sẽ xâm nhập phá hoại một
vài cơ quan công quyền trong thị xã vậy yêu cầu đồng bào
giải tán. Thông báo đầy hăm dọa đó được lặp đi lặp
lại nhiều lần cùng với sự tăng cường dồn dập của cảnh
sát công an và quân đội tháp tùng một số xe cứu hỏa và
xe bọc thép trong đó có một chiếc mang tên Ngô đình Khôi.
Đồng lúc, Thượng Tọa Trí Quang cùng với Tỉnh Trưởng Thừa
Thiên kiêm Thị Trưởng Huế đến và đi thẳng vào Đài Phát
Thanh. Họ vừa vào chưa được bao lâu thì các xe cứu hỏa
bắt đầu xịt nước vào dân chúng và tiếp đó những tiếng
nổ lớn như tiếng mìn hay lựu đạn mở đầu cho hàng loạt
tiếng súng lớn nhỏ từ các xe bọc thép, từ số quân nhân
và công an cảnh sát tăng cường. Các xe bọc thép vừa bắn
vừa húc bừa vào dân chúng hoảng loạn và phẫn nộ. Phe chính
quyền cố đánh đuổi dân chúng khỏi khuôn viên Đài Phát
Thanh Huế bằng những biện pháp sắt máu và quyết liệt nhất
trong khi một số Phật tử quyết nhào vào để cứu những
người bị thương đang quằn quại và số bị chết đang nằm
la liệt khắp nơi cũng như “để bảo vệ Thầy” đang kẹt
trong đó.
Kẻ
chỉ huy cuộc giải tỏa nầy là Thiếu Tá Đặng Sỹ, Phó
Tỉnh Trưởng Nội An. Phe chính quyền vô sự, phía Phật giáo
thì Thượng Tọa Trí Quang được hộ tống về chùa an toàn
nhưng đã có 9 Phật tử chết và 14 bị thương.
NGUYỆN
VỌNG NĂM ĐIỂM
Vụ
thảm sát ở Đài Phát Thanh Huế đêm Phật Đản biến Huế
thành mồi lửa làm cháy rụi cả một cơ đồ chính trị tôn
giáo xây dựng hơn trăm năm qua. Quả vậy, khi vụ Phật Đản
mới bùng nổ, Linh Mục Jean Renou một nhà thừa sai kỳ cựu
với ba mươi bảy năm kinh nghiệm ở Viễn Đông đã phải
lo ngại thốt lên: “Thằng cha nầy (Diệm) điên rồi! Hắn
đang hủy hoại tất cả những gì chúng ta hoàn thành được
suốt một trăm năm mươi năm qua!” (9)
Suốt
đêm 8.5 và ngày 9.5, Huế có hàng ngàn đám biểu tình tự
phát không chỉ của dân chúng thanh niên sinh viên học sinh
nội thành mà cả của đồng bào ngoại thành xa xôi đổ về
chùa Từ Đàm để bày tỏ nguyện vọng và hỏi thăm tin tức.
Công an cảnh sát quân đội tràn ngập phố phường. Các đám
biểu tình tuần hành nầy phải đi qua nhiều nút chận căng
thẳng nhưng chưa có hành hung đập phá, đốt nhà đốt xe,
đốt công sở. Suốt cả ngày 9.5, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên
đã đích thân đưa Thượng Tọa Trí Quang đi khắp nơi trấn
an đồng bào và Phật tử. Hình ảnh một ông Tỉnh Trưởng
lái chiếc Citroen 2CV và một ông thầy tu mặc áo nâu đội
nón lá đứng trên mui xe khản cổ kêu gọi đồng bào Phật
tử giải tán đợi lệnh chùa là hình ảnh đặc thù ngày
hôm đó.
Chính
quyền một mặt nhờ chùa “chữa lửa”, một mặt lại rửa
tay chạy tội bằng cách tuyên bố cuộc thảm sát ở Đài
Phát Thanh Huế là do Việt Cộng gây ra. Điều nầy đã khiến
cho quần chúng Phật tử nổi nóng thêm, càng hăng biểu tình
hơn, càng quyết liệt hơn khi đối đầu với nhân viên công
lực ngăn chận biểu tình.
Ngày
10.5. Phật giáo triệu tập đông đảo quần chúng về chùa
Từ Đàm để thông báo hai quyết định, thứ nhất xác quyết
các Phật tử bị tàn sát tại đài Phát Thanh Huế là những
Thánh Tử Đạo, thứ hai công bố bản Tuyên Ngôn Của Tín
Đồ Phật Giáo Việt Nam thường đuợc gọi là bản “nguyện
vọng năm điểm” gồm có thứ nhất lệnh cấm giáo kỳ phải
được thu hồi, thứ hai Phật giáo phải được đối xử
bình đẳng như Ki - tô giáo, thứ ba chấm dứt đàn áp khủng
bố Phật tử, thứ tư Phật giáo được tự do truyền đạo
và hành đạo, và thứ năm quy trách kẻ chủ mưu tàn sát và
đền bù cho các nạn nhân vụ Đài Phát Thanh Huế.
Bản
Tuyên Ngôn nầy do Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết
nhân danh toàn thể Phật Giáo Việt Nam ký phổ biến. Phật
giáo đã chính thức minh định vấn đề, đến lược chính
quyền phản ứng vậy.
CÔ
LẬP VÀ ĐÀN ÁP
Bản
Tuyên Ngôn năm điểm của Phật giáo công bố ngày 10.5, đến
ngày 23.5 lại được bổ túc bằng một “phụ đính”, và
đến 25.5 lại được thêm vào một “phụ trương”. Nói
thế khác, chính quyền càng né tránh giải quyết vấn đề
thì yêu sách của Phật giáo càng cụ thể chi tiết thêm.
Vì
chính quyền chỉ có một phản ứng duy nhất là cô lập và
đàn áp nên công việc cấp thiết của các nhà lãnh đạo
Phật giáo là nuôi dưỡng tinh thần quật khởi của Huế,
gấp rút chuyển địa bàn hoạt động vào Sài Gòn và phát
khởi hoạt động đấu tranh tại các tỉnh lớn.
Thượng
Toạ Trí Quang, linh hồn của phong trào tranh đấu, Thượng
Tọa Thiện Minh, đầu não chiến lược của phong trào, và
Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội đều vào Sài Gòn. Công việc
ở Huế giao lại cho Thượng Tọa Trí Thủ, Thiện Siêu, Mật
Nguyện, Mật Hiển cùng đảm nhận. Thượng Tọa Tâm Châm
đại diện Phật giáo Bắc Việt và là Phó Hội Chủ Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam được suy cử làm Chủ Tịch phong
trào đấu tranh dưới danh nghĩa Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ
Phật Giáo, Chùa Xá-Lợi trụ sở chính của Phật giáo Nam
Phần biến thành tổng hành dinh của Ủy Ban.
Ở
Huế, sau ngày 10.5, phong trào được quạt lên với chiến dịch
mít-tinh, học tập, tuyệt thực, cầu nguyện cho năm nguyện
vọng của Phật giáo được thành tựu. Chủ chốt của chiến
dịch đợt nầy là sinh viên học sinh Phật tử. Thành phần
trẻ có học nầy đem lại cho phong trào một sinh khí và sắc
diện mới chứng tỏ Phật giáo không chỉ lôi cuốn thành
phần vong niên hay cao niên đã chán sự đời mà còn hấp dẫn
thế hệ đang hăm hở hướng về tương lai của dân tộc và
tín ngưỡng. Mấy chữ “Công Bằng Xã Hội” đã được
nhắc nhở nhiều hơn trong ngôn từ tranh đấu của tầng lớp
nầy. Hai điểm tập họp chính của họ là Từ Đàm và Diệu
Đế. Họ đến nghe tin tức, trò chuyện với bạn bè đồng
lứa, tụng kinh cầu nguyện, phát thanh tin tức Phật sự qua
hệ thống phóng thanh trong chùa, phổ biến truyền đơn tài
liệu, tuyệt thực, xuống đường bày tỏ nguyện vọng. Họ
thường bị đàn áp thẳng tay. Dùi cui, mũi giày trận, báng
súng, lưỡi lê, quân khuyển, lựu đạn cay, lựu đạn cháy,
xe cây, nhà tù là chuyện cơm bửa. Nhưng chính quyền càng
mạnh tay thì lực lượng nầy càng trở nên đông đảo vì
cái tính “quân tử Tàu” hay mã thượng của đám trẻ. Tầng
lớp nầy lại kéo theo những thế lực hổ trợ mới là giới
tiểu thương, quân nhân, công chức, giáo chức, Hướng Đạo...
để tăng cường cho lực lượng cơ hữu nòng cốt của Phật
giáo là các Thầy các Cô chùa Hội (10), các Khuôn Hội Phật
tử địa phương và các đoàn Gia Đình Phật Tử kỳ cựu
thuần thành.
Tình
trạng đó kéo dài cho đến 3.6. khi sinh viên Phật tử tung
ra những đợt biểu tình ồ ạt rộng lớn để rồi nhận
chịu những đàn áp khốc liệt nhất. Một số sinh viên bị
bắt, 149 người bị thương trong đó có 69 người bị thương
trầm trọng. Khi bị đàn áp truy kích, cả ngàn sinh viên học
sinh phải rút về chùa Từ Đàm. Chính quyền ra lệnh giới
nghiêm và phong tỏa chùa, đồng thời cắt điện cắt nước
và cắt luôn thực phẩm tiếp tế cho chùa.
Cuộc
đàn áp và phong tỏa nầy đã gây những chấn động không
lường trước được...
HOA
KỲ VÀ VỤ PHẬT GIÁO
Khi
vụ Phật Đản xảy ra, chính quyền Kennedy đã bàng hoàng tự
hỏi “Họ (Phật tử Việt Nam) là ai vậy”? Nếu Kennedy và
các cố vấn thân cận không biết chút gì về Phật giáo thì
cũng chẳng có gì lạ bởi hai tai mắt chính của Washington
ở Sài Gòn là Đại Sứ Nolting và Giám Đốc CIA Richardson đều
bênh vực anh em nhà Ngô từ đầu đến cuối.
Rũi
cho anh em nhà Ngô là khi vụ Phật Đản xảy ra thì Nolting lại
rời Việt Nam đi nghỉ phép thường niên để cho Phó Đại
Sứ Trueheart xử lý thường vụ. Cho nên khi lờ mờ hiểu được
“họ” là ai thì Kennedy đã vội chỉ thị Trueheart phải
“dùng những lời lẽ mạnh mẽ nhất để khuyến cáo những
biện pháp cần thiết”. Ngày 4.6 Trueheart gặp Bộ Trưởng
Nguyễn đình Thuần cho biết Tòa Bạch Ốc muốn Ngô đình
Diệm phải ngưng đàn áp Phật giáo và phải giải quyết cụ
thể những yêu sách của Phật giáo. Ngày 5.6, Phó Tổng Thống
Nguyễn ngọc Thơ được lệnh tiếp xúc sơ bộ với Phật
giáo.
Nhưng
trong khi Ngô đình Diệm tỏ ra nhượng bộ áp lực của Mỹ
thì Bà Ngô đình Nhu lại không. Ngày 7.6, Bà đã tố cáo các
nhà lãnh đạo Phật giáo là tay sai cộng sản. Trueheart gặp
Diệm để than phiền và yêu cầu cách cãi chánh thì Diệm
tảng lờ như thể là ông cũng nghĩ như bà em dâu vậy.
Ngày
11.6, Washington nhận được phúc trình về tình hình của Trueheart
gởi sang. Trueheart xác quyết cộng sản không có ảnh hưởng
đối với phong trào Phật giáo và quả thật một số Phật
tử muốn lật đổ chính phủ. Mặt khác, Trueheart nhận rằng
nếu để lâu quá thì những phản ứng tích cực của chính
quyền nếu có sẽ không gây ra được hậu quả mong muốn
nhưng có còn hơn không và Trueheart tin chính quyền vẫn chưa
muộn để thỏa mản những đòi hỏi của Phật giáo. Hy vọng
của Trueheart đã bị ngọn lửa Quảng Đức đốt cháy sém.
Colby trùm CIA nhận định rằng ánh lửa Quảng Đức đã làm
cho dân Mỹ thấy dân chúng Việt Nam không đứng sau lưng chính
quyền của họ và do đó dân Mỹ sẽ không ủng hộ chính
sách Mỹ ở Việt Nam nữa. Ánh đuốc Quảng Đức là một
mồi lửa giữa cánh đồng khô hạn. Phong trào tranh đấu của
Phật giáo đã âm ỉ dâng lên sau vụ Đài Phát Thanh Huế,
sau các cuộc biểu tình tuyệt thực quyết liệt của sinh viên
giờ đã ngùn ngụt lan rộng từ Đông Hà đến Cà Mâu, từ
Sài Gòn lên cao nguyên. Nơi nào có chùa là nơi đó có tụng
kinh cầu nguyện, có cờ, có biểu ngữ, có truyền đơn, có
phát thanh. Phong trào đấu tranh không chỉ thu hút đồng bào
Phật tử, tầng lớp trẻ, mà còn thu hút cả những đồng
bào khác tín ngưỡng, phong trào Phật giáo quốc tế, và đặc
biệt hơn cả là phần lớn phóng viên truyền thông ngoại
quốc đang hoạt động ở Sài Gòn.
Sau
vụ tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức ngày 11.6 Bộ Ngoại
Giao Mỹ chỉ thị cho Trueheart nói thẳng với Diệm phải công
khai thỏa mản hoàn toàn các nguyện vọng của Phật giáo bằng
không Mỹ sẽ tuyên bố không nhắm mắt làm ngơ nếu chính
quyền Việt Nam thiếu thiện chí thỏa mản các yêu sách chính
đáng của hàng lãnh đạo Phật giáo. Washington cũng muốn Trueheart
cho Phó Tổng Thống Nguyễn ngọc Thơ biết tuy Mỹ không chủ
trương lật Diệm nhưng nếu Diệm bị lật thì Mỹ sẽ ủng
hộ Thơ như người kế vị hợp hiến. Trueheart nghĩ đó không
phải là một đề nghị hợp thời trong hoàn cảnh nầy nên
không nói gì với Thơ. Ngày 12.6 Trueheart chỉ cho Diệm biết
Bộ Ngoại Giao đã mạnh mẽ khuyến cáo Diệm phải giải quyết
vấn đề Phật giáo. Ngày 14.6 chính quyền và Phật giáo chính
thức họp ở Hội Trường Diên Hồng và hai ngày sau, ngày
16.6 Thông Cáo Chung về năm nguyện vọng của Phật giáo được
hai bên ký kết. Ngày 17.6 Phật giáo tuyên bố trở lại đời
sống bình thường và thành tâm cầu nguyện cho Thông Cáo Chung
được thi hành nghiêm chỉnh.
Phật
giáo lo âu cầu nguyện là phải bởi cả gia đình nhà Ngô
đều không muốn Thông Cáo Chung được thi hành. Vợ chồng
Ngô đình Nhu và Giám Mục Ngô đình Thục đã mở chiến dịch
phản công rộng lớn qua các tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa,
Phụ Nữ Liên Đới, Trung Tâm Nhân Vị Vĩnh Long, các cơ quan
chính quyền như Thông Tin Dân Vận, Thương Phế Binh, Mật Vụ,
Công An Cảnh Sát để vu khống, mạ lỵ, hăm dọa, đàn áp,
khủng bố bằng các hành động như ám sát, bắt cóc, bắt
giam, tra tấn, thủ tiêu, cách chức, cô lập, sách nhiễu. Ngô
đình Diệm không xốc nổi như những người khác trong nhà
nhưng chính ông đã khơi mầm loạn khi bảo rằng “Sau Hiến
Pháp còn có tôi”, nghĩa là không phải ông đội Hiến Pháp
trên đầu mà lót Hiến Pháp dưới đít, muốn tôn trọng Hiến
Pháp hay không là tùy ông.
Mỹ
cũng thấy rõ điều đó nên ngày 25.6, trưởng CIA ở Việt
Nam là Richardson đã đích thân thuyết phục Nhu nên hòa hoản.
Nhu đã trả lời thẳng thừng các cuộc biểu tình của Phật
giáo là phi pháp và hăm dọa trầm trọng đối với chế độ.
Và một chế độ không biết thi hành luật pháp thì chế độ
đó phải đổ. Ngô đình Nhu quả thực đã gián tiếp cho Mỹ
biết đừng hòng bắt bí Ngô đình Diệm, bởi Ngô đình Diệm
nhượng bộ quá thì ông sẽ không để yên (11).
TỪ
NƯỚC BÍ ĐẾN NƯỚC LŨ
Tình
cảnh giữa ba phe anh em nhà Ngô, Hoa Kỳ và Phật giáo đều
lâm vào thế bí. Anh em ông Diệm không tin Mỹ dám thay ngựa
giữa giòng vì Mỹ cũng cần ông Diệm chứ không phải chỉ
ông Diệm cần Mỹ thôi. Mỹ không tin anh em ông Diệm còn biết
đặt quyền lợi Miền Nam lên trên hết để giải quyết thỏa
đáng vấn đề Phật giáo trong khi Phật giáo lại không còn
tin anh em nhà Ngô còn chịu nhìn nhận những đòi hỏi của
Phật giáo là công bằng và chính đáng. Thế nên, anh em nhà
Ngô không còn cách nào khác hơn là khai thác triệt để tình
cảnh Mỹ đang cần mình chứ không cần Phật giáo để dứt
gọn Phật giáo và đặt Mỹ trước một sự đã rồi trong
khi Mỹ cũng không còn cách nào khác hơn là tìm cách thay anh
em nhà Ngô, Phật giáo thì cũng không còn cách nào khác hơn
là để chính Ngô đình Diệm chứng minh những điều Phật
giáo tố cáo là đúng, nói thế khác cách tố giác “bất
công gian ác” hay nhất là để cho bất công gian ác xảy ra
trước mắt mọi người.
Sai
lầm chí tử của Ngô đình Diệm không chỉ là đã nghĩ rằng
ở Miền Nam Mỹ không thể kiếm đâu ra một người như ông,
sai lầm chí tử của Ngô đình Diệm còn là ở chỗ đã quên
rằng Kennedy cũng là tín đồ Kitô giáo. Kennedy thừa biết
là dân chúng Mỹ đang âm thầm theo dõi từng hành động của
vị Tổng Thống Kitô giáo đầu tiên trong lịch sử Mỹ nầy.
Kennedy đâu ngu dại hy sinh tất cả tương lai chính trị của
mình để bao che những sai lầm của một người đồng song
đồng đạo ở Việt Nam. Kennedy có khắc khe với Diệm thì
cũng vì chính tương lai chính trị của Kennedy.
Ngày
4.7, Kennedy cùng các cố vấn thân cận duyệt lại tình hình
Việt Nam và đi đến các kết luận như sau : thứ nhất, Quảng
Đức tự thiêu là một hành động tín ngưỡng đích thực
chứ không phải dàn cảnh, thứ hai vợ chồng Nhu phải đi
nhưng chưa chắc Diệm đã chịu do đó tình trạng sẽ trở
nên trầm trọng và thế nào cũng có binh biến. Trong cùng ngày
CIA ở Sài Gòn phúc trình cho Washington biết là đã có những
âm mưu đảo chính thật. Một tuần sau, CIA ở Washington lương
định rằng đảo chính chuyến nầy thì dễ thành công hơn
chứ không dấm dớ ạch đụi như lần trước.
Ngày
7.7, văn hào Nhất Linh tự tử vì mục đích “cũng như Hòa
Thượng Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người
chà đạp mọi thứ tự do”. Ngày 14.7 Phật giáo chính thức
tái phát động đấu tranh đòi chính quyền thực thi Thông
Cáo Chung. Đại Sứ Nolting lại ra sức cứu Ngô đình Diệm
bằng cách một đàng tuyên bố với báo chí là không có kỳ
thị tôn giáo ở Miền Nam và đàng khác khuyên Ngô đình Diệm
nên khôn khéo hơn. Cho nên, ngày 18.7, sau khi tiếp Nolting, Ngô
đình Diệm đã lên đài phát thanh tuyên bố chính quyền sẽ
giải quyết êm đẹp vấn đề Phật giáo. Ngày 23.7, Sư Bà
Diệu Huệ - thân mẫu của Giáo Sư Bữu Hội đang được chính
quyền nhờ tiếp sức, họp báo đòi tự thiêu. Ngày 1.8, Phật
giáo chính thức phản đối với Kennedy về những ý kiên thiên
lệch của Nolting. Ngày 3.8, Bà Ngô đình Nhu lại xông vào vòng
chiến bằng một bài diễn văn dài trong lễ khai mạc khóa
Phụ Nữ Bán Quân Sự tại Tòa Đô Chính Sài Gòn với nội
dung vu khống, mạ lỵ và hăm dọa Phật giáo cũng như gián
tiếp tố cáo chính quyền Mỹ đã đe dọa và bắt chẹt chính
quyền Việt Nam hầu bịt mồm bịt miệng Bà. Bà khuyên mọi
người nên phớt lờ các cuộc tranh đấu của Phật giáo và
chớ quan tâm đến điều mà Bà gọi là vụ “nướng Sư”
nghĩa là cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức ngày
11.6. Lời kêu gọi của Bà Ngô đình Nhu có hiệu quả tức
thì. Ngày hôm sau, 4.8 Đại Đức Nguyên Hương tự thiêu ở
Phan Thiết. Ngày 5.8, Phật giáo chính thức báo động về những
âm mưu của chính quyền nhằn triệt hạ Phật giáo cũng những
những thành phần đối lập bằng những cuộc đảo chính
giả gọi là Bravo 1 và Bravo 2 và kế hoạch Nước Lũ. Ngày
7.8, Phật giáo chính thức phản đối với Tổng Thống Ngô
đình Diệm về những lời tuyên bố của Bà Nhu. Ở Đà Lạt,
Phật tử Âu dương Quang đã chặt ngón tay để góp phần cầu
nguyện cho năm nguyện vọng của Phật giáo chóng thành đạt.
Cùng ngày, sinh viên Phật Tử Huế lại phát động đợt tuyệt
thực mới để hưởng ứng phong trào tái vận động cho Thông
Cáo Chung được chính quyền tôn trọng thi hành. Ngày 12.8,
Mai Tuyết An chặt tay ở Sài Gòn để phản đối Bà Ngô đình
Nhu. Ngày 13.8, Đại Đức Thanh Tuệ tự thiêu tại Huế gây
ra những cuộc biểu tình lớn phản đối chính quyền cướp
xác của người đã hy sinh. Ngày 14.8, Nolting đến từ giả
Tổng Thống Ngô đình Diệm trước khi rời nhiệm sở. Nolting
là người đã cảnh cáo Washington rằng lật Ngô đình Diệm
xuống thì sẽ không tránh được nội chiến ở Miền Nam.
Nolting cũng là Đại Sứ đã nghe đài phát thanh mới biết
mình đã bị cách chức và có người khác thay thế rồi. Nolting
đã yêu cầu Ngô đình Diệm nên trấn an dư luận bằng cách
xác nhận thiện chí giải quyết vấn đề của chính quyền.
Ngày 15.8 Nolting rời Sài Gòn, và Ngô đình Diệm đã xác nhận
“thiện chí hòa giải tột bực” của chính quyền trong vụ
Phật giáo. Ít nữa là có một người không chịu tin lời
xác nhận đó, người đó là Ni Cô Diệu Quang đã tự thiêu
cùng ngày hôm đó tại Ninh Hòa. Ngày 16.8, Thượng Tọa Tiêu
Diêu tự thiêu tại Chùa Từ Đàm Huế. Ngày 18.8, Giáo Sư Đại
Học và tiếp đến là Giáo Sư Trung Học ở Huế từ chức
trong khi ở chùa Xá Lợi Sài Gòn, ba chục ngàn người tham
dự tuyệt thực và cầu siêu cho những người đã hy sinh trong
cuộc tranh đấu từ ngày Phật Đản đến nay. Đây là cuộc
biểu tình tại chỗ lớn nhất từ ngày phong trào bùng nổ.
Đêm
20.8, năm ngày sau khi xác nhận thiện chí hòa giải tột bực
của mình, Ngô đình Diệm tuyên bố tình trạng giới nghiêm
và đồng loạt tấn công các chùa toàn quốc, hốt hết các
nhà lãnh đạo Phật giáo và những thành phần tham gia phong
trào. Cách giải quyết vấn đề Phật giáo hay nhất là dứt
hết các Phật tử. Thượng Tọa Thiện Minh bị bắt ở chùa
Từ Đàm Huế, Thượng Tọa Tâm Châu, Huyền Quang và tất cả
hàng lãnh đạo Phật giáo đều bị bắt ở Sài Gòn. Thượng
Tọa Trí Quang cũng bị bắt ở chùa Xá Lợi và bị đưa qua
giam trong một khu đồn bỏ hoang ở Rạch Cát, Quận 7 ngoại
ô Chợ Lớn để thanh lọc như bao nhiêu nguời khác. Sang đó,
Thầy được một người tình nguyện tráo tên với Thầy nên
đến lúc thanh lọc thì Thầy được tha về trước. Trên đường
về, Thầy không còn biết đi về nơi nào an toàn hơn là vào
tỵ nạn trong Tòa Đại Sứ Mỹ. Người đóng vai “Lê Lai
cứu chúa” nầy hiện đang sống ở Mỹ.
Ngày
21.8, Nolting đang họp bàn giao với Tân Đại Sứ Cabot Lodge
ở Honolulu thì được thông báo về kế hoạch Nước Lũ, Nolting
ngao ngán gởi cho Ngô đình Diệm một bức điện riêng ngậm
ngùi than thở “lần đầu tiên Ngài dối tôi”.
KẾT
LUẬN TẠM
Phật
giáo lật đổ Ngô đình Diệm? Phong trào đấu tranh của Phật
giáo thực sự kết thúc vào ngày 21.8 khi Ngô đình Diệm thi
hành kế hoạch Nước Lũ đột kích chùa chiền triệt hết
các thành phần lãnh đạo và tham gia phong trào. Nói thế khác,
phong trào Phật giáo 1963 chỉ kéo dài 106 ngày - từ ngày 7.5
đến ngày 21.8, và thực sự kết thúc 73 ngày trước khi Tướng
Dương văn Minh tuyên bố dứt điểm chế độ, hủy bỏ Hiến
Pháp 1956 và đặt Miền Nam dưới quyền lãnh đạo của Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng vào ngày 2.11.1963. Cho nên, bảo
Phật giáo lật đổ Ngô đình Diệm là một cách “cướp
công cách mạng” vậy, dù không thể phủ nhận rằng không
có phong trào đấu tranh của Phật giáo năm 1963 thì chưa chắc
chế độ nhà Ngô đã bị xóa bỏ.
Phật
giáo đã làm xong phần mình vào đêm 20.8 khi cả tiếng cầu
kinh lẫn lời phản kháng chế độ bất công gian ác đều
im bặt. Kế hoạch Nước Lũ là luồng gió thổi sáng ánh đuốc
Quảng Đức soi rõ bản sắc của chế độ Ngô đình Diệm
để cho những người có trách nhiệm với chế độ đó phải
có thái độ. Những người có trách nhiệm đó là dân chúng
và quân đội - trong đó đa số là Phật tử, đã từng “truất
phế” nhà Nguyễn “suy tôn” nhà Ngô, là Hoa Kỳ - kẻ đã
chọn nhà Ngô để trao nhiệm mệnh bảo vệ những quyền lợi
của Hoa Kỳ ở Việt Nam.
Hoa
Kỳ không gây ra vụ Phật giáo để làm áp lực hay lật Ngô
đình Diệm, bởi Hoa Kỳ không hề bận tâm Phật giáo là gì,
là ai cả. Băn khoăn của Kennedy trước ánh lửa Quảng Đức
là câu hỏi “Họ là ai vậy?” Ánh đuốc Quảng Đức soi
cho Hoa Kỳ thấy rõ thực lực quần chúng của Phật giáo.
Nếu đã nghĩ đến chuyện lợi dụng - hoặc đã lợi dụng
được, Phật giáo ngay từ đầu thì Kennedy hẳn không cần
phải băn khoăn như vậy. Chưa kể là dù có muốn chăng nữa
thì Hoa Kỳ cũng chẳng bao giờ lợi dụng được Phật giáo.
Cứ xem Lodge rồi Bunker, Johnson, Nixon đã đối xử với Phật
giáo như thế nào thì đủ rõ.
Giả
thuyết cho rằng Hoa Kỳ tạo ra - hay lợi dụng, vụ Phật Đản
63 để làm áp lực hay lật đổ Ngô đình Diệm là một giả
thuyết viễn vông vì quả thực lúc đó Kennedy cũng chưa dứt
khoát tính gì ở Việt Nam nữa thì áp lực hay lật đổ Ngô
đình Diệm để làm gì? Kennedy đang tiến thối lưỡng nan.
Nhưng leo thang hay rút lui thì Hoa Kỳ đều cần có ổn định
ở Miền Nam. Hoặc giả muốn giữ nguyên trạng không đánh
mà cũng không rút thì Kennedy cũng vẫn cần thế ổn định
ở Sài Gòn để chuẩn bị cho cuộc tái ứng cử sắp tới
của chính Kennedy. Quấy động hay đàn áp Phật giáo không
phải là cách bảo đảm thế ổn định đó. Cũng vì vậy
mà sau ngày Phật Đản ở Huế, cả hai phe diều hâu và bồ
câu ở Tòa Bạch Ốc đều gặp nhau ở điểm thúc đẩy Ngô
đình Diệm phải thỏa hiệp với Phật giáo để tạo ổn
định cho Miền Nam hầu có thể phụ với Hoa Kỳ một tay trong
chuyện đánh cũng như đàm. Anh em Ngô đình Diệm đã điên
lên khi nghĩ rằng Hoa Kỳ đã coi trọng Phật giáo và coi nhẹ
mình. Trong khi thực tế, Hoa Kỳ chỉ cần thế ổn định ở
Miền Nam và anh em Ngô đình Diệm càng bức ép Phật giáo thì
thế ổn định đó càng bị hăm dọa. Ngô đình Diệm không
thấy điều đó, trái lại còn nghĩ rằng ngoài anh em mình
ra Hoa Kỳ sẽ chẳng kiếm được ai hơn nữa nên cơ nghiệp
nhà Ngô sụp đổ. Hoa Kỳ không phải là kẻ đầu tiên nghĩ
đến chuyện đảo chánh khi vụ Phật giáo bùng nổ. Đảo
chánh là chuyện tự các tướng tá Việt Nam nghĩ đến trước.
Chính CIA ở Sài Gòn xác nhận điều ấy. Cái chết của ba
anh em nhà Ngô là điều đau thương đáng tiếc về phương
diện nhân đạo, mặc dù đó chỉ là hậu quả đương nhiên
của trò chơi quyền lực chính trị. Không ai tin những kẻ
thực tâm tham gia ngày 1.11.1963 lại ngây thơ mong muốn anh em
nhà Ngô còn sống. Bài học của Nguyễn chánh Thi 3 năm trước
đã dạy cho họ nhớ rõ điều đó. Cho nên lòng “ân hận”
về những cái chết nầy xét cho cùng chỉ là những “ân
hận” chính trị của Pontius Pilate.
Người
Phật tử không quên ơn những người chủ động chính biến
1.11 dù biết rằng Dương văn Minh không lật đổ Ngô đình
Diệm vì Phật giáo. Bằng chứng là mục tiêu đấu tranh pháp
lý của Phật giáo là Dụ số 10 thế nhưng khi chế độ đã
bị lật đổ rồi Dương văn Minh không hề nghĩ đến chuyện
hủy bỏ hay ngưng áp dụng văn kiện pháp lý đó, chẳng khác
nào Ngô đình Diệm truất phế Bảo Đại nhưng vẫn duy trì
Dụ số 10 của Bảo Đại vậy. Mặt khác, chính Nguyễn Khánh
- chứ không phải Dương văn Minh, là người thừa nhận tư
cách pháp nhân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Tùy
cơ duyên hoàn cảnh, nếu có một đối tượng thế tục nào
cần phục vụ tức thời thì đó chính là dân tộc. Vì dân
tộc chính là chúng sinh cận kề thân thiết nhất. Đó là
điều người Phật tử muốn nhấn mạnh khi nói đến Phật
giáo Lý Trần, ngàn năm Phật giáo. Đó cũng là điều mà một
số người không biết -hoặc không muốn biết, khi đặt vấn
đề cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963 có lợi có hại
gì cho công cuộc chống Cộng hay công cuộc giải phóng Miền
Nam. Phản ứng của người Phật tử năm 1963 là một phản
ứng tự vệ của kẻ đã bị dồn vào đường cùng, tự vệ
không phải trong tinh thần “tôi chết hãy trả thù cho tôi”
như Ngô đình Diệm nói nhưng là “tôi chết hãy cầu nguyện
cho kẻ đã giết tôi” như lời Hòa Thượng Hội Chủ Thích
Tịnh Khiết đã nhắn nhủ. Ánh đuốc Quảng Đức hay ngọn
lửa tự vệ của Phật giáo đã làm cháy sém một cơ đồ.
Bỏ hay giữ cơ đồ đó lại, giữ lại như thế nào, giữ
lại để làm gì đó là câu hỏi đặt ra cho người dân, cho
quân đội và cho chính Hoa Kỳ. Phật giáo không nhân danh tự
do dân chủ, không nhân danh “quyền lợi” chống Cộng để
phản đối chính quyền. Đúng ra, Phật giáo đã chống lại
việc nhân danh tư cách và quyền lợi chống Cộng để chà
đạp tự do, xâm phạm dân chủ của kẻ khác. Vì ý thức
hệ cũng chỉ là một vô minh huyền hoặc nên người Phật
tử không đồng hóa tín ngưỡng với ý thức hệ, và cũng
không đem tín ngưỡng phục vụ chiến tranh ý thức hệ. Phật
giáo không chống đối ai vì ý thức hệ và cũng không thỏa
hiệp với kẻ nhân danh nhu cầu và quyền lợi ý thứ hệ
để làm ác.
Đối
với người Phật tử Việt Nam, 106 ngày ngắn ngũi trong mùa
hạ 1963 là kết tinh của hàng ngàn năm duyên nợ giữa Phật
giáo và dân tộc nầy. Biến cố đó chính là khởi điểm
của con đường thế trị -mà mục tiêu tối hậu là Giải
Nghiệp bằng Giải Thực và Giải Hoặc, để chung vai góp sức
vào nổ lực kiến tạo Hòa Bình Dân Tộc - Độc Lập Quốc
Gia - Cách Mạng Xã Hội. Đó cũng là cách đền ơn trả nghĩa
công đức của bao nhiêu thế hệ Phật tử suốt ngàn năm
đã góp phần giữ nước và dựng nước. Phong Trang Mùa Vu
Lan 96 (12).
Nguồn
Tư Liệu: Tạp Chí Hoa Sen Số 49 1-5-03 Chùa Quán Thế
Âm Orange County USA
Ghi
chú :
1.
W. Safire - Before The Fall, Belmont Tower Books, NY 1975.
2.
R.S. McNamara - In Retrospect, Random House, NY 1995.
3.
M. Maclear - Vietnam: The Ten Thousand Day War, Thames Methuen, London
1981, tr. 374.
4.
Phật tử thường gọi các vị trú trì các chùa bằng ôn đứng
trước tên chùa. Ví dụ Thượng Tọa Mật Hiển là Ôn Trúc
Lâm, Hoà Thượng Tịnh Khiết là Ôn Tường Vân, Thượng Tọa
Đôn Hậu là Ôn Linh Mụ, Hòa Thượng Trí Thủ là Ôn Già Lam,
Hòa Thượng Thiện Siêu là Ôn Từ Đàm.
5.
W.Rust - Kennedy In Vietnam, Da Capo Press, NY 1985, tr. 94.
6.
Lời của Giám Mục Ngô đình Thục trong buổi nói chuyện với
đại diện quân cán chính tại đại giảng đường Đại Học
Văn Khoa Huế sau vụ Đài Phát Thanh Huế xảy ra.
7.
Quốc Tuệ - Công Cuộc Tranh Đấu Của Phật Giáo Việt Nam
Từ Phật Đản Đến Cách Mạng, tái bản Khánh Anh Paris 1987,
tr. 43.
8.
Tuệ Giác -Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử, Hoa Nghiêm SG
1965, tr. 80 và 119 và Quốc Tuệ sđd. tr.28-29.
9.
H. du Berrier -Background To Betrayal, Western Islands, Boston 1965, tr.
129.
10.
Có những chùa và những Phật tử tại gia cũng như xuất gia
không chịu gia nhập cuộc cách mạng tôn giáo của Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam nên họ đã gọi những người chấp nhận
cuộc cách mạng tôn giáo đó là Thầy Cô chùa Hội, Phật
tử chùa Hội.
11.
Toàn bộ trích dẫn trong phần nấy là từ sách đã dẫn trong
ghi chú số 5 từ trang 94 đến trang 107.
12.
Sau khi bài nầy được phổ biến, Hoàng tôi nhận được mấy
lời sau đây của một người trong cuộc:
“Chỉ
mấy trang mà viết đầy đủ cả một biến cố rất nhiều
phức tạp. Riêng phần tôi, vì có dính dáng vào cuộc cách
mạng 1.11.63, đọc bài của Nguyên Nhuận tôi hết sức xúc
động. Đọc xong tôi muốn khóc. Cảm ơn Hoàng Nguyên Nhuận.
Đỗ Mậu.”