TUYỆT THỰC
NĂM 63 TẠI CHÙA TỪ ĐÀM
Hồi
ký BS ERICH WULFF
Minh
Nguyện (Việt dịch)
Lời
người dịch : Đây là bài thứ hai trích dịch từ
quyển Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt
Nam), Suhrkamp Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972,
trang 150 đến 157, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu
của Erich Wulff. Ông này là bác sĩ người Đức dạy tại trường
Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ
viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ,
tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế
đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và
đã trình bày sự kiện này trước uỷ ban điều tra đàn áp
Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.
Bài
thứ hai này nói về cuộc tuyệt thực tại chùa Từ Đàm và
các cuộc biểu tình của Phật tử Huế đòi nhà cầm quyền
thực thi 5 nguyện vọng của Phật giáo (1).
Sau
thời hạn tối hậu thư 14 ngày đối với chính quyền ông
Diệm trôi qua, các nhà sư tại Huế bắt đầu tuyệt
thực. Họ đã yêu cầu vị bác sĩ giám đốc bệnh viện trung
ương Huế theo dõi sức khoẻ trong khi họ tuyệt thực, nhưng
vị này, cũng như tất cả các bác sĩ khác của thành phố,
đã
từ chối, ngay cả việc đặt chân đến cổng chùa. Ba ngày
sau đó khi một vài vị sư lớn tuổi bắt đầu bị hôn mê,
họ đã cầu cứu đến chúng tôi. Tôi đến tiếp xúc lần
nữa với bác sĩ khoa trưởng y khoa để yêu cầu ông ta thi
hành nhiệm vụ thầy thuốc của mình, nhưng ông ta vẫn lắc
đầu từ chối. Do đó tôi đã đi cùng với Hans đến chùa
Từ Đàm.
Tại
cuộc thăm viếng chùa Từ Đàm lần đầu này tôi mới làm
quen với Thượng tọa Thích Trí Quang. Thân hình mảnh khảnh,
nhỏ nhắn của ông ta chỉ như là được dùng để mang một
đầu tượng người La mã được đẻo bằng cẩm thạch. Vần
trán cao, vòm cong, cặp mắt to, với cái nhìn xuyên thâu, lổ
mũi rộng và đôi môi đầy đặn bày tỏ một sự hài hòa
trong sự cấu trúc của con người ông ta. Toàn khuôn mặt đã
lôi cuốn cái nhìn đến độ người đối diện không có cơ
hội để ngắm ông ta. Tình cảm hăng say và lòng nôn nóng
vẫn còn ngự trị nơi con người ông ta, trái với điều mà
tôn giáo của ông ta đòi hỏi. Trong khi nói chuyện Sư Trí
Quang chứng tỏ một sự thông minh tuyệt vời, nắm hiểu rất
nhanh điều cốt yếu ; Sư cũng có một vốn kiến thức
dồi dào về văn hóa và lịch sử của vùng Đông Á châu.
Nhưng ông ta rất ít quan tâm đến nền chính trị
và khung cảnh văn hóa của Tây phương và có ít nhiều thành
kiến về các vấn đề này. Sư ý thức được sức mạnh
lôi cuốn của chính mình đối với đám đông và biết cách
để sử dụng. Bằng những cuộc vận động đám đông quần
chúng trong các thành phố và với áp lực của dư luận quốc
tế, Sư hy vọng có thể giành phần thắng trong cuộc đụng
độ này với chế độ ông Diệm. Đây không phải chỉ là
chuyện lật đổ gia đình họ Ngô hay trả lại cho Phật giáo
những quyền lợi từ xưa. Một người giảng nghiệm viên
đại học Huế sau này đã kể lại cho tôi nghe rằng trong
cuộc họp quan trọng với các thủ lãnh thanh niên Phật tử
vào sáng ngày 9 tháng 5 1963, Sư Trí Quang đã tuyên bố rằng
cuộc tranh đấu bắt đầu hôm nay sẽ chấm dứt với sự
vãn hồi hòa bình cho đất nước. Tất cả mọi người phải
ý thức những ngày cam ngo sắp tới và đôi lúc phải chấp
nhận những sự thất bại tạm thời.
Sư
Trí Quang đã bày ra trước mặt những bản dịch tiếng Việt
của các bài báo tờ Le Monde và New York Times tường thuật
về các biến cố tại Huế. Những lời kêu gọi của Sư đến
Tổng thư ký Liên hiệp quốc U Thant và Tổng thống Kennedy
cũng được nhắc nhở trong các bài báo đó. Những chuyến
đi của chúng tôi qua Căm bốt hay vào Saigòn như thế đã không
đến nỗi hoài công. Tuy nhiên sự việc này cũng vẫn chưa
trở thành những hàng tít lớn trên các báo chí thế giới,
mà vẫn còn phải nằm một cách khiêm nhường ở trang 3, 4
hay 5. Chưa ai thấy được tính cách bùng nổ của cuộc khủng
khoảng này.
Trong
thời gian các nhà sư tuyệt thực, lần đầu tiên tôi thấy
một cuộc biểu tình lớn của quần chúng phật tử. Hai đoàn
người dài vô cùng từ hai phía khác nhau đã đến tập trung
trước tòa Tỉnh trưởng. Dẫn đầu mỗi đoàn là các vị
tu sĩ Phật giáo bận áo vàng nghiêm trang. Theo sau là các gia
đình phật tử, công nhân, sinh viên, học sinh, tiểu thương
cũng như phụ nữ đủ lứa tuổi. Có khoảng 7000 đến
8000 người biểu tình. Không có gì đáng tiết xảy ra. Cuộc
biểu dương lực lượng diễn ra trong sự im lặng trang trọng.
Thỉnh thoảng đám đông cất lên lời niệm Phật đồng điệu.
Trên các biểu ngữ có ghi những điều đòi hỏi và phản
đối của họ bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Sau
đó chúng tôi được biết rằng viên tỉnh trưởng, vì có
cảm tình với Phật giáo nên đã ra lệnh cho cảnh sát phải
tự chế. Và cũng vì điều đó mà ông đã bị cách chức
sáng sớm ngày hôm sau cùng lúc với vị Đại biểu chính phủ
Trung nguyên Trung phần. Một viên chức thân tín của ông Diệm
đã được cử ra Huế với nhiều quyền hành mới và
đã đến nhận nhiệm sở tại Tòa Đại biểu chính phủ.
Ông ta tên là Nguyễn văn Khương (2). Một ngày sau khi nhậm
chức ông ta mời tất cả bác sĩ người Đức đến dự buổi
trà đàm ban sáng.
Tôi
chỉ biết rằng tôi đã được mời đến gặp riêng nửa
giờ trước các bạn đồng nghiệp khác khi tôi cùng ngồi
với ông ta trên chiếc ghế bành bọc lụa tại phòng khách
giữa các độc bình bằng sứ và các ngà voi to tướng. Ông
ta tìm cách thuyết phục tôi, rằng ông ta muốn biết rõ hết
tất cả sự thật để về trình lại cho Tổng thống Diệm
và cũng để thỏa mãn các đòi hỏi của Phật giáo. Với
tư cách là một người phật tử, ông phải có nhiệm vụ
ngăn cản các cuộc đổ máu khác. Ông ta có đầu tóc ngắn
cúp ca-rê và khuôn mặt hơi thô, không phải là không thông
minh nhưng nét mặt có vẻ đầy bí ẩn đã tìm cách nói như
rót mật vào tai tôi. Tôi có mất mát gì đâu ? Tôi đã kể
cho ông ta nghe tất cả những gì tôi biết về đêm 8 tháng
5, điều mà ông ta hẳn đã biết, vì nếu không tại sao ông
ta lại mời tôi đến sớm hơn các người khác. Ông Khương
chăm chú lắng nghe tôi kể chuyện và làm như là ông ta cám
ơn tôi vô cùng. Tôi cũng kể với ông ta rằng tôi và Hans
đã phải chăm sóc các tăng sĩ Phật giáo đang tuyệt thực,
sau khi không có một bạn đồng nghiệp người Việt nào nhận
làm công việc đó. Ông ta tỏ ra rất cảm động vì hành vi
này của chúng tôi và hầu như ra lệnh chúng tôi phải tiếp
tục công tác y tế đó. Ông ta còn hứa sẽ cấp cho tôi giấy
phép để được phép đi ngang qua các hàng rào chắn của cảnh
sát, trong trường hợp tôi bị gặp khó khăn. Tất cả những
lời hứa hẹn và vỗ về này của ông ta thật ra chỉ là
ở đầu môi chót lưỡi, và chính ngay lúc đó có lẽ ông
ta đã quyết định bắt giam tôi vào chiều hôm ấy. Điều
này cũng không làm cho tôi sau này bực mình.
Vào
cuối cuộc nói chuyện của chúng tôi thì có các đồng nghiệp
Đức xuất hiện, những người này đã ở trong nhà vào buổi
tối đặc biệt nói trên. Họ không muốn bàn thảo gì cả
và nói rằng những chuyện gì xãy ra tại đây không dính dấp
gì đến họ cả. Họ cũng không biết gì nhiều. Nhà cầm
quyền ở đây nên làm những gì cần thiết. Chỉ có bác sĩ
nội thương người Thuỵ sĩ bật ra lời tiên đoán rằng người
nào dùng bạo lực, sẽ chết dưới tay bạo lực. Ông Khương
tức thì trả lời một cách nhã nhặn rằng ông ta không bao
giờ nghĩ đến chuyện sẽ dùng bạo lực. Ngược lại ông
ta đã ra lệnh tháo gỡ các hàng rào chắn ngăn cản các lối
đi đến các chùa. Vấn đề Phật giáo chỉ được giải quyết
bằng thương lượng và lý trí ; những gì đắng cay chỉ làm
cho sự việc trầm trọng thêm lên.
Rất
tiếc là tôi đã tin vào những lời hứa hẹn của ông Khương
vào lúc đó. Những lời nói này làm tôi chùn bước và cảm
thấy bối rối. Trong lúc ông Khương đang còn nói chuyện,
những lời tụng kinh của các phật tử lọt vào đến tận
phòng khách, xen lẫn với những lời hô hào càng lúc càng
lớn. Các vị đồng nghiệp có gia đình từ từ xin phép ra
về trước ; vì trong tình trạng hổn loạn trên đường phố
hiện nay, chúng tôi không thể để gia đình một mình được,
họ nói với ông Khương như thế. Sau rốt chỉ còn lại Hans
và tôi. Ông Khương đưa chúng tôi ra cửa. Khoảng 150
đoàn viên gia đình phật tử đang ngồi trước hàng rào kẽm
ngai ngăn không cho lên phía chùa Từ Đàm. Họ đang ngồi xếp
bàn thế hoa sen và thầm niệm Phật. Xung quanh họ gần hàng
rào và vườn trồng hoa, có khoảng 500 học sinh và sinh viên
hô các khẩu hiệu lên án chế độ. Khi Hans và tôi xuất hiện
thì đám đông hò reo vang dậy. Những lời hô hào là do một
trong những người sinh viên trò y khoa của tôi tên là Phan
(3) khởi xướng. Phía bên kia đường là một đoàn lính trang
bị bằng mặt nạ chống hơi ngạt và khiên chống bằng sắt.
Họ đã nhắt lưỡi lê lên nòng súng và trông giống như những
người máy tự động trong các phim khoa học giả tưởng. ‘Trời
ơi, các ông phải kêu gọi các sinh viên này im đi chớ, có
thể họ chỉ nghe lời các ông mà thôi’. Có lẽ sự lo sợ
đã xâm chiếm tâm hồn ông ta, vì giữa tòa nhà của ông ta
và các người biểu tình không có một toán lính hay hàng rào
chắn nào cả. ‘Ông hãy bảo đoàn lính không được đâm
chém ai cả’, Hans đề nghị như thế. Ông ta vội hứa liền.
Có thể lúc đó ông ta cũng sẽ hứa nhiều điều khác nữa.
Ông ta vội chạy lui vào trong tòa nhà và lẫn vào trong đám
người cộng sư viên của ông ta đang đứng tại phía sau.
Đoàn
lính đã không đâm chém ai cả, nhưng đã quăng nhiều bình
lựu đạn màu nâu có chứa một chất lỏng mau bốc khói vào
phía các sinh viên. Những người nào đứng xa như Hans
và tôi, thì cảm thấy như là các chất cay mắt. Ông Khương
và các cọng sự viên của ông đứng phía trong cũng chảy
nước mắt tràn xuống má. Họ chạy đến chúng tôi hỏi phải
làm gì để bớt cay. ‘Quí vị nên đi rửa mắt ngay liền’,
tôi khuyên như thế. Nhưng đối với những người khác thì
đã quá trễ. Vì ngoài kia, trước tòa Đại biểu, trên những
con đường dẫn đến chùa Từ Đàm cũng đã xãy ra tình cảnh
tương tự. Các phật tử, phần nhiều là giới trẻ đã biểu
tình ngồi trước các hàng rào chắn, chung quanh là đám quần
chúng bất bình bắt đầu la ó và do vậy lính đã quăng các
bình khí cay kia về phía họ.
Đến
tối hôm đó tôi mới thấy đước hậu quả tai hại : độ
chừng 70 phật tử, phần lớn đang còn trẻ, đã bị phỏng
nặng vì chất khí lỏng màu nâu kia. Toàn thể thân họ đã
bắt đầu nổi lên những hạt bong với một vài vạc
da như bị lột tróc. Vài người trẻ đã bị mù mắt một
thời gian ngắn, vài người khác thì bị bất tỉnh, và chỉ
hồi tỉnh lại sau khi được tiêm nước biển hằng giờ.
Nếu không có sự chăm sóc y tế tức thời, có lẽ đã có
vài người bị bỏ mạng. Đây là những thương tích và biến
chứng lạ kỳ của loại lựu đạn cay kia. Cho nên Hans vì
có nhiều bệnh nhân như vậy nên đã tìm cách liên lạc với
ông Khương và viên đại tá Chỉ huy trưởng tên là Đỗ cao
Trí đề hỏi về thành phần hóa học của loại khí lỏng
cay kia, hầu tìm cách chửa trị thích ứng. Nhưng anh ta chỉ
nhận được những câu trả lời vu vơ : Vâng nhà chức trách
sẽ tìm hiểu thêm, nhưng chắc chắn đây chỉ là loại đạn
cay ‘thông thường’ mà thôi.
Một
tháng rưỡi sau đó, tại Tokyo, nơi bà Lily Abegg làm phóng viên
cho tờ Frankfurter Allgemeine đã tìm ra một phần nào lời giải
đáp. Bà đã đọc trong một bài báo từ Đông Âu cho biết
rằng người Mỹ đang thí nghiệm một loại khí độc mới
để chống Việt cộng. Những vết thương và bệnh tình được
tả giống y hệt như những gì chúng tôi đã thấy ở Huế.
Bà Abegg, vốn là người Thuỵ sĩ rất can đảm để bênh vực
cho sự thật, trước đây đã có ý xem đó là những tuyên
truyền vu khống của phe cộng sản. Nhưng sau khi nghe những
lời thuật của chúng tôi thì bà liền đổi ý. Mặc dầu
vẫn còn lập trường chống côïng kịch liệt, bà ta là người
phóng viên Tây phương đầu tiên đã đưa tin vào tháng 7 -1963
về sự sử dụng các chất độc hóa học của chính quyền
ông Diệm và các cố vấn người Mỹ và đã lên án nặng
nề việc này trong một bài bình luận.
Vài
giờ sau khi tham dự buổi tiếp tân của ông Khương, tôi ngồi
trên một chiếc xe xích lô để đi đến bệnh viện theo một
con đường nhỏ. Các con đường lớn đều đã bị chận cả
rồi. Đột nhiên có tiếng rít của một chiếc xe cảnh
sát chạy nhanh đến chấn đường trứơc chiếc xe chở tôi.
Một người cảnh sát ốm o, có màu da nâu đậm và mặc áo
thường dân nhảy đến với khẩu súng lục chỉ vào tôi và
hét to rằng : ‘Nhân danh luật pháp tôi bắt ông’. Tôi bị
lôi lên xe Jeep mất cả giày dép và chiếc xe lại vội phóng
đi.
Tôi
bắt đầu lo sợ thật sự và tìm kiếm những khuôn mặt quen
ở hai bên đường nhưng không thấy ai. Dầu vậy thỉnh thoảng
tôi vẫn giơ tay ra ngoài xe để vẫy một người quen giả
tưởng nào đó. Chiếc xe Jeep chạy nhanh qua cầu với còi hụ
và hình như hứơng về phía đường đi ra Quảng Trị. Có
lẽ người ta muốn dẫn tôi đến một chỗ vắng vẻ nào
đó để bắn chết tôi và đổ vấy cho Việt cộng chăng ?
Tôi hỏi tên cảnh sát mật vụ kia về giấy phép bắt giam
tôi ; một tên mật vụ chính hiệu với chiếc áo sơmi đen,
đeo kính râm và tóc chải dầu láng cón. Tên mật vụ trả
lời, tôi bắt ông đâu cần phải có giấy tờ gì. Tôi lấy
lại bình tĩnh và từ tốn nói với anh ta rằng, các bạn bè
quen biết đã thấy tôi bị bắt khi nãy và đang trên đường
đi để đến báo động tòa Lãnh sự Mỹ ; cả thế giới
sẽ được thông báo tức khắc về việc tôi bị cảnh sát
bắt cóc. Nếu sau ba tiếng đồng hồ tôi không được thả
về, các tờ báo lớn tại Aâu châu và Mỹ sẽ lên án việc
bắt bớ bất hợp pháp này. Tôi hỏi anh ta không lo sợ về
các khó khăn ngoại giao quốc tế sẽ do vụ này gây ra hay
sao ? Có lẽ nổi lo lắng của tôi cũng hơi thái quá; cũng
có thể các lời nói của tôi đã làm anh ta suy nghĩ lại.
Chiếc xe Jeep lại đổi hướng và đi vào trong Thành nội,
nơi có Tổng hành dinh của Sư đoàn 1. Ở đó, tôi bị đưa
vào trong một căn phòng nhỏ.
Tôi
ở đó một mình không lâu. Khoảng nửa giờ sau một người
trẻ tuổi mặt mày hơi bạc nhược và có đeo kính bước
vào. Những vết thâm quần đen quanh đôi mắt, các ngón tay
run rẩy, được che dấu một cách e thẹn dưới gầm bàn và
nụ cười ngượng ngạo đã tiết lộ sự thất bại của
anh ta trong cố gắng giữ gìn đạo đức và sạch sẽ mà tôn
giáo của anh ta và bà Nhu đã biểu anh ta phải tuân theo. Mặc
dầu đeo một chiếc thánh giá nằm phía sau chiếc áo, anh ta
vẫn tự giới thiệu là một phật tử và là một đồ đệ
trung thành của Thượng tọa Trí Quang. Anh ta chỉ muốn nghe
tôi ‘‘giảng’’ cho anh ta về các chuyện đã xảy ra sáng
hôm nay ; anh ta mong tôi nói ra tên của các người sinh viên
đã tổ chức cuộc biểu tình. Anh ta muốn tìm cách cứu các
người đó để không bị cảnh sát bắt và muốn làm việc
chung với họ. Anh ta cảm phục tôi đúng theo truyền thống
Khổng giáo là một vị Thầy đáng kính. Anh ta chắc chắn
đã chờ đợi rằng tôi không tin tưởng ở các lời nói của
anh ta. Nhưng với những lời lẽ đón rào và tâng bốc như
thế, anh ta muốn tôi nói mà không bị mất mặt. Tôi chờ
đợi anh ta nói xong hết rồi tôi mới nói lời khuyên anh ta
rằng hãy điện thoại cho ông Đại biểu Khương để xin phép
thả tôi ra, nếu không ngày mai đài BBC và các đài quốc tế
khác sẽ đưa tin về sự bắt bớ trái phép người ngoại
quốc ở tại Việt Nam. Điều này hẳn đã gây ấn tượng
mạnh lên anh ta. Anh ta đi ra ngoài và để cửa phòng mở. Sau
một giờ điện thoại huyên thuyên đi khắp nơi từ phòng
bên cạnh, anh ta trở lại, nói lời xin lỗi đã bắt ‘lầm’
tôi và mời tôi lên một chiếc xe Jeep để được đưa về
nhà, nhưng lần này người hộ tống không có mang súng ống.
Tôi có gặp lại tên mật vụ này sau đó vào tháng 7-1964 tại
phi trường Sài gòn, lúc tôi chuẩn bị lấy máy bay để đi
Hồng công và Đài Bắc. Như thế sau khi ông Diệm đổ, anh
ta vẫn tiếp tục hành nghề như cũ. Anh ta nóng lòng muốn
biết tên những người mà tôi sẽ tìm gặp tại Hồng Kông.
Lần này anh ta tự giới thiệu làm nghề ký giả tự do. Vì
vào thời gian đó tôi có năm người bạn là thành viên của
nội các chính phủ, nên tôi đã dễ dàng cho anh ta ra rìa.
Tôi hỏi tên anh ta là gì và nói rằng, Thủ tướng Phan huy
Quát và Bộ trưởng Bùi tường Huân sẽ để ý đến tài
năng đặc biệt của anh ta. Anh ta liền vội vàng từ giã tôi.
Sau
khi được thả ra, tôi đi đến bệnh viện, Hans
chỉ cho tôi những người nạn nhân của chất lựu đạn cay
và sau đó tôi lên chùa Từ Đàm để thăm các bệnh nhân khác
của chúng tôi. Thượng tọa Trí Quang vừa cười vừa chào
đón tôi. Chỉ nửa giờ sau khi tôi bị bắt, Thượng toạ
đã được thông báo và dự định tổ chức một cuộc biểu
tình vào ngày mai. Và nay thì cuộc biểu tình đó được bãi
bỏ.
BS
ERICH WULFF
(Minh
Nguyện trích dịch, Tây Đức tháng 8-2001)
Ghi
chú của người dịch :
Năm
nguyện vọng là : 1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cọng hòa
thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ Phật giáo
; 2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ
đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa giáo đã được
ghi trong đạo Dụ số 10 ; 3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt
tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo ; 4.
Yêu cầu cho tăng ni Phật giáo được tự do truyền đạo và
hành đạo ; 5. Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng
đáng cho những kẻ chết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết
hại phải đền tội xứng đáng.
Bản
tuyên ngôn ngày 10-5-1963 mang chữ ký của Hoà thượng Thích
Tịnh Khiết, hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Thượng
tọa Thích Mật Nguyện, đại diện Giáo hội Tăng già Trung
phần, Thượng tọa Thích Trí Quang, đại diện hội Phật giáo
Việt Nam tại Trung phần, Thượng tọa Thích Mật Hiển, đại
diện Phật giáo Thừa thiên và Thượng toạ Thích Thiện Siêu,
đại diện Tỉnh hội Phật giáo Thừa thiên (Xem Việt Nam Phật
giáo sử luận quyển III, Nguyễn Lang, Nhà Xuất bản Lá Bối
, San José, CA-USA, 1993, trang 346-347 và Lịch sử tranh đấu Phật
giáo Việt Nam tập I, Kiêm Đạt, Phật học viện quốc tế
xuất bản , Los Angeles, CA-USA,1981, trang 86 và128).
Trùng
tên với vị tiền nhiệm là ông Hồ Đắc Khương.
Tức
Hoàng phủ Ngọc Phan, nay là một nhà thơ và nhà báo tại Sàigòn.