Nguyên
tác: "Stream Entry - A Study Guide", Bhikkhu Thanissaro, Access to Insight
website, www.accesstoinsight.org
Tham
khảo: Đại tạng kinh Việt Nam, Hòa thượng Thích Minh Châu
dịch Việt.
Dẫn
nhập
Thân
cận bậc Chân nhân là Dự lưu phần.
Nghe
diệu pháp là Dự lưu phần.
Như
lý tác ý là Dự lưu phần.
Thực
hành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần.
[Tương
Ưng 55.11]
Dự
lưu là quả vị đầu tiên của bốn quả vị thánh giải thoát
(Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán). Danh từ "Dự lưu" có
nghĩa là nhập dòng, để chỉ một người đã nhập dòng thánh
giải thoát chắc chắn đưa đến Niết-bàn. Vị đó sẽ hoàn
toàn giác ngộ, chậm nhất là trong bảy kiếp sống, và trong
các kiếp đó sẽ không bao giờ tái sinh tại các đọa xứ
(thú vật, địa ngục, ngạ quỷ, a-tu-la).
Các
đoạn kinh trích dẫn ở đây được sắp xếp theo bốn yếu
tố nêu ra ở trên, và đồng thời có liên hệ đến những
câu hỏi của các thiền sinh, cho dù pháp hành của họ có
nhắm đến Giác ngộ hay không: Làm thế nào để nhận biết
một vị chân sư? Làm thế nào để phân biệt Chân pháp và
Ngụy pháp? Lắng nghe Diệu Pháp sẽ được lợi ích gì? Chúng
ta phải tự vấn như thế nào trong quá trình tu tập? Các pháp
hành nào là tương hợp với Chánh pháp? Trong khi tu tập, chúng
ta cần phải tăng trưởng các phẩm hạnh nào để được
nhiều lợi lạc?
-----*-----
1.
Thân cận bậc Chân nhân
Đối
với vị Tỳ-khưu hữu học, Ta không thấy một chi phần nào
khác,
được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỳ-khưu, tức
là làm bạn với thiện. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu làm
bạn với thiện, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
Tỳ-khưu
làm bạn thiện,
Tôn
kính và kính trọng,
Làm
theo những lời nói,
Của
bạn bè thân hữu,
Tỉnh
giấc và chánh niệm,
Vị
ấy sẽ tuần tự,
Ðạt
được sự hoại diệt,
Tất
cả mọi kiết sử.
[Phật
thuyết như vậy, 17]
*
Tôn
giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ànanda
bạch Thế Tôn:
--
Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu
(kalyàsamittatà), thiện bạn đãng (kalyànasahàyatà),
thiện thân tình (kalyàsam-pavankatà).
--
Chớ có nói vậy, này Ànanda! Chớ có nói vậy, này Ànanda!
Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ànanda, là thiện bạn hữu, thiện
bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-khưu thiện bạn hữu,
thiện bạn
đãng, thiện thân tình, này Ànanda, thời
được
chờ đợi Thánh đạo Tám ngành
được tu tập, Thánh đạo
Tám ngành
được làm cho viên mãn.
Và
này Ànanda, thế nào là Tỳ-khưu thiện bạn hữu, thiện bạn
đãng,
thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám
ngành? Ở
đây, này Ànanda, Tỳ-khưu tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly, liên hệ
đến ly tham, liên hệ
đến
đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-khưu tu tập chánh tư
duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh
mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập
chánh định liên hệ
đến viễn ly, liên hệ
đến ly tham,
liên hệ
đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy,
này Ànanda, là Tỳ-khưu thiện bạn hữu, thiện bạn đãng,
thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung
mãn Thánh đạo Tám ngành.
Này
Ànanda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu thế
nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn
đãng, thiện thân tình. Do Ta lấy thiện làm bạn hữu, này
Ànanda, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi
sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các
chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng
sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu,
bi, khổ, ưu, não. Chính với pháp môn này, này Ànanda, các
Ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện
bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
*
Này
cư sĩ Byagghapajja, thế nào là làm bạn với thiện? Ở
đây,
này Byagghapajja, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị
trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những
trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn
tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin,
đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ,
vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người
đầy
đủ lòng tin, vị ấy học tập với
đầy đủ lòng tin. Với
những người
đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với
đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí,
vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người
đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí
tuệ. Này Byagghapajja,
đây gọi là làm bạn với thiện.
Và
này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ lòng tin? Ở đây, này
Byagghapajja, thiện nam tử có lòng in, tin tưởng ở sự giác
ngộ của Như Lai: "Ðây là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri,
Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều
ngự trượng phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn". Này Byagghapajja,
đây gọi là
đầy đủ lòng in.
Và
này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ giới đức? Ở đây,
này Byagghapajja, thiện nam tử từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy
của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ đắm
say rượu men, rượu nấu. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy
đủ giới đức.
Và
này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ bố thí? Ở đây, này
Byagghapajja, thiện nam tử sống ở gia
đình, với tâm không
bị cấu uế, xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn
tay mở rộng, vui thích từ bỏ, sẵn sàng
để được yêu
cầu, vui thích chia xẻ vật bố thí. Này Byagghapajja, đây gọi
là
đầy đủ bố thí.
Và
này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ trí tuệ? Ở đây, này
Byagghapajja, thiện nam tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ
về sanh diệt, với thánh thể nhập (quyết trạch), chơn chánh
chấm dứt khổ
đau. Này Byagghapajja,
đây gọi là đầy đủ
trí tuệ.
*
Phàm
một người nào đã vi phạm một pháp, Ta nói rằng không có
ác nghiệp nào vị ấy không làm được. Thế nào là một
pháp? Này các Tỳ-khưu, tức là rõ biết mà nói láo.
Người
nào đã nói láo,
Là
vi phạm một pháp,
Không
kể đến đời sau,
Không
ác gì không làm.
[Phật
thuyết như vậy, 25]
*
- Này
các Tỳ-khưu, có đầy đủ ba đức tánh, một người bạn
cần được thân cận. Thế nào là ba? Ở
đây, này các Tỳ-khưu,
Tỳ-khưu cho
điều khó cho, làm
điều khó làm, nhẫn
điều
khó nhẫn. Này các Tỳ-khưu,
đầy đủ ba đức tánh, một
người bạn cần được thân cận.
*
Ba
pháp này, này các Tỳ-khưu, được người Hiền trí tuyên
bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Thế nào là ba? Bố thí,
này các Tỳ-khưu, được người Hiền trí tuyên bố, được
bậc Chân nhân tuyên bố. Xuất gia, này các Tỳ-khưu, được
người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố.
Hầu hạ cha mẹ, này các Tỳ-khưu, được người Hiền trí
tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Ba pháp này, này
các Tỳ-khưu, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc
Chân nhân tuyên bố.
*
Này
các Tỳ-khưu, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân?
Người không phải Chân nhân, này các Tỳ-khưu, không biết
ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây
là
đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-khưu,
tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là
địa
vị kẻ không Chân nhân, này các Tỳ-khưu, tức là không biết
ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỳ-khưu, là
biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là
đặc
tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-khưu, tức là
biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân,
này các Tỳ-khưu, tức là biết ơn, nhớ ơn.
*
Này
các Tỳ-khưu, với cộng trú, giới cần phải được hiểu
biết, như vậy, trong một thời gian dài, không thể khác
được,
có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải
với liệt tuệ.
Này
các Tỳ-khưu, với cùng một nghề, thanh tịnh liêm khiết cần
phải
được hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài,
không thể khác được, có tác ý, không có không tác ý, với
trí tuệ, không phải với liệt tuệ.
Này
các Tỳ-khưu, trong những hoạn nạn, sức kiên trì cần phải
được
hiểu biết, như vậy, trong một thời gian dài, không thể khác
được, có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không
phải với liệt tuệ.
Này
các Tỳ-khưu, với đàm luận, trí tuệ cần phải được hiểu
biết, như vậy, trong một thời gian dài, không thể khác được,
có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải
với liệt tuệ.
(1)
Này các Tỳ-khưu, với cộng trú, giới cần phải được hiểu
biết, như vậy, trong một thời gian dài, không thể khác
được,
có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải
với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên gì
được
nói đến như vậy?
Ở
đây, này các Tỳ-khưu, có người do cộng trú với một người
khác biết được như sau: "Trong một thời gian dài, vị Tôn
giả này làm giới bị bể vụn, làm giới bị cắt xén, làm
giới bị vết nhơ, làm giới bị chấm, đen, làm việc không
có liên tục, hạnh kiểm không có liên tục trong các giới.
Ác giới là Tôn giả này, Tôn giả này không giữ giới".
Nhưng
ở đây, này các Tỳ-khưu, người này do cộng trú với người
kia, biết như sau: "Trong một thời gian dài, vị Tôn giả này
không làm giới bị bể vụn, không làm giới bị cắt xén,
không làm giới bị vết nhơ, không làm giới bị chấm, đen,
làm việc có liên tục, hạnh kiểm có liên tục trong các giới.
Giữ giới là Tôn giả này, Tôn giả này không phải ác giới".
Này
các Tỳ-khưu, với cộng trú, giới cần phải được hiểu
biết, như vậy, trong một thời gian dài, không có tác ý vấn
đề
khác, không có không tác ý, với trí tuệ, không phải với
liệt tuệ. Như vậy được nói đến, do duyên này
được
nói đến như vậy.
(2)
Này các Tỳ-khưu, với cùng chung làm một nghề, thanh tịnh
liêm khiết cần phải được hiểu biết. Như vậy trong một
thời gian dài, không thể khác được, có tác ý, không có
không tác ý, với trí tuệ, không phải với liệt tuệ, như
vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở
đây, này các Tỳ-khưu, một người do cùng làm một nghề
với một người khác, biết được như sau: "Khác thay, vị
Tôn giả này khi làm việc với một người; khác thay, với
hai người; khác thay, với ba người; khác thay, với nhiều
người, làm trái ngược là vị Tôn giả này, các sở hành
trước khác với sở hành sau. Không thanh tịnh là sở hành
của vị Tôn giả này. Vị Tôn giả này có sở hành không
thanh tịnh. Nhưng ở
đây, này các Tỳ-khưu, một người do
cùng làm một nghề với một người khác, biết được như
sau: "Như thế nào, Tôn giả này khi làm việc với một người,
như thế ấy với hai người, như thế ấy với ba người,
như thế ấy với nhiều người, không làm trái ngược là
vị Tôn giả này, các sở hành trước giống với sở hành
sau. Thanh tịnh là sở hành của vị Tôn giả này."
Này
các Tỳ-khưu, với cùng chung làm một nghề, thanh tịnh liêm
khiết cần phải
được hiểu biết, như vậy trong một thời
gian dài, không thể khác được, có tác ý, không có không
tác ý, với trí tuệ, không phải với liệt tuệ, như vậy
được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
(3)
Này các Tỳ-khưu, trong các hoạn nạn, sức kiên trì cần phải
được
hiểu biết. Như vậy trong một thời gian dài, không thể khác
được, có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không
phải với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên gì
được nói đến như vậy?
Ở
đây, này các Tỳ-khưu, có người cảm thọ bà con bị ách
nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn, cảm thọ sức khỏe
bị ách nạn, suy nghĩ như sau: "Bản chất như vậy là sự
an trú thế giới này; Bản chất như vậy là bản tánh tự
ngã có được này; Bản chất như vậy là sự an trú thế
giới. Bản chất như vậy là có được bản tánh tự ngã.
Tám thế giới pháp này vận chuyển thế giới, và thế giới
vận chuyển tám pháp, tức là, lợi và thất lợi, không danh
tiếng và danh tiếng, chê và khen, lạc và khổ". Người ấy,
cảm thọ bà con bị ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn,
cảm thọ sức khỏe bị ách nạn, sầu muộn, than van, khóc
lóc,
đập ngực, rơi vào bất tỉnh.
Nhưng
ở đây, này các Tỳ-khưu, có người cảm thọ bà con bị
ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn, cảm thọ sức khỏe
bị ách nạn, suy nghĩ như sau: "Bản chất như vậy là sự
an trú thế giới này; Bản chất như vậy là bản tánh tự
ngã có được này; Bản chất như vậy là sự an trú thế
giới. Bản chất như vậy là có
được bản tánh tự ngã.
Tám thế giới pháp này vận chuyển thế giới, và thế giới
vận chuyển tám pháp, tức là, lợi và thất lợi, không danh
tiếng và danh tiếng, chê và khen, lạc và khổ". Người ấy
cảm thọ bà con bị ách nạn, cảm thọ tài sản bị ách nạn,
cảm thọ sức khỏe bị ách nạn, không sầu muộn, không than
van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.
Này
các Tỳ-khưu, trong các hoạn nạn, sức mạnh kiên trì cần
phải
được hiểu biết. Như vậy trong một thời gian dài,
không thể khác được, có tác ý, không có không tác ý, với
trí tuệ, không phải với liệt tuệ, như vậy được nói
đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
(4)
Này các Tỳ-khưu, trong đàm luận, trí tuệ cần phải được
hiểu biết. Như vậy trong một thời gian dài, không thể khác
được, có tác ý, không có không tác ý, với trí tuệ, không
phải với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên gì
được nói đến như vậy?
Ở
đây, này các Tỳ-khưu, có người, do
đàm luận với một
người khác, biết như vầy: "Vị Tôn giả này, đối một
câu hỏi như vậy, phản ứng là như vậy, giải đáp câu hỏi
là như vậy, thời liệt tuệ là Tôn giả này, Tôn giả này
không có trí tuệ. Vì sao? Vì Tôn giả này không nói lên câu
nghĩa sâu sắc an tịnh, thù thắng, vượt ngoài lý luận suông,
tế nhị, được người hiền trí cảm thọ. Còn về pháp,
vị này thuyết giảng, vị ấy không có khả năng, hoặc tóm
tắt, hoặc rộng rãi, nói lên ý nghĩa, thuyết giảng, trình
bày, an lập, mở rộng, phân tích, phát lộ. Liệt tuệ là
vị Tôn giả này, vị Tôn giả này không có trí tuệ". Ví
như, này các Tỳ-khưu, một người có mắt,
đứng trên bờ
một hồ nước, thấy một con cá nhỏ nổi lên, người ấy
suy nghĩ như sau: "Như vậy, con cá này nổi lên; như vậy, làm
cho gợn sóng; như vậy là độ nhanh của nó. Nhỏ bé là con
cá này, con cá này không lớn".
Cũng
vậy, này các Tỳ-khưu, có người do đàm luận với một người
khác, biết như vầy: "Vị Tôn giả này,
đối một câu hỏi
như vậy, phản ứng là như vậy, giải đáp câu hỏi là như
vậy, thời có trí tuệ là Tôn giả này, Tôn giả này không
phải là liệt tuệ. Vì sao? Vì Tôn giả này nói lên câu nghĩa
sâu sắc an tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế
nhị, được người hiền trí cảm thọ. Còn về pháp, vị
này thuyết giảng, vị này có khả năng, hoặc tóm tắt, hoặc
rộng rãi, nói lên ý nghĩa, thuyết giảng, trình bày, an lập,
mở rộng, phân tích, phát lộ. Có trí tuệ là vị Tôn giả
này, vị Tôn giả này không phải là liệt tuệ". Ví như, này
các Tỳ-khưu, một người có mắt,
đứng trên bờ một hồ
nước, thấy một con cá lớn nổi lên, người ấy suy nghĩ
như sau: "Như vậy, con cá này nổi lên; như vậy, con cá này
làm cho gợn sóng; như vậy là độ nhanh của nó. To lớn là
con cá này, con cá này không nhỏ".
Này
các Tỳ-khưu, trong đàm luận, trí tuệ cần phải được hiểu
biết. Như vậy trong một thời gian dài, không thể khác được,
có tác ý, không phải không tác ý với trí tuệ, không phải
với liệt tuệ, như vậy được nói đến. Do duyên này được
nói đến như vậy.
*
--
Này các Tỳ-khưu, một người bất chánh (asappurisa) có
thể biết một người bất chánh: "Người bất chánh là vị
này", hay không?
--
Bạch Thế Tôn, không biết được.
--
Lành thay, này các Tỳ-khưu! Này các Tỳ-khưu, không thể có
sự tình, không thể có sự kiện, một người bất chánh có
thể biết một người bất chánh: "Người bất chánh là vị
này." Này các Tỳ-khưu, nhưng một người bất chánh có thể
biết một người chơn chánh: "Người chơn chánh là vị này"
hay không?
--
Bạch Thế Tôn, không biết được.
--
Lành thay, này các Tỳ-khưu! Này các Tỳ-khưu, không thể có
sự tình, không thể có sự kiện một người bất chánh có
thể biết được một người chơn chánh: "Người chơn chánh
là vị này".
Người
bất chánh, này các Tỳ-khưu, là người đầy đủ pháp bất
chánh, giao du với người bất chánh, suy tư như người bất
chánh, tư lường như người bất chánh, nói năng như người
bất chánh, hành
động như người bất chánh, có tà kiến
như người bất chánh, bố thí như người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh
đầy
đủ pháp bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người bất
chánh bất tín, vô tàm, vô quý, nghe ít, biếng nhác, thất
niệm, liệt tuệ. Như vậy, này các Tỳ-khưu, là người bất
chánh
đầy đủ pháp bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh giao du
với những người bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, những
vị Bà-la-môn nào bất tín, vô tàm, vô quý, ít nghe, biếng
nhác, thất niệm, liệt tuệ, những vị ấy là bạn, là thân
hữu với người bất chánh ấy. Như vậy, này các Tỳ-khưu,
là người bất chánh giao du với người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh suy tư
như người bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người bất
chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác,
suy nghĩ làm hại cả hai.. Như vậy, này các Tỳ-khưu, là người
bất chánh suy tư như người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh tư lường
như người bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người bất
chánh tư lường tự làm hại mình, tư lường làm hại người,
tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỳ-khưu, là
người bất chánh tư lường như người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh nói năng
như người bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người bất
chánh nói lời nói láo, nói lời hai lưỡi, nói ác khẩu, nói
lời phù phiếm. Như vậy này các Tỳ-khưu, là người bất
chánh nói năng như người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh hành
động
như người bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người bất
chánh sát sanh, lấy của không cho, làm các tà hạnh trong các
dục. Như vậy, này các Tỳ-khưu, là người bất chánh hành
động
như người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người bất chánh có tà
kiến như người bất chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người
bất chánh có tà kiến như sau: "Không có bố thí, không có
lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp
thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có
cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời, không có
những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh
hạnh đã tự mình chứng
đạt với thượng trí đời này
và
đời khác, và truyền dạy lại". Như vậy, này các Tỳ-khưu,
là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là người bất chánh bố thí như
người bất chánh? Ở
đây, này các Tỳ-khưu, người bất
chánh bố thí một cách vô lễ, bố thí không phải tự tay,
bố thí không có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật không
cần dùng, bố thí không nghĩ đến tương lai. Như vậy, này
các Tỳ-khưu, là người bất chánh bố thí như người bất
chánh.
Này
các Tỳ-khưu, người bất chánh ấy, đầy đủ pháp bất chánh
như vậy, giao du với người bất chánh như vậy, suy tư như
người bất chánh như vậy, tư lường như người bất chánh
như vậy, nói năng như người bất chánh như vậy, hành động
như người bất chánh như vậy, có tà kiến như người bất
chánh như vậy, bố thí như người bất chánh như vậy, sau
khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người
bất chánh. Và này các Tỳ-khưu, thế nào là cảnh giới của
những người bất chánh? Ðịa ngục hay là bàng sanh.
Này
các Tỳ-khưu, một người chơn chánh có thể biết
được
một người chơn chánh: "Người chơn chánh là vị này" hay
không?
--
Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
--
Lành thay, này các Tỳ-khưu! Sự tình này xảy ra là người
chơn chánh có thể biết được người chơn chánh: "Người
chơn chánh là vị này". Nhưng này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh có thể biết
được người bất chánh: "Người bất
chánh là vị này" hay không?
--
Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
--
Lành thay, này các Tỳ-khưu! Này các Tỳ-khưu, có sự tình
này là người chơn chánh có thể biết được người bất
chánh: "Người bất chánh là vị này". Này các Tỳ-khưu, người
chơn chánh
đầy đủ Chánh pháp, giao du với các bậc chơn
chánh, suy nghĩ như các bậc chơn chánh, tư lường như các
bậc chơn chánh, nói năng như bậc chơn chánh, hành động như
bậc chơn chánh, có chánh kiến như bậc chơn chánh, bố thí
như bậc chơn chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là người chơn chánh đầy đủ
Chánh pháp? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn chánh có
lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, có nghe nhiều, có tinh cần,
tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Như vậy, này các Tỳ-khưu,
là người chơn chánh
đầy đủ những Chánh pháp.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là người chơn chánh giao du với
các bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, những vị
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý
nghe nhiều, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, có trí tuệ, những
vị ấy là bạn, là thân hữu của vị chơn chánh ấy. Như
vậy, này các Tỳ-khưu, là người chơn chánh giao du với các
bậc chơn chánh.
Và
này, các Tỳ-khưu, như thế nào là người chơn chánh suy tư
như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh không suy nghĩ tự làm hại mình, không suy nghĩ làm hại
người khác, không suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này
các Tỳ-khưu, là người chơn chánh suy tư như người chơn
chánh.
Và
này, các Tỳ-khưu, như thế nào là người chơn chánh tư lường
như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh không tư lường tự làm hại mình, không tư lường làm
hại người khác, không tư lường làm hại cả hai. Như vậy,
này các Tỳ-khưu, là người chơn chánh tư lường như người
chơn chánh?
Và
này các Tỳ-khưu, như thế nào là người chơn chánh nói năng
như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh từ bỏ không nói láo, từ bỏ không nói hai lưỡi, từ
bỏ không nói ác khẩu, từ bỏ không nói phiếm luận. Như
vậy, này các Tỳ-khưu, là người chơn chánh nói năng như
người chơn chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là người chơn chánh hành
động
như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ
làm các tà hạnh trong dâm dục. Như vậy, này các Tỳ-khưu,
là người chơn chánh hành
động như người chơn chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là người chơn chánh có chánh kiến
như bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh có chánh kiến như sau: "Có bố thí, có lễ hy sinh, có
tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời
này, có
đời khác, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh. Ở đời
có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh
hạnh,
đã tự mình chứng
đạt với thượng trí đời này
và
đời khác, và truyền dạy lại. Như vậy, này các Tỳ-khưu,
là người chơn chánh có chánh kiến như người chơn chánh.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là người chơn chánh bố thí như
người chơn chánh? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người chơn
chánh bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố
thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật cần dùng, bố
thí có nghĩ
đến tương lai. Như vậy, này các Tỳ-khưu, là
người chơn chánh bố thí như người chơn chánh.
Này
các Tỳ-khưu, người chơn chánh ấy, đầy đủ Chánh pháp
như vậy, giao du với người chơn chánh như vậy, suy tư như
người chơn chánh như vậy, tư lường như người chơn chánh
như vậy, nói năng như người chơn chánh như vậy, hành động
như người chơn chánh như vậy, có chánh kiến như người
như người chơn chánh như vậy, bố thí như người chơn chánh
như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới
của những người chơn chánh. Và này các Tỳ-khưu, thế nào
là cảnh giới của những người chơn chánh? Ðại tánh của
chư Thiên hay đại tánh của loài Người.
*
Nếu
thấy bậc hiền trí,
Chỉ
lỗi và khiển trách,
Như
chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy
thân cận người trí !
Thân
cận người như vậy,
Chỉ
tốt hơn, không xấu.
[Pháp
Cú, 76]
Chớ
thân với bạn ác,
Chớ
thân kẻ tiểu nhân.
Hãy
thân người bạn lành,
Hãy
thân bậc thượng nhân.
[Pháp
Cú, 78]
-ooOoo-
2.
Biết nghe Diệu Pháp
Đức
Phật giảng cho thanh niên Kapadika Bharadvaja:
--
Trước hết, này Bharadvaja, Ông đi đến lòng tin, nay Ông nói
đến tùy văn. Này Bharadvaja, năm pháp này có hai quả báo ngay
trong hiện tại. Thế nào là năm? Tín, tùy hỷ, tùy văn, cân
nhắc suy tư các lý do và chấp nhận quan điểm. Này Bharadvaja,
năm pháp này có hai quả báo ngay trong hiện tại. Tuy vậy,
này Bharadvaja, có
điều được khéo tin tưởng, có thể là
trống không, trống rỗng, hư vọng. Trái lại, có điều không
được khéo tin tưởng, có thể là thật, chân, không thay
đổi.
Lại nữa này Bharadvaja, có
điều được khéo tùy hỷ...
được
khéo tùy văn... được khéo cân nhắc suy tư... được khéo
chấp nhận, có thể là trống không, trống rỗng, hư vọng.
Trái lại, có điều không được khéo chấp nhận, có thể
là thật, chân, không thay
đổi. Hộ trì chân lý, này Bharadvaja
không
đủ để một người có trí đi đến kết luận một
chiều là: "Chỉ đây là sự thật, ngoài ra
đều là sai lầm"
--
Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cho đến mức độ nào là hộ trì
chân lý? Cho đến mức độ nào, chân lý được hộ trì? Chúng
con hỏi Tôn giả Gotama về hộ trì chân lý.
--
Này Bharadvaja, nếu có người có lòng tin và nói: "Ðây là
lòng tin của tôi", người ấy hộ trì chân lý, nhưng người
ấy không đi đến kết luận một chiều: "Chỉ đây là sự
thật, ngoài ra
đều là sai lầm". Cho
đến như vậy, này Bharadvaja,
là sự hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, chân lý được
hộ trì. Và cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương hộ trì
chân lý. Nhưng ở đây, chưa phải là giác ngộ chân lý. Này
Bharadvaja, nếu có người có lòng tùy hỷ.... Này Bharadvaja,
nếu có người có lòng tùy văn... Này Bharadvaja, nếu có người
có sự cân nhắc suy tư các lý do... Này Bharadvaja, nếu có
người chấp nhận một quan điểm và nói: "Ðây là sự chấp
nhận quan điểm của tôi", người ấy hộ trì chân lý. Nhưng
người ấy không đi đến kết luận một chiều: "Chỉ đây
là sự thật, ngoài ra là sai lầm". Cho
đến như vậy, này
Bharadvaja, là hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, này Bharadvaja,
chúng tôi chủ trương hộ trì và cho đến như vậy, này Bharadvaja,
chúng tôi chủ trương hộ trì chân lý. Nhưng ở
đây chưa
phải sự giác ngộ chân lý.
--
Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, là hộ trì chân lý.
Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chân lý được hộ
trì. Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chúng con nhìn
thấy thộ trì chân lý. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cho đến
mức độ nào là giác ngộ chân lý? Cho đến mức độ nào
chân lý
được giác ngộ? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về
giác ngộ chân lý?
--
Ở đây, này Bharadvaja, Tỳ-khưu sống gần một làng hay một
thị trấn. Một gia chủ hay con trai một gia chủ
đi đến vị
ấy và tìm hiểu vị ấy trong ba pháp, tức là tham pháp, sân
pháp, si pháp. Người này nghĩ rằng: "Không hiểu vị Tôn giả
ấy có tham ái hay không, do những tham ái này, tâm vị ấy
bị chi phối
đến nỗi dầu không biết vẫn nói: "Tôi biết",
dầu không thấy vẫn nói: "Tôi thấy", hay xui khiến người
khác có những hành
động khiến người ấy không được hạnh
phúc, phải đau khổ lâu dài". Trong khi xem xét vị ấy, người
này biết như sau: "Vị Tôn giả ấy không có những tham pháp,
do những tham pháp này tâm vị ấy bị chi phối
đến nỗi
dầu không biết vẫn nói: "Tôi biết", dầu không thấy vẫn
nói: "Tôi thấy"; hay xui khiến người khác có những hành
động
khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu
dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như
vậy, là hành động của một người không có lòng tham. Còn
Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó
chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông,
tế nhị, được người trí chấp nhận; pháp ấy không thể
do một người có lòng tham khéo giảng".
Sau
khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch không có những
tham pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các sân
pháp: "Không hiểu vị Tôn giả ấy có sân pháp hay không, do
những sân pháp này, tâm vị ấy bị chi phối
đến nỗi dầu
không biết vẫn nói: "Tôi biết", dầu không thấy vẫn nói:
"Tôi thấy", hay xui khiến người khác có những hành
động
khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu
dài". Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: "Tôn
giả ấy không có những sân pháp, do những sân pháp này, tâm
vị ấy bị chi phối
đến nỗi dầu không biết vẫn nói:
"Tôi biết", dầu không thấy vẫn nói: "Tôi thấy", hay xui khiến
người khác có những hành
động, khiến người ấy không
được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị
ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của
một người không có lòng sân. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp,
pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng,
vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp
nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng sân khéo
giảng".
Sau
khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những
sân pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các si pháp:
"Không hiểu tôn giả ấy có si pháp hay không, do những si pháp
này, tâm của vị ấy bị chi phối
đến nỗi dầu không biết,
vẫn nói: "Tôi biết", dầu không thấy vẫn nói: "Tôi thấy",
hay xui khiến người khác có hành
động khiến người ấy
không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài". Trong khi xem
xét vị ấy, người này biết như sau: "Tôn giả ấy không
có những si pháp, do những si pháp này, tâm vị ấy bị chi
phối
đến nỗi dầu không biết, vẫn nói: "Tôi biết", dầu
không thấy, vẫn nói: "Tôi thấy", hay xui khiến người khác
có những hành
động khiến người ấy không được hạnh
phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như
vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người
không có lòng si. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm
sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài
luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp
ấy không thể do một người có lòng si khéo giảng".
Sau
khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những
si pháp, người này sanh lòng tin đối với vị ấy, với lòng
tin sanh, người này đến gần, khi đến gần liền thân cận
giao thiệp, do thân cận giao thiệp, nên lóng tai, lóng tai, người
ấy nghe pháp, sau khi nghe, liền thọ trì pháp, rồi tìm hiểu
ý nghĩa các pháp
được thọ trì; trong khi tìm hiểu ý nghĩa,
các pháp được hoan hỷ chấp nhận; khi các pháp được hoan
hỷ chấp nhận, ước muốn sanh, khi ước muốn sanh, liền
cố gắng, sau khi cố gắng liền cân nhắc, sau khi cân nhắc,
người ấy tinh cần. Trong khi tinh cần, người ấy tự thân
chứng ngộ tối thượng chân lý, và khi thể nhập chân lý
ấy với trí tuệ, người ấy thấy. Cho đến mức độ này,
này Bharadvaja là sự giác ngộ chân lý, cho đến mức độ
này, chân lý được giác ngộ, và cho
đến mức độ này,
chúng tôi chủ trương sự giác ngộ chân lý, nhưng như vậy
chưa phải là chứng đạt chân lý.
--
Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, là giác ngộ chân lý,
cho đến như vậy, chân lý được giác ngộ, và cho đến như
vậy chúng con thấy giác ngộ chân lý. Nhưng thưa Tôn giả
Gotama, cho đến mức độ nào là chứng
đạt được chân lý,
cho đến mức độ nào chân lý
được chứng đạt. Chúng con
hỏi Tôn giả Gotama về sự chứng đạt chân lý.
--
Này Bharadvaja, chính nhờ luyện tập, tu tập và hành tập nhiều
lần, chân lý mới được chứng đạt. Cho đến như vậy,
này Bharadvaja, là chứng đạt chân lý, cho đến như vậy, chân
lý được chứng đạt, cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương
sự chứng đạt chân lý.
--
Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, là chứng đạt chân
lý, cho đến như vậy chân lý được chứng đạt, và cho đến
như vậy, chúng con thấy chứng đạt chân lý. Nhưng trong sự
chứng đạt chân lý, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được
hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự chứng
đạt chân lý, pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự chứng đạt chân lý, này Bharadvaja, tinh cần được
hành trì nhiều. Nếu không tinh cần theo đuổi chân lý thì
không thể chứng đạt chân lý. Nhưng nếu tinh cần thì chứng
đạt được chân lý. Do vậy, trong sự chứng đạt chân lý,
tinh cần được hành trì nhiều.
--
Trong sự tinh cần, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào
được hành
trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự tinh cần,
pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự tinh cần, này Bharadvaja, sự cân nhắc
được hành
trì nhiều. Nếu không cân nhắc thì không thể tinh cần theo
đuổi chân lý. Nếu có cân nhắc sẽ được tinh cần; do vậy,
trong sự tinh cần, cân nhắc được hành trì nhiều.
--
Trong sự cân nhắc, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào
được hành
trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự cân nhắc,
pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự cân nhắc, này Bharadvaja, cố gắng được hành trì
nhiều. Nếu không cố gắng thì không thể cân nhắc. Nhưng
nếu có cố gắng thì có cân nhắc; do vậy trong sự cân nhắc,
thì cố gắng
được hành trì nhiều.
--
Trong sự cố gắng, Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì
nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự cố gắng, pháp
nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự cố gắng, này Bharadvaja, ước muốn được hành trì
nhiều. Nếu ước muốn đối với chân lý ấy không khởi
lên thì không có cố gắng. Vì ước muốn có khởi lên nên
có cố gắng, do vậy, trong sự cố gắng, ước muốn được
hành trì nhiều.
--
Trong ước muốn, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành
trì nhiều? Chúng con muốn hỏi Tôn giả Gotama, trong ước muốn,
pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong ước muốn, này Bharadvaja, hoan hỷ chấp nhận pháp
được
hành trì nhiều. Nếu không hoan hỷ chấp nhận pháp thì ước
muốn không khởi lên. Vì có hoan hỷ chấp nhận pháp nên ước
muốn khởi lên; do vậy, trong ước muốn, hoan hỷ chấp nhận
pháp
được hành trì nhiều.
--
Nhưng trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, thưa Tôn giả Gotama,
pháp nào
được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama,
trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, pháp nào được hành trì
nhiều.
--
Trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, này Bharadvaja, tìm hiểu
ý nghĩa
được hành trì nhiều. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa
thì không hoan hỷ chấp nhận pháp. Và vì có tìm hiểu ý nghĩa
nên có sự chấp nhận pháp; do vậy, trong sự hoan hỷ chấp
nhận pháp, tìm hiểu ý nghĩa
được hành trì nhiều.
--
Nhưng trong sự tìm hiểu ý nghĩa, thưa Tôn giả Gotama, pháp
nào
được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong
sự tìm hiểu ý nghĩa, pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự tìm hiểu ý nghĩa, này Bharadvaja, thọ trì pháp
được
hành trì nhiều. Nếu không có thọ trì pháp thì không tìm
hiểu ý nghĩa. Và vì có thọ trì pháp, nên có tìm hiểu ý
nghĩa; do vậy, trong sự tìm hiểu ý nghĩa, thọ trì pháp được
hành trì nhiều.
--
Trong sự thọ trì pháp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào
được
hành trì nhiều? Trong sự thọ trì pháp, chúng con hỏi Tôn
giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự thọ trì pháp, này Bharadvaja, nghe pháp
được hành
trì nhiều. Nếu không nghe pháp thì không có thọ trì pháp.
Và do có nghe pháp nên có thọ trì pháp; do vậy, trong sự thọ
trì pháp, nghe pháp được hành trì nhiều.
--
Trong sự nghe pháp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào
được hành
trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự nghe pháp,
pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự nghe pháp, này Bharadvaja, lóng tai được hành trì nhiều.
Nếu không có lóng tai thì không có nghe pháp. Và vì có lóng
tai nên có nghe pháp; do vậy, trong sự nghe pháp, lóng tai
được
hành trì nhiều.
--
Trong sự lóng tai, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào
được hành
trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự lóng tai,
pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự lóng tai, này Bharadvaja, thân cận giao thiệp
được
hành trì nhiều. Nếu không có thân cận giao thiệp thì không
có lóng tai. Vì có thân cận giao thiệp nên có lóng tai; do
vậy, trong sự lóng tai, thân cận giao thiệp được hành trì
nhiều.
--
Trong sự thân cận giao thiệp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào
được
hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự thân
cận giao thiệp, pháp nào được hành trì nhiều.
--
Trong sự thân cận giao thiệp, này Bharadvaja, đi đến gần
được hành trì nhiều. Nếu không đi đến gần thì không
có thân cận giao thiệp. Và vì có
đi đến gần nên có thân
cận giao thiệp; do vậy, trong sự thân cận giao thiệp, đi
đến gần được hành trì nhiều.
--
Trong sự đi đến gần, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được
hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự đi
đến gần, pháp nào
được hành trì nhiều.
--
Trong sự đi đến gần, này Bharadvaja, lòng tin được hành
trì nhiều. Nếu lòng tin không sanh thì không đi đến gần.
Và vì lòng tin sanh, nên có đi đến gần; do vậy, trong sự
đi đến gần, lòng tin được hành trì nhiều.
*
...
Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta
bạch Thế Tôn:
- Có
một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta.
Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan
điểm của mình, nhưng
họ bài xích quan
điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên
tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác
cũng
đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan
điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác,
khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối với họ, bạch Thế Tôn,
chúng con có những nghi ngờ phân vân: "Trong những Tôn giả
Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?"
- Ðương
nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Ðương
nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những
trường hợp
đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên
phân vân.
Này
các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe
truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin
vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận
suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin
vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù
hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có
uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp
này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này
bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực
hiện và chấp nhận
đưa đến bất hạnh khổ đau", thời
này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng.
Các
Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà! Lòng tham khởi lên trong nội
tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc
hay bất hạnh?
- Bất
hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người
này có tham, này các Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm
chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ
người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy.
Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài
hay không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn.
- Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên
trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại
hạnh phúc hay bất hạnh?
- Bất
hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người
này có sân, này các Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm
chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ
người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy.
Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài
hay không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn..
- Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong
nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh
phúc hay bất hạnh?
- Bất
hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người
này có si, này các Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm
chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ
người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy.
Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài
hay không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn.
- Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện
hay bất thiện?
- Là
bất thiện, bạch Thế Tôn.
- Đáng
chê hay không
đáng chê?
- Có
tội, bạch Thế Tôn.
- Bị
người có trí quở trách hay không bị người có trí quở
trách?
- Bị
người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.
- Nếu
được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất
hạnh đau khổ không? Hay ở đây, là như thế nào?
- Ðược
thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa
đến bất hạnh, đau khổ, ở đây, đối với chúng con là
vậy.
- Như
vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: "Chớ
có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ
có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển
truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin
vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt
những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến;
chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin
vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình."
Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp
này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này
bị các người có trí quở trách; Các pháp này nếu thực
hiện và chấp nhận
đưa đến bất hạnh khổ đau", thời
này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều đã
được nói lên
như vậy, chính do duyên như vậy
được nói lên.
Này
các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe
truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin
vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận
suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin
vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù
hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có
uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết như sau: "Các pháp này
là thiện; Các pháp này là không đáng chê; Các pháp này không
bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực
hiện và chấp nhận
đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này
Kàlàmà, hãy tự đạt đến và an trú.
Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không tham, khi khởi lên
trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy, là đưa lại
hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh
phúc, bạch Thế Tôn.
- Người
này không tham, này các Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm
không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của
không cho, không
đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ
người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn.
- Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không sân, khi khởi lên
trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại
hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh
phúc, bạch Thế Tôn.
- Người
này không sân, này các Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm
không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của
không cho, không
đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ
người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại đem lại
hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn.
- Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không si khi khởi lên trong
nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh
phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh
phúc, bạch Thế Tôn.
- Người
này không si, này các Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm
không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của
không cho, không
đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ
người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh
phúc an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn.
- Các
Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện
hay bất thiện?
- Là
thiện, bạch Thế Tôn.
- Các
pháp này là đáng chê hay không
đáng chê?
- Không
đáng chê, bạch Thế Tôn.
- Bị
người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
- Ðược
người trí tán thán, bạch Thế Tôn.
- Nếu
được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến hạnh
phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế nào?
- Ðược
thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa
đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
- Này
các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe
truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin
vì
được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý
luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường;
chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có
tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất
từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo
sư của mình.
Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp
này là thiện; Các pháp này là không có tội; Các pháp này
được người có trí tán thán; Các pháp này nếu được thực
hiện, được chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc", thời
này Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú. Ðiều
đã được
nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
*
Đức
Phật giảng cho Tỳ-khưu ni Mahàpajàpatì Gotamì:
--
Này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp này
đưa
đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không
đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến
không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục;
đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa
đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh;
đưa đến biếng
nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng,
không đưa đến dễ nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì
nhứt hướng rằng: "Ðó là không phải Pháp, đó là không
phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư".
Và
này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp
đưa đến
ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước,
không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không
đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục
lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ;
đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến
tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi
dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy
thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là Pháp, đó là Luật,
đó
là lời dạy của bậc Ðạo sư".
*
- Này
các Tỳ-khưu, nghe pháp có năm lợi ích này. Thế nào là năm?
1)
Ðược nghe điều chưa nghe,
2)
Làm cho trong sạch điều được nghe,
3)
Đoạn trừ nghi,
4)
Làm cho tri kiến chánh trực,
5)
Làm cho tâm tịnh tín.
Này các
Tỳ-khưu, nghe pháp có năm lợi ích này.
*
Thành
tựu sáu pháp, này các Tỳ-khưu, nếu có nghe diệu pháp, có
thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế
nào là sáu? Không thành tựu nghiệp chướng, không thành tựu
phiền não chướng, không thành tựu dị thục chướng, có
lòng tin, có ước muốn, và có trí tuệ.
Thành
tựu sáu pháp này, này các Tỳ-khưu, nếu có nghe diệu pháp,
có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp.
*
Thành
tựu sáu pháp, này các Tỳ-khưu, nếu được nghe diệu pháp,
có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp.
Thế nào là sáu? Khi Pháp và Luật
được Như Lai thuyết giảng,
có ưa nghe, có lóng tai, có an trú tâm liễu giải, nắm giữ
điều lợi ích, bỏ qua điều không lợi ích, thành tựu tùy
thuận nhẫn nhục.
Thành
tựu sáu pháp này, này các Tỳ-khưu, nếu được nghe diệu
pháp, có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện
pháp.
*
Thế
nào là giới đức?
Thế
nào là chánh hạnh?
Cần
phải làm tăng trưởng.
Thân
khẩu ý nghiệp nào?
Ðể
người chánh nhập cuộc,
Ðạt
được đích tối thượng?
Kính
lễ bậc trưởng thượng [1],
Không
ganh tị một ai,
Cần
phải biết thời gian,
Ðể
yết kiến Ðạo sư [2],
Biết
được đúng thời khắc,
Thuyết
pháp bắt đầu giảng,
Hãy
cẩn thận lắng nghe,
Lời
giảng được khéo nói.
Hãy
đi đến đúng thời,
Trước
mặt vị Ðạo Sư,
Từ
bỏ tánh cứng đầu,
Với
thái độ khiêm tốn,
Hãy
nhớ nghĩ ức niệm,
Hãy
chơn chánh hành trì,
Mục
đích và Chánh pháp,
Chế
ngự và Phạm hạnh
Vui
thích trong Chánh Pháp
Hoan
hỷ trong Chánh Pháp,
An
trú trên Chánh pháp,
Biết
phân tích Chánh pháp,
Sở
hành không làm gì,
Có
lời uế nhiễm pháp [3],
Chịu
hướng dẫn lãnh đạo,
Lời
trung thực khéo nói.
Bỏ
cười đùa, lắm miệng,
Khóc
than và sân hận,
Làm
những điều man trá,
Lừa
đảo, tham, kiêu mạn,
Bồng
bột và bạo ngôn,
Cứng
rắn và đam mê,
Sống
từ bỏ tất cả,
Ly
say đắm, kiên trì.
Thức
tri được cốt lõi,
Những
lời đươc khéo nói,
Ðươc
nghe khéo thức tri,
Cốt
lõi của thiền định,
Với
con người hấp tấp,
Lại
phóng dật buông lung,
Trí
tuệ, đều được nghe,
Không
có thể tăng trưởng.
An
vui thích Chánh pháp,
Do
bậc Thánh tuyên thuyết,
Họ
trở thành vô thượng,
Về
lời ý và nghiệp,
Họ
an tịnh nhu hòa,
An
trú trên thiền định,
Chứng
đạt được cốt lõi [4],
Pháp
được nghe, trí tuệ.
[Kinh
Tập, 2.9]
Ghi
chú:
[1]
Theo Chú giải, bậc Trưởng thượng là người có trí tuệ
hơn ta, có nhiều kinh nghiệm hành thiền và các phương diện
tu tập khác, và
đã tu tập nhiều năm hơn ta.
[2]
Chú giải ghi rằng thời điểm để đến gặp vị đạo sư
là khi chúng ta đã chế ngự
được tham, sân, si, và khi chúng
ta không thể tự mình tìm lời giải đáp. Đây cũng là lời
khuyên của ngài Trưởng lão Đại Ca-chiên-diên
(Maha Kaccana),
ghi trong Tăng Chi 6.26, rằng thời điểm thích hợp để đến
tham vấn vị đạo sư là khi chúng ta cần hướng dẫn để
chế ngự một trong năm triền cái, hay khi ta không có được
một đề mục quán niệm thích nghi để đoạn trừ các lậu
hoặc trong tâm thức.
[3]
Chú giải cho rằng "lời uế nhiễm pháp" là xem như tương
đương
với "thú thoại" (animal talk - nói chuyện hạ cấp, nhảm
nhí). Có thể xem thêm các giải thích trong Luật tạng, giới
Ưng đối trị (Pacittiya).
[4]
Cốt lõi của học tập và trí tuệ là Giải thoát.
-ooOoo-
3.
Như lý tác ý
--
Này các Tỳ-khưu, với vị Tỳ-khưu hữu học, tâm chưa thành
tựu,
đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền
ách, sau khi làm thành nội chi phần, Ta không thấy một chi
phần nào khác,
được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỳ-khưu,
tức là Như lý tác ý. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu như
lý tác ý, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
Vị
Tỳ-khưu hữu học,
Hành
như lý tác ý,
Không
một pháp nào khác,
Nhiều
lợi ích như vậy.
Ðể
đạt cho bằng được,
Lợi
ích thật tối thượng.
Vị
Tỳ-khưu như lý,
Tinh
tấn và tinh cần,
Có
thể thành đạt được,
Sư
đoạn diệt khổ đau.
[Phật
thuyết như vậy, 16]
*
Này
các Tỳ-khưu, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được
thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh,
không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc
Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không
tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần
phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý;
vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không
tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp
không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải
tác ý.
Này
các Tỳ-khưu, và thế nào là các pháp không cần phải tác
ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỳ-khưu, nghĩa là các pháp do
vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh
được sanh khởi, hay
dục lậu đã sanh
được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh
được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng,
hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu
đã sanh
được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp
không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý.
Này
các Tỳ-khưu, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà
vị ấy không tác ý? Này các Tỳ-khưu, nghĩa là các pháp do
vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục
lậu đã sanh
được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không
sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh
lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh
được
trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý
mà các vị ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không
nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác
ý, nên các lậu hoặc chưa sanh
được sanh khởi, và các lậu
hoặc
đã sanh được tăng trưởng.
Vị
ấy không như lý tác ý như sau: "Ta có mặt trong thời quá
khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong
thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ
hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta
đã có mặt
như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời
vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có
mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời
vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ
có mặt như thế nào trong thời vị lai?" Hay nay vị ấy có
nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: "Ta có mặt hay ta không
có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế
nào? Chúng sanh này từ
đâu đến? Và rồi nó sẽ
đi đâu?".
Với
người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến
này khởi lên: "Ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với
người ấy như thật, như chơn; "Ta không có tự ngã", tà kiến
này khởi lên với người ấy như thật như chơn; "Do tự mình,
ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người
ấy như thật, như chơn; "Do tự mình, ta tưởng tri ta không
có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật,
như chơn. "Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà
kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay
tà kiến này khởi lên với người ấy: "Chính tự ngã của
ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác
đã
làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường
trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ
vĩnh viễn tồn tại". Này các Tỳ-khưu, như vậy gọi là tà
kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh
chấp, kiến kiết phược. Này các Tỳ-khưu, trói buộc bởi
kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát
khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy
không thoát khỏi khổ đau.
Này
các Tỳ-khưu, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy
các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp
các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục
pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ
tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần
phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác
ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không
tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần
phải tác ý.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp không cần phải tác
ý và vị này không tác ý? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào
do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh
được sanh khởi, hay
dục lậu đã sanh
được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh
được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng,
hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu
đã sanh
được tăng trưởng. Ðó là những pháp không nên
tác ý và vị ấy không tác ý.
Và
này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp cần phải tác ý và
vị ấy tác ý? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào do vị ấy
tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu
đã sanh
được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh
khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu
chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh
được trừ
diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác
ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác
ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa
sanh không sanh khởi và các lậu hoặc
đã sanh được trừ
diệt.
Vị
ấy như lý tác ý: "Ðây là khổ", như lý tác ý: "Ðây là
khổ tập", như lý tác ý: "Ðây là khổ diệt", như lý tác
ý: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ vị ấy
tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến,
nghi, giới cấm thủ. Này các Tỳ-khưu, các pháp ấy
được
gọi là pháp do tri kiến mà các lậu hoặc
được đoạn trừ.
*
Trưởng
lão Kotthika hỏi Trưởng lão Sàriputta (Xá-lợi-phất):
--
Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-khưu giữ giới
cần phải như lý tác ý?
--
Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý
tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt,
mũi tên, bất hạnh, ốm
đau, người lạ, hủy hoại, rỗng
không, vô ngã.
Thế
nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng
thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika,
vị Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn
là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh,
ốm
đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này
Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-khưu giữ giới do như
tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn,
ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm
đau, người lạ, hủy hoại,
rỗng không, vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.