Phần
IV: Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề (Niḥsargika-pāyantika dharmā)
******
Các
giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề đặc biệt chú ý đến
các sở hữu vật chất liên hệ đến đời sống phạm hạnh.
Các giới trong tụ này đứng sau tụ Tăng-già-bà-thi-sa trong
Giới Bổn Ni và là tụ thứ tư sau tụ Bất Ðịnh
Pháp của Giới Bổn Tăng.
Tội
Ba-dật-đề (S. pāyantika, P. pācittiya) chỉ là một tội nhẹ
cần phải sám-hối; āpatti desetabbā (S. āpatī desayitavya) nghĩa
là lời thưa trước đại chúng. Nhưng theo từ nguyên, từ
pācittiya không có liên hệ gì với nghĩa sám-hối. Do
đó, tôi giữ lại nghĩa đen của từ này và trong bài khảo
cứu này tôi dịch là “tội xả đoạ”. Do đó hai từ
nissaggiya và pācittiya dịch là “tội xả đoạ”
[1]
Thuật
ngữ Niḥsargika-pāyantika dharma dịch sang tiếng Hoa là
she to fa [2] (xả đoạ pháp). Trong tiếng Hoa, chữ “xả”
có nghĩa là từ bỏ, “đọa” có nghĩa là rơi rớt.
Thuật ngữ Sankrit pāyantika trong tiếng Hoa chỉ có nghĩa là
làm nóng, sôi và rơi xuống. Người ta tin rằng nếu một vị
Tỳ-kheo (hay Tỳ-kheo-ni) phạm tội Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề (Niḥsargika-pāyantika
dharma) sẽ bị đoạ vào địa ngục chịu dầu sôi lửa bỏng.
[3] Mặc dù số lượng giới Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề giữa hai
bộ Giới Bổn Tăng và Giới Bổn Ni như nhau, trong Giới
Bổn Tăng có một số giới của Tỳ-kheo không cho phép họ
đòi hỏi Tỳ-kheo-ni làm các nhiệm vụ của phụ nữ, vì điều
đó có thể làm quấy rầy đến đời sống tâm linh của các
Tỳ-kheo-ni. Các giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề được
nêu trong bảng liệt kê dưới đây:
Người
dịch tạm mặc ước như sau: thứ nhất là trật tự của
các giới của Tỳ-kheo-ni, thứ hai nội dung các giới của
Tỳ-kheo-ni [4] và thứ ba là số giới thứ tự tương đương
của Tỳ-kheo được để trong ngoặc vuông nếu có. [5]
1.
Cấm cất dư y quá 10 ngày [1].
2.
Cấm lìa 5 y [6] trong một đêm [2].
3.
Cấm cất dư vải quá một tháng [3].
4.
Cấm hỏi xin y với người không bà con, ngoại trừ đúng lúc.
[7] [6].
5.
Cấm nhận dư y phục trừ khi bị trộm, bị mất, bị cháy
hoặc bị nước cuốn trôi [7].
6.
Cấm tham lam đòi y phục tốt đẹp hơn từ một người tín
chủ [8].
7.
Cấm vì tham lam, yêu cầu 2 tín chủ gom tiền lại để sắm
một y tốt đẹp hơn [9].
8.
Cấm đòi hỏi với tri sự quá 6 lần để được y phục [10].
9.
Cấm nhận hoặc bảo người khác cầm vàng bạc cho các Tỳ-kheo-ni
khác tiêu dùng [18].
10.
Cấm tham gia mua bán [19].
11.
Cấm tham gia buôn bán đổi chác các thứ [20].
12.
Cấm lãnh bát mới nếu cái cũ chưa bị vá 5 chỗ [22].
13.
Cấm xin chỉ để may y từ một thợ dệt không quen biết [23].
14.
Cấm yêu cầu thợ dệt dệt y đẹp [24].
15.
Cấm giận hờn đòi y lại khi đã cho người khác rồi [25].
16.
Cấm cất giữ thuốc quá 7 ngày [26].
17.
Cấm nhận y kaṭhina [8] trước 10 ngày giải hạ [28].
18.
Cấm lấy đồ vật của Tăng dùng riêng cho mình [30].
19.
Cấm đòi hỏi vật này thứ kia.
20.
Cấm dùng quỹ xây nhà thuyết giới vào quỹ khác.
21.
Cấm dùng quỹ thực phẩm vào quỹ may y phục.
22.
Cấm dùng quỹ làm giường vào quỹ may y phục.
23.
Cấm dùng quỹ làm nhà của Tăng đoàn vào quỹ may y phục.
24.
Cấm chứa dư bình bát [21].
25.
Cấm chứa dư thiết bị gia dụng.
26.
Cấm thất hứa không cho vị Tỳ-kheo-ni khác mượn vải dùng
bất tịnh.
27.
Cấm nhận vải phi thời rồi lại may y đúng lúc.
28.
Cấm vì giận đòi y lại khi đã đổi cho người khác rồi.
29.
Cấm đòi hỏi y quá đắc tiền.[9]
30.
Cấm đòi hỏi y rẻ và quá mỏng.
Có
30 giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề cho cả Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni, tuy nhiên, nội dung của một số giới khác
nhau. Mười chín giới của Tỳ-kheo-ni được lấy từ Tỳ-kheo,
11 giới còn lại của Tỳ-kheo-ni khác với các giới của Tỳ-kheo.
Các giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-đật-đề của Tỳ-kheo-ni
và Tỳ-kheo đề cập các vấn đề: y phục, bình bát, thuốc
men, tiền bạc, ngân quỹ, v.v…Nếu vi phạm bất cứ một
trong các giới này, thì vị Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni ấy được
yêu cầu phải xả bỏ những vật dụng [dư hoặc sái luật]
ấy như y, bát, v.v…và rồi thành khẩn sám-hối trước Tăng
đoàn hoặc Ni đoàn, số lượng Tăng đoàn chứng minh không
được dưới 5 vị.[10] Vì vậy, người phạm tội Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề
không bị một hình phạt nào, mà chỉ sám-hối. [11]
Các
giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-đật-đề của Tỳ-kheo-ni có 17
giới (1 - 8, 13 - 15, 17, 26 - 30) đề cập về y phục; ba giới
(9, 10 và 11) nói về vàng bạc và mua bán; ba giới (12, 24 và
25) nói về bình bát; một giới (16) nói về thuốc men; hai
giới (18 và 19) nói về lấy tài sản của Tăng làm của riêng
mình và đòi hỏi thức ăn; và bốn giới (20, 21, 22 và 23)
nói về lạm dụng quỹ. Ngược lại, các giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề
của Tỳ-kheo khác với 11 giới của Tỳ-kheo-ni như bảng liệt
kê dưới đây:
Người
dịch tạm mặc ước như sau: Số La-tinh là trật tự các giới
của Tỳ-kheo, kế đến là nội dung tổng quát của các giới.
[12]
4.
Cấm nhận y phục của Tỳ-kheo-ni không thân thuộc, trừ khi
đổi.
5.
Cấm yêu cầu một Tỳ-kheo-ni không quen biết giặt, nhuộm
y cũ cho mình.
11.
Cấm có toạ cụ mới bằng vải tơ lụa.
12.
Cấm có toạ cụ mới bằng lông cừu toàn màu đen.
13.
Cấm có toạ cụ mới bằng lông cừu toàn màu trắng.
14.
Cấm có một toạ cụ mới trong vòng 6 năm.
15.
Cấm may toạ cụ mà không dùng nhiều mảnh vải và không nhuộm
hoại sắc.
16.
Cấm mang lông cừu [để may toạ cụ] đi quá 3 do-tuần [13]
.
17.
Cấm sai một Tỳ-kheo-ni không quen biết giặt, nhuộm, chải
lông cừu.
27.
Cấm nhận áo mưa trước một tháng hay mặc trước nửa tháng
(kể từ mùa nóng).
29.
Tỳ-kheo có thể rời một trong 3 y trong 6 đêm ở nơi có những
tình huống nghi ngờ, sợ sệt hoặc nguy hiểm.
Sáu
giới (11, 12, 13, 14 , 15 và 16) của Tỳ-kheo ở trên đề cập
đến việc sử dụng và làm nhiều kiểu toạ cụ khác nhau;
hai giới (27 và 29) đề cập về y phục. Ba giới (4, 5, và
17): mục đích là để ngăn ngừa Tỳ-kheo lợi dụng Tỳ-kheo-ni.
Điều này đã chỉ ra rõ ràng trong giới thứ 17 của Tỳ-kheo,
và được minh hoạ trong câu chuyện dưới đây trong Bhikṣu-vibhaṅga:
“Bấy
giờ chư Ni giặt, nhuộm, chải lông cừu cho Lục quần Tỳ-kheo.
Vì bận giặt, nhuộm chải lông cừu, chư Ni không chú tâm
đến lời giải thích, lời chất vấn, đức hạnh cao hơn,
tư tưởng cao hơn, trí tuệ cao hơn…Đức Phật hỏi Di mẫu
Ma-ha-ba-xà-ba-đề: “Này Gotamī, ta hy vọng chư Ni có nhiệt
tâm, tinh cần; không biết chư ni có tinh tấn không ?” “Bạch
đức Thế Tôn, chư Ni không có nhiệt tâm. Vì chư Ni bận giặt,
nhuộm, chải lông cừu cho Lục quần Tỳ-kheo. Vì bận giặt,
nhuộm chải lông cừu, chư Ni không chú tâm đến văn, đến
tư, đến đức hạnh, đến trí tuệ, đến thắng trí”…Đức
Phật quở trách Lục quần Tỳ-kheo: “Này các người vô trí
kia, các ông không biết điều gì là thích hợp,
điều gì là không thích hợp, điều gì được hoan hỷ
và điều gì sẽ không hoan hỷ đối với những người
xa lạ. Như vậy, này các ngươi vô trí, có nên yêu cầu
chư Ni, những người không thân thuộc giặt, nhuộm, chải
lông cừu không? Này các người vô trí, điều đó không nên,
vì điều đó đem đến sự không hoan hỷ cho những người
không quen biết. Chính vì vậy, giới này được chế
định.” [14]
Bà
Horner chỉ ra rằng: “Ngoài việc nhận y, việc giặt
y cũng trở thành chủ đề của nhiều điều luật. Luật
ghi rằng Tỳ-kheo không được sai bảo Tỳ-kheo-ni giặt
y phục trừ khi họ có quan hệ thân thuộc; Tỳ-kheo-ni không
được giặt, nhuộm y phục cũ cho Tỳ-kheo trừ khi họ có
quan hệ thân thuộc. [15]
Khi
so sánh các giới trong tụ Ni-tát-kỳ-ba-đật-đề của Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni, chúng ta thấy một số giới cấm Tỳ-kheo không
được lợi dụng Tỳ-kheo-ni. Như vậy Tỳ-kheo-ni tránh được
sự hành hạ và có thể chú tâm nhiều hơn vào việc tu tập
tâm linh của mình.
Gross
nói: “Giới luật bảo vệ cho chư Ni tránh được những đòi
hỏi quá đáng của chư Tăng, chư Tăng có thể yêu cầu chư
Ni làm công việc chùa cho họ hoặc phục vụ cơm nước, quần
áo, những nhiệm vụ thông thường được xem là bổn
phận của phụ nữ. Những điều luật như vậy thật đáng
lưu tâm để thấy rằng phụ nữ từ bỏ đời sống thế
tục để đi tìm đời sống tâm linh cho chính họ, lý tưởng
ấy không thể bị huỷ hoại do những đòi hỏi phục vụ
của người nam [16]
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Ðại Chánh Tạng,, Tập XI, p. vii.
[2]
Sách đã dẫn, Tập XXII, p. 601.
[3]
Sách đã dẫn, Tập XXI, p. 762.
[4]
Sách đã dẫn, Tập XXII. pp. 727-734, 1033-1034
[5]
Sách đã dẫn, Tập XXII, pp. 727-734, 1017-1018
[6]
Tỳ-kheo có thể có 3 y: antarāvāsaka (y hạ, giống như quần),
uttarāsaṅgha (y trung, giống như áo) và saṅghāṭhi (y thượng,
y đắp khi đi ra ngoài). Tỳ-kheo-ni có 5 y: cũng có 3 y như Tỳ-kheo
và thêm 2 y nữa là udakaṭikā (y để tắm) và samakaccikā (áo
lót).
[7]
Y bị trộm cắp, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn
trôi. (Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 609).
[8]
Gombrich (p. 99-100) giải thích rằng vào cuối mùa an cư Phật
tử cúng dường vải cho chùa địa phương của họ để may
y. Vải này mới và tốt. Tăng đoàn ở địa phương cắt chia
và khâu lại rồi đem cúng dường cho một vị tăng trong chúng
– cho rằng vị này là một người giữ giới rất nghiêm
túc. Tên đặc biệt của y này là kaṭhina. Tham khảo thêm
chi tiết trong tác phẩm đã nói trên của Upasak, pp.60-62.
[9]
Một y trị giá không quá 16 x 4 đồng tiền cũ (1 đồng bằng
nửa bảng Anh).
[10]
Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 1055.
[11]
Mohan Wijayaratna, Buddhist Monastic Life: According to the Texts of the
Theravāda Tradition, trans. Claude Grangier and Steven Collins (Cambridge:
Cambridge University Press, 1990), p. 147.
[12]
Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, pp. 605-633, 1017-1018.
[13]
Một cách đo chiều dài, 1 do-tuần (yojana) bằng khoảng 7 dặm,
một dặm khoảng một cây số sáu.
[14]
Sacred Buddhist Books. Tập XI, pp. 94-95 hoặc Ðại Chánh Tạng,
Tập XXII, p. 618.
[15]
I. B. Horner, Women Under Primitive Buddhism: Laywomen and Almswomen (New
York: E. P. Dutton and Company, 1930), p. 274.
[16]
Gross, p. 37.
Đọc
Thêm: Tứ Phần Luật, Việt dịch:
Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng