Phần
V: Giới Ba-dật-đề (Pāyantika dharmā)
*******
Các
giới trong tụ Ba-dật-đề (pāyantika hay patayantika) được
dịch sang tiếng Hoa là tan t’i fa (đơn đề pháp) [1] hoặc
là tan to fa (đơn đọa pháp) [2]. Các giới này ít nghiêm trọng
hơn các giới ở những tụ trước của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni,
phạm vi của chúng bao gồm nhiều vấn đề. Trong tụ này có
178 giới cho Tỳ-kheo-ni và 90 giới cho Tỳ-kheo.
Bà
Horner giải thích rằng: “Ðiểm lạ lùng của các giới Ba-dật-đề
trong Bản Sớ Giải Cổ không có chỗ nào giải thích ý nghĩa
của chữ Ba-dật-đề, tội nào khiến đã tạo ra tên Ba-dật-đề.
Nó xuất phát từ cụm từ “āpatti desetabbā” (tội có thể
được đoạn trừ nhờ sám-hối) được ghi trong phần Vibhaṅga
trong mỗi giới Nissaggiya, từ đó chúng ta có thể suy luận
rằng pācittiya là tội phải sám-hối; và ngay cả trị phạt
tội Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề và lễ sám-hối có thể được
Tăng đoàn, một hội chúng hoặc một vị Tăng đều thực
hiện được, do đó chúng ta có thể kết luận là những cách
tiến hành như ở trên vừa trình bày được thực hiện một
cách tốt đẹp khi tội ấy chỉ là tội Ba-dật-đề, cần
phải sám-hối chứ không phải là tội Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.[3]
Ba-dật-đề
(P. Pācittiya) là một tội có thể phá vỡ các thiện nghiệp
(kuśala-karmā), tuy nhiên, nó chỉ là một tế hạnh (āpatti),
chỉ cần chú tâm thì có thể không bị phạm.[4] Trong
tụ Ba-dật-đề này, số lượng các giới trong Giới Bổn
Ni và Giới Bổn Tăng chênh lệch khá lớn. Dựa trên thực
tế lịch sử của đời sống sinh hoạt hằng ngày của chư
Tỳ-kheo-ni, mục đích chính của các điều luật này là khuyến
khích các Tỳ-kheo-ni chánh niệm trong lời nói, hành vi, cũng
như tuân hành các thanh quy của Tăng đoàn, v.v… Wijayaratna
chỉ ra rằng: “Ba-dật-đề đề cập đến các tội đòi
hỏi chỉ sám-hối.” [5] Khi một Tỳ-kheo hoặc Tỳ-kheo-ni
vi phạm một trong các giới Ba-dật-đề, đương sự buộc
phải sám-hối trước một Tỳ-kheo hoặc Tỳ-kheo-ni khác, hoặc
trước một hội chúng hoặc trước Tăng đoàn.[6] Các giới
trong tụ Ba-dật-đề được nêu như dưới đây.
Người
dịch tạm mặc ước như sau: Số La-tinh là trật tự
các giới; kế đến là nội dung của giới,[7] và cuối
cùng là trật tự của giới Tỳ-kheo tương đương được
để trong ngoặc vuông nếu có [8]
1.
Cấm cố ý nói láo [1].
2.
Cấm nói lời nhục mạ [2].
3.
Cấm nói hai lưỡi làm cho các thành viên trong Tăng đoàn giận
ghét lẫn nhau [3].
4.
Cấm ở chung phòng với người nam trong một đêm [4].
5.
Cấm ở chung phòng với phụ nữ quá hai ba đêm [5].
6.
Cấm tụng kinh với người chưa thọ giới cụ túc [9] [6].
7.
Cấm học tội nặng của một Tỳ-kheo-ni cho một người chưa
thọ giới [7].
8.
Cấm khoe phép thần thông với người chưa thọ giới
để xin thức ăn [8].
9.
Cấm nói 5, 6 câu kinh pháp cho người nam, trừ khi có người
nữ tri thức chứng dự [9].
10.
Cấm đào đất [10].
11.
Cấm chặt phá cây [11].
12.
Cấm chửi rủa, gây gổ trong Tăng đoàn [12].
13.
Cấm vu khống hay mắng nhiếc tri sự [13].
14.
Cấm trải ngọa cụ, ghế nằm, ghế hoặc tấm lót ở chỗ
chán chường thuộc chúng Tăng [14].
15.
Cấm trải ngoạ cụ, ghế nằm, ghế hoặc tấm lót nơi chỗ
kín thuộc chúng tăng [15].
16.
Cấm nằm nơi chỗ ngủ hoặc chỗ ở của một vị Tỳ-kheo-ni
khác [16].
17.
Cấm đuổi hoặc sai đuổi một vị Tỳ-kheo-ni khỏi Tăng phòng
[17].
18.
Cấm ngồi hoặc nằm trên giường hoặc ghế có chân bị yếu
[18].
19.
Cấm uống nước có côn trùng [19].
20.
Cấm lợp chỗ ở đến hai ba lớp [20].
21.
Cấm dùng thức ăn nơi nhà nghỉ công cộng quá một lần,
trừ khi bệnh [31].
22.
Cấm ăn riêng một nhóm, trừ khi đúng thời [10] [33].
23.
Cấm nhận quá ba bát cơm [34].
24.
Cấm ăn phi thời [11] [37].
25.
Cấm ăn thức ăn cách đêm [38].
26.
Cấm để vào miệng thức ăn [12] không phải của cúng dường
ngoại trừ nước và tăm xỉa răng [39].
27.Cấm
hứa rồi không đến nhận thức ăn của một tín chủ [42].
28.
Cấm ăn rồi mà ngồi nán lại lâu nơi nhà của vợ chồng
cư sĩ.[13] [43].
29.
Cấm ngồi chỗ khuất với vợ chồng cư sĩ [14] [44].
30.
Cấm ngồi chỗ khuất [15] với đàn ông [45].
31.
Cấm thất hứa không cho thức ăn Tỳ- kheo-ni đang đồng hành
khất thực [46].
32.
Cấm cất giữ thuốc quá 4 tháng [47].
33.
Cấm đến xem tập trận, trừ khi có duyên cớ [48].
34.
Cấm ở chung với quân đội quá 3 đêm [49].
35.
Cấm ở chung trong quân đội để xem trận đánh [50].
36.
Cấm uống nước có chất làm say [51].
37.
Cấm đùa giỡn trong nước [52].
38.
Cấm thọc lét một Tỳ-kheo-ni khác [53].
39.
Cấm không nghe lời khuyên can của chư Ni [54].
40.
Cấm doạ nạt hoặc làm chư Ni khác hoảng sợ [55].
41.
Cấm chưa được nửa tháng tắm một lần, trừ khi đúng lúc
[16] [56].
42.
Cấm đốt lửa nơi đất trống [57].
43.
Cấm dấu y bát của vị khác dù là giỡn [58].
44.
Cấm lấy lại y khi đã cho người rồi mà không có sự đồng
ý của người đó [59].
45.
Cấm mặc y mới mà không nhuộm hoại sắc [60].
46.
Cấm cố ý giết hại sinh vật [61].
47.
Cấm cố ý uống nước có côn trùng [62].
48.
Cấm cố ý khích bác làm buồn khổ một Tỳ-khưu-ni khác dù
chỉ trong chốc lát [63].
49.
Cấm che dấu trọng tội của Tỳ-kheo-ni khác thường phạm
[65].
50.
Cấm gây gổ, cãi lẫy hay đánh nhau [66].
51.
Cấm cố ý cùng đi chung đường với kẻ trộm [67].
52.
Cấm vì tà kiến của chính mình mà không nghe lời khuyên
bảo [68].
53.
Cấm cùng ăn, cùng nói, cùng nằm với một Tỳ-kheo-ni đang
bị Tăng cử tội [69].
54.
Cấm bảo vệ một Thức-xoa-ma-na [17] đang bị Tăng cử tội
[70].
55.
Cấm không nghe lời khuyên học giới luật của vị Tỳ-kheo
có đức hạnh [71].
56.
Cấm xem thường giới luật [72].
57.
Cấm không chú ý nghe tụng Giới Bổn [73].
58.
Cấm tham gia phê bình sau khi Tăng đã yết-ma [74].
59.
Cấm đứng dậy mà không xin phép các vị Tỳ-kheo-ni có thẩm
quyền khi Tăng đoàn đang bàn thảo Phật pháp [75].
60.
Cấm phê bình quyết định của người khác sau khi ban cho họ
quyền quyết định rồi [18] [76].
61.
Cấm cố nghe chuyện Tỳ-kheo-ni đấu khẩu, tranh luận hoặc
tham gia tranh chấp [19] [77].
62.
Cấm vì giận hoặc không vui mà đánh Tỳ-kheo-ni khác [78].
63.
Cấm vì giận hoặc không vui mà giá đánh một Tỳ-kheo-ni khác
[79].
64.
Cấm vô cớ buộc tội một Tỳ-kheo-ni khác [80].
65.
Cấm đến hoặc qua lại cổng quan chức vào lúc sáng sớm
mà không xin phép một vị Tỳ-kheo-ni có thẩm quyền [81].
66.
Cấm nhặt của báu rơi hoặc bảo người khác nhặt [82].
67.
Cấm vào làng sái giờ không xin phép một vị Tỳ-kheo-ni hữu
trách, ngoại trừ đủ duyên cớ [83].
68.
Cấm đóng chân ghế cao quá 8 ngón tay [20] [84].
69.
Cấm ngồi nằm trên giường ghế phủ vải bông [85].
70.
Cấm ăn tỏi.
71.
Cấm cạo lông chỗ kín.
72.
Cấm dùng tay rửa tịnh quá hạn.
73.
Cấm dùng đồ vật làm nam căn.
74.
Cấm cùng nhau vỗ vào chỗ kín.
75.
Cấm hầu nước hoặc quạt cho Tỳ-kheo đang dùng cơm.
76.
Cấm xin cư sĩ lúa thóc.
77.
Cấm quăng đồ đại tiểu trên cỏ.
78.
Cấm quăng đồ đại tiểu qua rào.
79.
Cấm đi xem ca, múa, nhạc.
80.
Cấm đứng nói chuyện với người nam chỗ vắng.
81.
Cấm vào chỗ vắng với người nam.
82.
Cấm nói thầm với người nam ở chỗ vắng.
83.
Cấm lìa nhà cư gia mà không nói chủ nhà.
84.
Cấm ngồi nơi nhà cư gia mà không hỏi xin.
85.
Cấm nằm trên chỗ ngồi trong nhà của cư sĩ mà không xin
phép họ.
86.
Cấm vào phòng tối với người nam.
87.
Cấm tuyên thuyết lời dạy của Thầy mình một cách sai lầm.
88.
Cấm nguyền rủa chính mình hoặc người khác.
89.
Cấm đấm ngực khóc lóc sau khi gây gổ.
90.
Cấm ngủ chung giường ngoại trừ lúc bệnh.
91.
Cấm đắp chung mền.
92.
Cấm cố ý tạo mối bất hoà với Tỳ-kheo-ni khác bằng cách
đặt vấn đề rắc rối.
93.
Cấm không chăm sóc người bệnh ở cùng phòng.
94.
Cấm giận hoặc không vui mà đuổi Tỳ-kheo-ni đi nơi khác.
95.
Cấm du hành khất thực trong mùa an cư. [21]
96.
Cấm sau mùa an cư mà không du hành khất thực.
97.
Cấm du hành tại vùng biên giới nguy hiểm, đang đánh nhau.
98.
Cấm du hành trong các vùng biên giới có nguy hiểm và đang
đánh nhau.
99.
Cấm thân cận với cư sĩ hoặc con cư sĩ.
100.
Cấm đi xem cung vua, nhà triển lãm, công viên, ao sen.
101.
Cấm tắm nơi hồ ao mà không có khăn tắm.
102.
Cấm may khăn tắm rộng quá quy định [22] (giống giới thứ
89).
103.
Cấm cố ý thất hứa không may y cho chư Ni.
104.
Cấm để qúa 5 ngày mà không chăm sóc đến thượng y [23].
105.
Cấm lấy đồ của chúng Tăng mà dùng riêng cho mình.
106.
Cấm lấy y của Ni khác mặc mà không hỏi trước.
107.
Cấm lấy y của chư Ni đưa cho cư sĩ, ngoại đạo, hoặc nữ
ngoại đạo.
108.
Cấm ngăn cản chúng Tăng chia y đúng pháp.
109.
Cấm ngăn chúng Tăng chia y Kaṭhina hợp pháp.
110.
Cấm ngăn Tỳ-kheo-ni khác chia y kaṭhina.
111.
Cấm không giải hoà những tranh cãi của chư Ni.
112.
Cấm tự tay cho cư sĩ hoặc ngoại đạo thức ăn.
113.
Cấm làm việc cho cư sĩ như người nội trợ.
114.
Cấm se chỉ sợi.
115.
Cấm ngồi nằm nơi nhà cư sĩ.
116.
Cấm ở đêm nơi nhà cư sĩ khi ra đi không nói.
117.
Cấm học và đọc chú với cư sĩ.
118.
Cấm dạy cư sĩ đọc chú.
119.
Cấm cho một người nữ đã có thai thọ giới.
120.
Cấm cho người có con nhỏ thọ giới.
121.
Cấm cho thọ cụ túc giới một người chưa đủ 20 tuổi [65].
122.
Cấm cho thọ cụ túc giới một Thức-xoa không trải qua 2 năm
tu tập, mặc dù tuổi đã đủ 20.
123.
Cấm cho thọ cụ túc một Thức-xoa không giữ 6 giới [24] trong
2 năm mặc dù tuổi đã đủ 20.
124.
Cấm cho một Thức-xoa thọ giới cụ túc mặc dầu đã giữ
6 giới trong 2 năm và đủ tuổi, nhưng không được
Tăng đoàn đồng ý.
125.
Cấm cho một phụ nữ đã cưới gả dưới 12 tuổi mà
được xuất gia.
126.
Cấm cho thọ cụ túc giới một phụ nữ cưới gả đã được
12 năm, đã trải qua 2 năm Thức-xoa, nhưng không được Tăng
đoàn đồng ý.
127.
Cấm truyền giới cụ túc cho một dâm nữ [25].
128.
Cấm nhận đệ tử mà không lo dạy trong thời gian đang tập
sự.
129.
Cấm tân Tỳ-kheo-ni không theo Thầy học đạo trong 2 năm đầu.
130.
Cấm truyền giới cho người khi Tăng chưa cho phép.
131.
Cấm chưa đủ 12 tuổi hạ mà truyền giới cụ túc cho
người.
132.
Cấm truyền giới cụ túc cho người mặc dù đủ tuổi hạ
mà Tăng chưa cho phép.
133.
Cấm phiền trách Tăng đoàn không cho phép truyền giới.
134.
Cấm cho một Thức-xoa-ma-na thọ cụ túc giới khi chưa có sự
đồng ý của cha mẹ hoặc chồng của người ấy.
135.
Cấm cho thọ cụ túc giới cho một Thức-xoa-ma-na mà người
ấy bị thất tình [26].
136.
Cấm thất hứa không cho một Thức-xoa-ma-na thọ cụ túc giới
khi đã trải qua hai năm tu tập.
137.
Cấm hứa cho thọ cụ túc đối với một Thức-xoa-ma-na sau
khi nhận vải may y.
138.
Cấm trong 1 năm cho hai Thức-xoa-ma-na thọ cụ túc giới. [27]
139.
Cấm truyền giới cụ túc rồi mà để qua đêm mới đi trình
diện với Tăng đoàn.
140.
Cấm chẳng đến thỉnh cầu giáo giới hoặc không thính pháp
với Tăng đoàn, trừ khi bệnh.
141.
Cấm vắng mặt trong ngày tụng giới [28] và giáo giới vào
mỗi nửa tháng.
142.
Cấm an cư xong mà không đến chư Tăng làm lễ Tự Tứ (trình
bày ba vấn đề: những gì được thấy, nghe và nghi).
143.
Cấm an cư một trú xứ không có chư Tăng.
144.
Cấm vào chùa chư Tăng mà không xin phép.
145.
Cấm mắng nhiếc hay rủa xả chư Tăng.
146.
Cấm vì giận hoặc không vui mà rủa chưởi chư Ni.
147.
Cấm cho phép người nam băng bó ung nhọt.
148.
Cấm ăn rồi mà ăn nữa.
149.
Cấm ganh tỵ với cư sĩ.
150.
Cấm sử dụng các loại dầu thơm.
151.
Cấm bôi các loại dầu.
152.
Cấm sai Tỳ-kheo-ni xoa bóp hoặc thoa dầu cho mình.
153.
Cấm sai Thức-xoa xoa bóp hoặc thoa dầu cho mình.
154.
Cấm sai sa-di-ni [29] xoa bóp hoặc thoa dầu cho mình.
155.
Cấm sai người nữ xoa bóp hoặc thoa dầu cho mình.
156.
Cấm mặc áo yếm.
157.
Cấm sở hữu đồ trang sức của phụ nữ.
158.
Cấm đội dù, mang giày, trừ khi bệnh.
159.
Cấm đi xe trừ khi bệnh.
160.
Cấm vào làng mà không mặc y choàng.
161.
Cấm vô nhà người nếu không được mời thỉnh.
162.
Cấm ra đi lại để cổng chùa mở mà không báo chư Ni.
163.
Cấm ra đi lại để cổng chùa mở mà không báo với ai cả.
164.
Cấm không làm lễ tiền an cư hoặc hậu an cư trừ khi bệnh
[30].
165.
Cấm cho người có chướng nạn [31] thọ giới cụ túc.
166.
Cấm cho người bán nam bán nữ thọ giới cụ túc.
167.
Cấm cho người có hai đường tiểu tiện hiệp một thọ giới
cụ túc.
168.
Cấm cho người mắc nợ hoặc có bệnh nan y thọ giới cụ
túc.
169.
Cấm nuôi sống bằng nghề thế tục.
170.
Cấm dạy cho cư sĩ các nghề thế tục.
171.
Cấm bị Tăng đuổi mà không đi.
172.
Cấm thình lình cật vấn Tỳ-kheo mà không được sự đồng
ý của vị ấy.
173.
Cấm quấy rầy chư Tỳ-kheo-ni có tuổi hạ lớn hơn mình [32].
174.
Cấm xây chùa Ni trong chùa Tăng.
175.
Cấm Tỳ-kheo-ni dù trăm tuổi hạ gặp vị Tỳ-kheo dù mới
thọ giới mà không tôn kính đảnh lễ.
176.
Cấm nhảy cỡn với thái độ kiêu mạn.
177.
Cấm trang điểm như phụ nữ thế tục.
178.
Cấm sai phụ nữ ngoại đạo xoa bóp hoặc xức dầu thơm cho
mình.
Như
trong bảng liệt kê trên, chúng ta nhận thấy có 71 giới áp
dụng chung cho cả Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni. Các giới trong phần
này có nội dung khác nhau rất nhiều và có thể có một
cái gì đó rất tuỳ tiện. Tuy nhiên, khi khảo sát nội
dung các giới này chúng ta có thể chia chúng thành một số
nhóm có cùng chủ đề lớn. Khi khảo sát sâu phạm vi của
các giới này, chúng ta nhận thấy chúng bao quát nhiều phương
diện trong đời sống của Tỳ-kheo-ni, các giới trong Ba-dật-đề
[33] của Tỳ-kheo-ni, đại khái có thể được phân loại như
dưới đây:
Chúng
tôi tạm mặc ước cách trình bày như sau: Trước nhất
là phân loại tội, kế đến là các giới liên hệ đến loại
tội đó, thứ ba là tổng số giới liên hệ đến loại tội
này, và cuối cùng là số giới liên hệ đến Tỳ-kheo-ni.
1.
Thọ giới: 119, 120, 121, 122, 123, 124, 125, 126, 127, 134, 135, 165,
166, 167 và 168; tổng số giới: 15; chư Ni phạm chỉ có 14.
2.
Y phục: 44, 45, 102, 103, 104, 105, 106, 108, 109, 110, 114, 156 và
160; tổng số giới: 14; chư Ni phạm 12.
3.
Trang sức: 71, 150, 151, 152, 153, 154, 155, 157, 158, 177 và 178; tổng
số giới: 11; chư Ni phạm 11.
4.
Phẩm hạnh và trách nhiệm của vị thầy: 128, 130, 131,
132, 133, 136, 137, 138; tổng số giới: 9; chư Ni phạm 9.
5.
Hành động liên hệ đến nam giới: 9, 30, 80, 82, 86 và
147; tổng số giới: 7; chư Ni phạm 6.
6.
Mất phẩm hạnh: 37, 38, 43, 48, 73, 74, 77, 78 và 79; tổng số
giới: 9; chư Ni phạm 6.
7.
Cách ứng xử công cộng: 83, 84, 85, 99, 161 và 176; tổng số
giới: 6; chư Ni phạm 6.
8.
Giáo giới trong ngày tụng giới và an cư: 140, 141, 142, 143,
164; tổng số giới: 5; chư Ni phạm 5.
9.
Du hành: 51, 67, 95, 97, 98, 159; tổng số giới: 7; chư Ni phạm
5.
10.
Cách thể hiện tôn trọng đối với Tỳ-kheo: 75, 144, 145, 172;
tổng số giới: 4; chư Ni phạm 4.
11.
Thức ăn: 21, 23, 24, 25, 26, 27, 31; tổng số giới 11; chư Ni
phạm 3.
12.
Tranh cãi: 17, 40, 61, 62, 64, 94, 146; tổng số: 8; chư Ni phạm
2.
13.
Chửi rủa: 88 và 89; tổng số 2, chư Ni phạm 2.
14.
Ngủ chung: 90 và 91; tổng số 2.
15.
Tắm rửa: 41, 72 và 101; tổng số 3.
16.
Bùa chú: 117, 118; tổng số 2.
17.
Nghề nghiệp: 169 và 170; tổng số: 2.
18.
Đóng cửa chùa: 162 và 163; tổng số: 2.
19.
Tranh luận hay bất hòa: 1, 2, 3, 7, 12, 13, 39, 50, 111; tổng số:
9.
20.
Ngủ chung phòng với cư sĩ: 4, 5, 116; tổng số: 3.
21.
Trú ngụ: 10, 11, 16, 19, 20, 173; tổng số: 6.
22.
Cách ứng xử trong nhà vợ chồng cư sĩ: 28, 29, 161; tổng số:
3.
23.
Cách ứng xử khi đặt câu hỏi: 92; tổng số: 1.
24.
Cách truyền đạt: 87; tổng số: 1.
25.
Chăm sóc Tỳ-kheo-ni bệnh: 93; tổng số 1.
26.
Vi phạm các thanh quy của tự viện: 59, 60, 171; tổng số: 3.
27.
Viếng thăm cung vua: 65, 100; tổng số: 2.
28.
Ăn tỏi: 70; tổng số: 1.
29.
Đi với cư sĩ: 113; tổng số 1.
30.
Ghanh ghét: 149; tổng số 1.
31.
Cách dạy dỗ của Thầy: 129; tổng số 1.
32.
Sử dụng giường ghế: 14, 15, 115; tổng số: 3.
33.
Sử dụng trường kỷ hoặc nệm: 18, 68, 69; tổng số: 3.
34.
Đi đến chỗ quân đội: 33, 34, 35; tổng số 3.
35.
Uống rượu: 36; tổng số 1.
36.
Đốt lửa: 42; tổng số: 1.
37.
Hại sinh vật: 46, 47; tổng số: 2
38.
Che dấu tội của người khác: 49; tổng số 1.
50.
Quan niệm sai: 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58; tổng số 7.
51.
Xử lý đồ quý: 66; tổng số: 1.
52.
Tuyên bố sai: 8; tổng số: 1.
53.
Tụng kinh với cư sĩ: 6; tổng số: 1.
54.
Thuốc men: 32; tổng số: 1.
(Tôi
không nêu các giới 139, 174 và 175 trong bảng liệt kê trên
vì các giới này sẽ được phân tích chi tiết sau).
Nhìn
chung, các điều luật trong phần Ba-dật-đề chúng ta thấy
điểm nổi bật là các điều luật được thêm vào cho Tỳ-kheo-ni
liên hệ đến các vấn đề: thọ giới, y phục, trang sức,
các phẩm hạnh và trách nhiệm của người thầy, các hành
vi ứng xử với người nam, thiếu nghiêm trang và các
cách ứng xử công cộng, giáo giới trong ngày bố-tát và an
cư, du hành, cách đối xử với Tỳ-kheo, v.v… Nagata Mizu nói
rằng nhiều giới được thêm vào cho Tỳ-kheo-ni trong phần
này được gắn liền với phương diện lịch sử, tức là
nơi ăn chốn ở của Tỳ-kheo-ni trong thời của đức Phật.
Vào lúc ấy, Tỳ-kheo-ni chủ yếu sống trong làng mạc nông
thôn, các Tỳ-kheo thì sống trong làng mạc hay trong rừng. [34]
Câu chuyện một vị Tỳ-kheo-ni trẻ bị một người nam dụ
dỗ và giới này được chế định có ghi lại trong Cullavagga
(Tiểu Phẩm) thuộc hệ văn học Pāli như sau: “Lúc bấy giờ
chư Ni đang sống trong rừng; những người đàn ông du
thủ du thực dụ dỗ chư Ni. Ðức Thế Tôn biết được sự
kiện này, Ngài dạy: Này các Tỳ-kheo, chư Ni không được
sống trong rừng. Người nào sống trong rừng phạm tội ác
tác.” [35]
Susan
Murcott kể về một câu chuyện khác: “Một người đàn ông
trẻ tên là Ananda (ông không phải là Ānanda - người bà con
và thị giả của đức Phật) muốn Uppalavaṇṇā (Liên Hoa
Sắc) làm bà con với ông. Ananda không muốn cô xuất gia. Vào
những năm đầu Uppalavaṇṇā mới thọ giới, Ananda thấy
cô sống một mình trong thất ở Andhavana. Một ngày kia trong
khi cô ra ngoài, ông đã lẻn vào và trốn dưới gầm giường.
Khi cô trở về và nằm trên gường, đột nhiên ông nhảy
ra và hãm hiếp cô…Do sự kiện này, từ lúc đó đến nay
chư Ni cấm không được đi hoặc ở một mình như các ẩn
sĩ sống trong rừng.” [36]
Sau
này các giới cấm sự du hành độc lập của chư Ni được
chế định. Từ đó chư Ni được thành lập sống thành cộng
đồng chung với nhau trong làng mạc hoặc ngoại ô. [37]
Các
câu chuyện trong Bhikṣunī-vibhaṅga kể lại tại sao các Tỳ-kheo-ni
bị xem là yếu đuối và trở thành những nạn nhân của sự
cưỡng bức. Do đó, họ không được ở một mình trong rừng
hoặc an cư ở một trú xứ không có chư tăng. [38]
Có
nhiều câu chuyện kể lại trong Luật Tạng chư Tỳ-kheo-ni
bị người nam cưỡng bức hoặc xâm phạm thân thể. Nhiều
câu chuyện nói về sự cưỡng bức của nam giới đối với
Tỳ-kheo-ni đã xảy ra trong suốt thời đức Phật.
“…Lúc
bấy giờ một số vị Tăng và Ni đang đi trên đường từ
Sāketa đến Sāvatthī. Rồi chư Ni bạch với chư Tăng như vầy:
“Chúng con sẽ đi theo các Đại Đức.” Chư Tăng nói: “Này
các Sư Cô không được phép đi như vậy, hãy đi cùng đường
với chư Ni. Hoặc là quý Sư Cô đi trước hoặc là chúng tôi
đi trước.” Chư Ni thưa, “Bạch chư Đại Đức, chư Đại
Đức là những người có đạo đức, xin chư Đại
Đức đi trước” rồi chư Ni đang đi sau thì bị bọn cướp
trên đường bắt hãm hiếp. [39]
“…Rồi
các vị Ni ấy đi băng qua đường thì bị bọn cướp bắt
hãm hiếm. [40]
“…Rồi
chư Ni đi đến người chèo thuyền nói rằng: “Thưa ông,
hãy đưa giúp chúng tôi qua sông.” Người chèo thuyền nói
rằng: “Thưa hai cô Ni, tôi không thể đưa 2 cô đi cùng một
lần.” Ông đã đưa một cô sang với ông; cô sang sông với
ông bị hãm hiếp, cô ở lại không bị hãm hiếp.” [41]
“Lúc
bấy giờ một số vị Ni đang đi trên đường đến Sāvathī
ngang qua các tiểu quốc thuộc Kośalā. Có một vị Ni nào đó
muốn đi thoải mái, cô đi lùi về phía sau một mình. Thấy
cô đi một mình người ta đã hãm hiếp cô.” [42]
Gross
giải thích: “Lo ngại sự nguy hiểm của phụ nữ xuất gia
dễ bị cưỡng bức là vấn đề hiện thực, những câu chuyện
hãm hiếp của nam giới đối với chư Ni đã xảy ra, vì vậy
các điều luật được chế định ra để ngăn ngừa. Các
giới này thường nghiêm khắc không cho phép phụ nữ du hành
và tu tập độc cư, cũng như ngày nay chúng ta thường ngăn
chặn sự cưỡng hiếp của nam giới đối với phụ nữ bằng
cách khuyên phụ nữ không nên ở nơi nguy hiểm trong những
giờ không thích hợp. [43]
Do
cộng đồng Ni đoàn sống những nơi làng mạc nông thôn, các
lỗi lầm của các Tỳ-kheo-ni rất dễ dàng bị mọi người
phát hiện. Theo Luật Tạng ghi lại, cư sĩ và ngoại đạo
phê bình chư Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni không có đức hạnh chẳng
tiếc lời. Các tin đồn và những sự buộc tội của mọi
người đối với Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni đầy dẫy trong Luật
Tạng. Như tôi đã nêu một số sự kiện ở trên, điều sỉ
nhục đắng cay phần lớn nhắm đến Tỳ-kheo-ni hơn là Tỳ-kheo.
Khi Tỳ-kheo-ni làm một việc gì đó sai sót, mọi người mắng
chưởi Tỳ-kheo-ni là “những con điếm trọc đầu.” Ngược
lại khi Tỳ-kheo làm việc gì sai, tôi chưa từng nghe người
ta nói điều này như người ta thường xúc phạm đến chư
Ni, như dùng từ “trọc đầu, …”. Trong Tứ Phần Luật
tiếng Hoa chúng ta thấy nhiều lần người ta nhục mạ Tỳ-kheo-ni
là “gái điếm” hay “kẻ trộm.” [44] So sánh những lời
phê bình của mọi người đối với Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni,
chúng ta thấy rằng con người trong xã hội Ấn Độ cổ đại
dễ phẫn nộ đối với việc làm sai trái của Tỳ-kheo-ni
hơn là các việc làm sai trái của Tỳ-kheo. Điều này cũng
nói lên rằng chính vì lý do này mà phải chế định nhiều
giới luật cho Tỳ-kheo-ni hơn Tỳ-kheo trong tụ Ba-dật-đề.
Con người trong xã hội lúc ấy bất đắc dĩ lắm mới cho
phép phụ nữ từ bỏ đời sống gia đình để tự do đi vào
đời sống xuất gia. Nhiều giới được chế định ra trong
phần này vì chư Tỳ-kheo-ni đang sống trong hoàn cảnh xã hội
như vậy.
Sự
phân loại các giới Ba-dật-đề như bản liệt kê trên trình
bày nhiều giới liên hệ đến thọ giới cụ túc của phụ
nữ. Trong Bhikṣunī-vibhaṅga không có chủ đề nào chú trọng
nhiều như chủ đề thọ cụ túc giới.
Bà
Horner nói rằng: “Rất nhiều phụ nữ đã tổ chức quy củ
lũ lượt gia nhập Ni đoàn. Điều đó chúng ta có thể hiểu
được vì thông thường họ bị xem là kém đạo đức
hơn chư Tăng, và do đó họ phải được trải qua sự thử
thách nghiêm khắc hơn để hạn chế những thành phần gia
nhập Ni đoàn không phải vì mục đích tu tập thật sự.
[45]
Trong
các giới liên hệ đến thọ giới của phụ nữ, các
giới 122 và 123 đặc biệt yêu cầu phụ nữ phải tuân thủ
6 giới tu tập buộc trải qua 2 năm.[46] Nagata Mizu cũng nói
rằng Thức-xoa-ma-na phải tuân giữ 6 giới tu tập trong 2 năm
và có một số giới nghiêm khắc hơn về việc thọ giới
của phụ nữ, điều này nói lên rằng đời sống phạm hạnh
của Tỳ-kheo-ni có khó khăn hơn Tỳ-kheo.[47]
Mặc
khác, bà Horner giải thích: “Một trong những lợi ích của
2 năm tu tập cho phụ nữ là ngăn ngừa những thành phần tìm
chỗ nương náu trong Ni đoàn, chỉ vì để lẩn tránh hoàn
cảnh quẫn bách không vừa ý hoặc có thể tìm nơi trú ẩn
trong hoàn cảnh bị khiêu khích hay bị sợ hãi. Điều này
cũng thường được đánh đồng với những người muốn phát
tâm xuất gia thật sự, cũng có nhiều trường hợp họ có
thể không hoàn toàn thích hợp với đời sống xuất gia. [48]
Cá
nhân tôi cũng sống trong đời sống của một Tỳ-kheo-ni, tôi
nghĩ rằng điều kiện cần thiết buộc phải giữ 6 giới
tu tập trong 2 năm cho một Thức-xoa có liên hệ đến hoàn
cảnh đặc biệt và tình trạng giáo dục đối với phụ nữ.
Ví dụ, khi người nữ vào chùa tập sự, có thể cô không
biết cô bị có thai. Cô có thể sinh con sau khi gần 1 năm đã
vào chùa. Sự kiện này đã xảy ra trong thời đức Phật,
được ghi lại trong Cullavagga (Tiểu Phẩm): “Lúc bấy giờ
có một phụ nữ xin xuất gia khi cô đã bị có thai, và sau
khi xuất gia cô mới sinh con.” [49]
Các
giới 119 và 120 trong tụ Ba-dật-đề của Tỳ-kheo-ni kể lại
khó khăn như thế nào cho đời sống khất thực của Tỳ-kheo-ni
có thai:
“Bấy
giờ Ni đoàn cho thọ giới một phụ nữ đang mang thai. Cô
đi khất thực, mọi người nói rằng: “Hãy cho thức ăn cho
cô đang mang nặng thai ngén.” [50]
“Bấy
giờ Ni đoàn cho thọ giới một phụ nữ có con nhỏ. Cô ấy
đi khất thực, mọi người nói rằng: “Hãy cho thức ăn cho
cô có con nhỏ.” [51]
Sư
Cô Lekshe Tsomo giải thích quá trình cần phải trải qua của
một Thức-xoa-ma-na giữ 6 giới trong 2 năm như sau: “Chúng
ta nên hiểu lịch sử và lý do phía sau việc thọ giới Thức-xoa-ma-na
này. Trong thời đức Phật, một số Ni trẻ lìa gia đình gia
nhập vào đời sống Ni đoàn và thọ giới Tỳ-kheo-ni liền.
Điều này đã xảy ra một số vị đã bị có thai trước
khi thọ giới Tỳ-kheo-ni. Mặc dù phạm hạnh của họ hoàn
toàn thanh tịnh sau khi họ sống trong Ni đoàn, nhưng sau khi
thọ giới họ mới biết mình có thai. Điều này đã dẫn
đến sự hiểu lầm của cộng đồng Phật tử cư sĩ, vì
điều đó không thích hợp cho đời sống độc cư của Tỳ-kheo-ni
có thai. Do đó, đức Phật quy định giai đoạn thời gian chờ
đợi 2 năm để tránh đi những sự hiểu lầm như vậy. Quy
luật thọ giới Thức-xoa-ma-na không phải là cách đối xử
phân biệt mà đơn giản chỉ vì vấn đề thực tế.” [52]
Ji-kwan
Lee xác nhận rõ ràng mục đích của việc tu tập tuân giữ
6 giới trong 2 năm cho Thức-xoa là để kiểm tra tình trạng
có thai có thể xảy ra và khả năng có thể sống một đời
sống của Tỳ-kheo-ni hay không. Cũng có thể mục đích chính
của đức Phật quy định giữ 6 giới trong 2 năm trong giai
đoạn Thức-xoa-ma-na là để nâng cao đạo đức của phụ
nữ nhờ sự giáo dục mạnh mẽ trước khi thọ cụ túc
giới. Chúng ta cũng nên chú ý rằng trong môi trường xã hội
của Ấn Độ cổ đại, phụ nữ ít được giáo dục hoặc
không được giáo dục. Ví dụ giới 36 Ba-dật-đề trong Luật
Pāli ghi:
“Lúc
bấy giờ Ni đoàn cho một phụ nữ lập gia đình đã 12 năm
thọ giới cụ túc nhưng không trải qua giai đoạn 2 năm tuân
giữ 6 giới. Những người này khờ khạo, không có kinh nghiệm,
họ không biết những gì được cho phép và những gì không
được cho phép…Bất cứ Ni nào cho thọ giới một phụ nữ
lập gia đình đã 12 năm nhưng không trải qua giai đoạn 2 năm
tuân giữ 6 giới, phạm tội Ba-dật-đề.[53]
Khi
chúng ta suy xét đến vị trí thấp thỏi và kém giáo dục
của phụ nữ thời đó, chúng ta sẽ thấy sự tu tập 2 năm
của một Thức-xoa để chuẩn bị thọ giới cụ túc là điều
hết sức thực tế.
Nhóm
có nhiều giới đứng thứ nhì trong các giới của tụ Ba-dật-đề
liên hệ đến những chủ đề như y phục, trang điểm. Các
điều luật trong nhóm này hầu hết đề cập đến những
vấn đề quan tâm đặc biệt của phái nữ và cũng có lẽ
đây là lý do tại sao mà các giới này trong Luật Tỳ-kheo
không có. Một số giới trong các nhóm này cấm những vấn
đề nhỏ nhặt đặc biệt dành cho phụ nữ, ví dụ như nói
chuyện phiếm, mặc áo mỏng hay áo lót.
Nhóm
có nhiều giới thứ ba của các điều luật thêm vào cho Tỳ-kheo-ni
liên hệ đến phẩm hạnh và nhiệm vụ của một vị thầy,
một người thầy phải hết sức có trách nhiệm đối với
đệ tử. Theo truyền thống, trong Tăng đoàn, mỗi Sa-di và
Thức-xoa phải theo sự dạy dỗ của thầy. Do đó, phẩm hạnh
và trách nhiệm cá nhân của vị thầy vô cùng quan trọng đối
với việc truyền giới cho đệ tử. Mối quan hệ thầy trò
là người thầy phải dạy cho đệ tử mình mọi phương diện
mà người đệ tử cần biết. Đối với Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni,
các bổn phận và trách nhiệm của một vị thầy đều cần
thiết như nhau.
“…Một
Tỳ-kheo-ni muốn thọ giới trước tiên phải tìm đến một
vị thầy; thứ hai là vị thầy đó phải thông thạo, có kinh
nghiệm, người thầy đó phải được trang bị đầy đủ.
Vấn đề đối với các luật này dường như có hai điều.
Trước hết, người tập tu có thể nhận sự dạy dỗ quý
báu từ vị thầy có phẩm hạnh tốt trong thời gian 2 năm
tập sự của cô.” [54]
Các
giới thêm vào của Tỳ-kheo-ni đề cập các phẩm hạnh và
trách nhiệm của một vị thầy có thể là một kết quả
của việc giáo dục khó khăn cho người nữ. Ví dụ như một
số giới trong nhóm này nêu ra rằng: “Lúc bấy giờ chư Ni
trong thời gian 2 năm tu tập không đến thăm thầy. Những vị
này khờ khạo, không có kinh nghiệm, không biết những gì
cho phép và những gì không cho phép…Chư Ni nào trong 2 năm
không đến thăm thầy thì phạm tội phải sám-hối.” [55]
“Lúc
bấy giờ có các vị Ni chưa được 12 hạ. Họ khờ khạo,
không có kinh nghiệm, không biết những gì cho phép và những
gì không cho phép…hơn nữa người ở chung phòng với những
vị ấy cũng khờ khạo, không có kinh nghiệm không biết những
gì cho phép và những gì không cho phép…Chư Ni nào chưa được
12 tuổi hạ truyền giới cho người khác phạm tội phải
sám-hối.” [56]
Các
điều luật này ngụ ý nói rằng đức Phật đã cố gắng
giáo dục để nâng cao địa vị phụ nữ, và chỉ cho phụ
nữ nhận thức khả năng của họ trong một xã hội mà họ
bị đàn áp.
Nhóm
có nhiều giới thứ tư trong các giới thêm vào cho Tỳ-kheo-ni
quy định về các cư xử đứng đắn đối với người nam,
cách ứng xử sao cho thích hợp và có hạnh kiểm. Như tôi
đã nêu ở trước, các giới này đề cập chủ yếu đến
sự xoi mói của mọi người đối với đời sống thường
nhật của Tỳ-kheo-ni. Vì trong hoàn cảnh sống của Tỳ-kheo-ni,
họ phải cảnh giác về sự chú ý của mọi người và
đòi hỏi họ phải lưu tâm hơn các Tỳ-kheo đối với những
sự chú ý như vậy trong đời sống thường nhật. Nói cách
khác, Tỳ-kheo-ni luôn bị mọi người dòm ngó.
Nhóm
nhiều giới thứ năm trong phần Ba-dật-đề của Tỳ-kheo-ni
liên hệ đến việc giáo giới trong ngày bố-tát và an cư.
Hai giới (140 và 141) đề cập lời giáo giới trong ngày bố-tát.
Ba giới (142, 143 và 164) đề cập an cư. Ba giới (141,
142 và 143) giống như các điều luật (6, 7 và 8) trong Bát Kính
Pháp của Tứ Phần Luật tiếng Hoa. Đặc biệt 4 giới
(140, 141, 142 và 143) đã làm cho nhiều người nghĩ rằng Ni
đoàn dưới quyền điều khiển của Tăng đoàn.
Tuy
nhiên bà Kabilsingh giải thích: “Khi Ni đoàn phát triển lớn
mạnh, họ không thể nhận lời dạy trực tiếp từ chính
đức Phật. Do đó, chư Tỳ-kheo-ni được phép thọ học từ
các Tỳ-kheo, nhưng không phải tất cả các Tỳ-kheo đều giáo
giới cho Tỳ-kheo-ni, vì vậy giới 21 trong tụ Ba-dật-đề
của Tỳ-kheo được chế định. Luật Tạng giải thích thêm,
một Tỳ-kheo giáo giới cho Tỳ-kheo-ni phải được Tăng đoàn
chấp thuận, phải đủ 20 tuổi hạ, và phải có 8 đức hạnh.
[57]
Bà
Horner cũng nói: “ Việc giáo giới Tỳ-kheo-ni không được
uỷ nhiệm cho một vị Tỳ-kheo không được Tăng đề cử
chính thức. Tám đức hạnh cần có của một vị Tỳ-kheo
giáo giới cho Tỳ-kheo-ni …Như vậy dường như vị Tỳ-kheo
ấy phải là người có tiếng tốt, có phẩm hạnh đạo đức
cao viễn; và không còn phạm những lỗi nhỏ nhặt. Ðiều
luật này phản ảnh uy tín của đức Phật và đó cũng là
một điển hình cho mối quan tâm sâu sắc của đức Phật
đối với các lợi ích cho nữ giới [58]
Khi
chúng ta xem nội dung của các giới 140,141 và 142 của Tỳ-kheo-ni,
chúng ta thấy vị trí của Tỳ-kheo là thầy hay người cố
vấn cho Tỳ-kheo-ni. Sự thật, các giới 21 và 22 trong tụ Ba-dật-đề
của Tỳ-kheo đặc biệt mô tả các Tỳ-kheo có phẩm hạnh
như các bậc thầy hay người cố vấn. Ngược lại, giới
172 của Tỳ-kheo-ni trong Ba-dật-đề cho chúng ta thấy một
vị Tỳ-kheo không được Tăng đoàn đề cử giáo giới bị
Tỳ-kheo-ni chế nhạo và cảm thấy bị xấu hổ khi vị ấy
trả lời không đúng những câu hỏi của vị Tỳ-kheo-ni thông
thái đã đặt ra.
Nancy
Auer Falk diễn tả tổng quát các điều luật của Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni như sau: “Trong hầu hết các phương diện, luật
đuợc áp dụng cho chư Tăng và chư Ni hết sức công bằng.
Trước khi cuộc sống định cư ở các tu viện được thành
lập, chư Tăng và chư Ni có đời sống du phương giống nhau,
thoát ra ngoài sự trói buộc và công việc của gia đình, điều
này đã cho phép người nam hoặc người nữ trong thời Ấn
Độ cổ đại có nhiều cơ hội để theo đuổi nghiêm túc
sự rèn luyện tâm linh. Cả chư Tăng và chư Ni mỗi ngày đều
đi khất thực, họ tổ chức hội họp, Bố-tát nghiêm túc
nửa tháng một lần để đọc Giới Bổn. Chư Tăng và chư
Ni đều giống nhau, cả hai đều cạo đầu, đều mặc y vá,
nhuộm màu đất, choàng phủ khắp thân nhưng chừa vai mặt.[59]
Wijayaratna
cũng giải thích về Ni đoàn: “Tổ chức của Ni đoàn đi
song song với tổ chức của Tăng đoàn. Giống như chư Tăng,
chư Ni có Giới Bổn riêng, các pháp yết-ma (vinaya-karma, saṅgha-karma)
như nhau, và họ cũng có 2 lần làm lễ, đó là lễ xuất gia
(pabbajja) và lễ thọ cụ túc giới (upasampadā). Sau khi thọ
cụ túc giới 10 năm, họ được gọi là Trưởng Lão Ni (Therī).
Chư Ni tổ chức đời sống cộng đồng của họ một cách
độc lập và theo bộ luật riêng của họ, nhưng phải nhờ
sự hỗ trợ và cố vấn của chư Tăng. Chư Tăng có quyền
cố vấn chư Ni chứ không có quyền kiềm chế họ.” [60]
Jampa
Tsedroen đưa ra một lý do nữa tại sao Tỳ-kheo có quyền cố
vấn Tỳ-kheo-ni như vầy: “Đức Phật đưa ra những quy luật
để bảo vệ cho Ni đoàn tránh đi những công kích bên ngoài.
Ngài dạy chư Ni phải giữ mối liên hệ đều đặn với chư
Tăng, giúp cho chư Ni có kiến thức thực tiễn và nhờ những
lời khuyên đó chư Ni có niềm vui trong tình huynh đệ”. [61]
Một
số giới trong nhóm thứ sáu của Tỳ-kheo-ni nêu ra việc đề
phòng chư Tỳ-kheo-ni du hành ở những nơi nguy hiểm. Như tôi
đã bàn thảo ở trước, nhiều câu chuyện Tỳ-kheo-ni bị
hãm hiếp và xảy ra trộm cướp của Tỳ-kheo hay nam cư sĩ
trong Luật. Điều này nói lên rằng xã hội thời đức Phật
không được an toàn đối với việc du hành của phụ nữ.
“Bấy
giờ một số vị Tăng đang đi trên đường từ Sāketa đến
Sāvathī. Giữa đường bọn cướp xuất hiện ở trước cướp
bóc các vị Tăng này.” [62]
“…Sau
khi chuẩn bị những đồ dự trữ để lên đường, rồi cư
sĩ ấy đang đi đến đoạn cuối đường, bọn cướp đến
cướp đoạt.” [63]
“Lúc
bấy giờ chư Ni đang đi khất thực trong vùng, có nguy hiểm,
trận chiến, chư Ni không có vũ khí tự vệ. Những người
đàn ông ác tâm đã tấn công chư Ni.” [64]
“Lúc
bấy giờ chư Ni đi khất thực ngoài vùng của họ đang ở
có nguy hiểm, trận chiến, chư Ni không có vũ khí tự vệ.
Những người đàn ông ác tâm đã tấn công chư Ni.” [65]
Khi
đọc các câu chuyện trên trong Luật Tạng, chúng ta thấy một
số điều luật trong nhóm thứ sáu chỉ ra công việc phải
tự vệ của chính các Tỳ-kheo-ni và mối quan tâm lo lắng
của đức Phật đối với đệ tử nữ của Ngài.
Nhóm
lớn thứ bảy của các giới thêm vào cho Tỳ-kheo-ni trình
bày cách đối xử với chư Tỳ-kheo. Giới 75 ngăn chặn Tỳ-kheo-ni
phục vụ nước hoặc quạt cho Tỳ-kheo đang dùng cơm. Giới
144 đề cập cung cách đứng đắn của Tỳ-kheo-ni vào chùa
chư Tăng. Giới 145 nội dung giống như điều thứ hai trong
Bát Kính Pháp. Giới này sẽ được bàn thảo sau chi tiết
hơn.
Vì
cách sống đặc biệt của Tỳ-kheo-ni, và đặc biệt hơn,
vào giai đoạn nhị bộ Tăng phát triển, buộc chư Tỳ-kheo
cũng có những giới đặc biệt dành riêng cho họ. Các giới
được liệt kê dưới đây trình bày 20 giới trong tụ
Ba-dật-đề dành riêng cho Tỳ-kheo:
Số
La-tinh chỉ cho trật tự của giới Tỳ-kheo, kế đến là nội
dung căn bản của giới Tỳ-kheo [66]:
21.
Cấm giáo giới cho chư Ni mà không có Tăng sai.
22.
Cấm giáo giới cho chư Ni sau khi mặt trời lặn, dù có Tăng
sai.
23.
Cấm nói với chư Ni “chư Tăng thuyết pháp chỉ vì lợi dưỡng.”
24.
Cấm trao y phục cho một vị Ni không quen biết, trừ khi đổi.
25.
Cấm may y cho một vị Ni không quen biết.
26.
Cấm ngồi với một vị Ni chỗ kín hoặc che khuất.
27.
Cấm hẹn hò cùng đi với một Tỳ-kheo-ni đến một ngôi làng
khác, trừ khi buộc phải đi.
28.
Cấm hẹn hò đi cùng thuyền xuôi dòng hoặc ngược dòng với
một Tỳ-kheo-ni, trừ khi ngang qua.
29.
Cấm sai Tỳ-kheo-ni nấu thức ăn cho mình.
30.
Cấm hẹn hò cùng đi với một phụ nữ.
32.
Cấm ăn hai lần trong cùng một ngôi làng.
35.
Cấm ăn đã đủ mà còn để dành lại.
36.
Cấm cố ý mời một vị Tăng đã ăn no rồi ăn nữa.
40.
Cấm đòi hỏi thức ăn ngon như sữa, sữa chua, cá thịt, trừ
khi bệnh. [67]
41.
Cấm tự tay cho thức ăn cho nam hoặc nữ ngoại đạo.
64.
Cấm che dấu tội nặng của Tỳ-kheo.
86.
Cấm làm hộp đựng kim bằng xương, ngà hoặc sừng.
87.
Cấm may toạ cụ rộng quá thước; chiều dài chỉ bằng 2
gang tay của đức Thế Tôn, [68] rộng bằng một gang rưỡi
đức Thế Tôn.
88.
Cấm có vải che ghẻ quá thước tấc; chiều dài chỉ được
bằng 2 gang của đức Thế Tôn, rộng bằng 4 gang tay của
đức Thế Tôn.
90.
Cấm may y phục có kích thước bằng với y phục của đức
Phật.
Từ
bảng liệt kê trên chúng ta thấy 20 giới của Tỳ-kheo khác
với các giới của Tỳ-kheo-ni, giới (30) liên hệ với phụ
nữ; 5 giới (32, 35, 36, 40 và 41) liên hệ đến thức ăn; 4
giới (86, 87, 88 và 90) đề cập về y phục; giới 64 nói về
việc che dấu tội nặng của người khác; 9 giới (21 - 29)
đề cập về các quan hệ với Tỳ-kheo-ni. Giới 64 liên hệ
đến sự che dấu tội nặng của Tỳ-kheo khác, bản thân tội
này là tội nặng nhất được phân loại trong cả hai tụ
Ba-la-di hoặc Tăng-già-bà-thi-sa. [69] Ngược lại, giới thứ
7 trong tụ Ba-la-di của Tỳ-kheo-ni lại tương đương với
giới 64 của Tỳ-kheo. Giới này nếu Tăng phạm thì phạm ba-dật-đề,
trong khi đó Tỳ-kheo-ni phạm thì thuộc tội Ba-la-di. [70]
Một
số giới Ba-dật-đề của Tỳ-kheo-ni được chế định thêm
vào sau này. “Chúng ta cũng thấy số lượng các giới trong
Giới Bổn Ni nhiều hơn so với Giới Bổn Tăng, nhiều
giới được chế định thêm vào đặc biệt cho chư Ni.”
[71] Giới 174 của Tỳ-kheo-ni có thể được chế định thêm
sau này, vì giới này không có trong Giới Bổn Ni (Bhikṣunī
Prātimokṣa) thuộc văn học Pāli, và nó cũng đề cập đến
sự thờ cúng chùa tháp. Kabilsingh nói, Luật của Pháp Tạng
Bộ có nhóm giới đặc biệt liên hệ đến sự thờ cúng
chùa tháp. Có thể những giới thờ cúng chùa tháp này được
phát triển ở Trung Hoa - nơi Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna)
được thịnh hành.[72] Giới 139 tôi cũng không thấy
trong Giới Bổn Ni (Bhikṣunī Prātimokṣa) thuộc văn học Pāli.
Tuy nhiên, Tiểu Phẩm (Cullavagga) thuộc văn học Pāli có nói
người muốn thọ giới Tỳ-kheo-ni thì phải được Ni đoàn
truyền giới trước, và sau đó sang Tăng đoàn làm lễ thọ
giới. [73] Giới 175 cũng có thể được thêm vào sau này, vì
giới này không thấy có trong Luật Pāli mà lại có trong Tứ
Phần Luật. Điều này sẽ được bàn thảo sau trong phần
Bát Kính Pháp.
Ðối
chiếu số lượng các giới trong tụ Ba-dật-đề của Giới
Bổn Ni giữa Tứ Phần Luật và Luật Pāli, chúng
ta thấy Giới Bổn Ni của Tứ Phần Luật hơn 12
giới, trong khi đó số lượng giới Ba-dật-đề của Tỳ-kheo
trong Tứ Phần Luật giảm xuống 2 giới. Vì hiện nay
tài liệu quá ít cho nên chúng ta không thể xác nhận được
những giới nào được thêm vào sau này. Ví dụ, một trong
hai giới 162 và 163 của Tỳ-kheo-ni trong tụ này, tôi nghĩ rằng
nó có thể được chế định thêm sau này vì nội dung của
nó bị lập lại.
Khảo
sát các giới Ba-dật-đề của Tỳ-kheo-ni cho chúng ta thấy
rằng các giới này giúp cho các Tỳ-kheo-ni phải chú tâm đến
cách ứng xử hằng ngày của họ. Nhiều giới của Tỳ-kheo-ni
cũng đề cập đặc biệt đến các vấn đề của nữ giới.
Số lượng giới liên hệ đến vấn đề thọ giới của phụ
nữ là nhiều nhất, do đó chúng ta có thể hiểu rằng qua
việc giáo dục, đức Phật đã cố gắng nâng đỡ vị trí
của nữ giới và giúp họ phát triển khả năng của chính
mình. Ðiều này được thể hiện trong các giới được chế
định về phẩm hạnh và trách nhiệm của một vị Thầy,
và thể hiện trong giới quy định cho một phụ nữ thọ giới.
Các giới của Tỳ-kheo-ni lien quan đến vấn đề giáo giới,
một số giới quy định nghiêm túc về phẩm hạnh của vị
Tỳ-kheo phải có, vì các vị ấy là bậc thầy, bậc cố vấn
cho Tỳ-kheo-ni. Điều này cũng nói lên rằng đức Phật đã
hết sức quan tâm đến vấn đề giáo dục cho phụ nữ. Chúng
ta cũng thấy rằng nhiều giới thêm vào cho Tỳ-kheo-ni trong
tụ này được chế định theo tình huống và bối cảnh xã
hội trong thời Ấn Độ cổ đại.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 634.
[2]Ji-kwan
Lee, Biguni kyeyul yon'gu (A Study on the Chinese Bhikṣuṇī- Sse fen
lu) (Seoul: Taegakhoe Ch'ulpanbu, 1982), p. 220.
[3]Sacred
Buddhist Books. Tập XI, p. xxv.
[4]
Kabilsingh, p. 91.
[5]
Wijayaratna, p. 142.
[6]
Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 1056.
[7]
Sách đã dẫn, pp. 734-778, 1034-1038.
[8]
Sách đã dẫn, pp. 634-695. 1018-1020.
[9]
Tứ Phần Luật không giải thích về “một người chưa thọ
giới cụ túc” là người như thế nào, nhưng Luật Pāli (Sacred
Buddhist Books. Tập XI, p. 190) giải thích rằng người chưa thọ
giới cụ túc là “những người không tôn kính, không kính
trọng Tỳ-kheo [hay Tỳ-kheo-ni].
[10]
Đúng lúc (Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 658) là: lúc đau,
lúc may y, lúc dâng y, lúc đi trên đường, lúc đi trên thuyền.
[11]
Sái thời (Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 662) là từ lúc sau
bữa trưa đến sáng sớm trước khi mặt trời lặn.
[12]
Ðại Chánh Tạng đề cập không những đến thức ăn
mà còn cả đến thuốc nữa (bất thọ thực cập dược giả
khẩu trung). (chú thích của người dịch).
[13]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỷ-kheo-ni thực, gia trung hữu
bảo, cung an toạ giả, Ba-dật-đề”, nghĩa là nếu Tỷ-kheo-ni
ăn rồi ngồi trong nhà có đồ báu, phạm Ba-dật-đề. Nhưng
đoạn trên tác giả lại dịch sang tiếng Anh là “Not to sit
down in a lay person’s house with a wife and husband” nghĩa
là cấm ngồi trong nhà với vợ hoặc chồng của một gia chủ
(chú thích của người dịch).
[14]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỳ-kheo-ni thực, gia trung
hữu bảo, cung an toạ giả, Ba-dật-đề” nghĩa là nếu có
Tỷ-kheo-ni ăn trong nhà có của báu mà ngồi nán lâu thì phạm
Ba-dật-đề. Trong bản tiếng Anh dịch là “Not to sit down in
a private with a couple”, nghĩa là cấm ngồi ăn chỗ kín với
vợ chồng” (chú thích của người dịch).
[15]
Ðại Chánh Tạng ghi là “lộ địa” nghĩa là chỗ trống
trãi, chứ không phải chỗ riêng hoặc chỗ kín như trong bản
tiếng Anh dịch là “private place” nghĩa là chỗ riêng hoặc
chỗ che khuất (chú thích của người dịch).
[16]
Đúng lúc (Ðại Chánh Tạng, Tập XX, p. 675) nghĩa là lúc trời
nóng, lúc bệnh, lúc có gió mưa, đang đi trên đường.
[17]
Một vị Thức-xoa-ma-na thọ 6 giới, chuẩn bị thọ giới
cụ túc (chú thích của tác giả). Người dịch đối chiếu
với Ðại Chánh Tạng ghi là “Sa-di-ni” chứ không phải
“Thức-xoa-ma-na” như bản dịch của tác giả (chú thích
của người dịch).
[18]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỷ-kheo-ni dữ dục cánh,
hậu tiện há giả, ba-dật-đề. Nhược Tỷ-kheo-ni, Tỷ-kheo-ni
cộng đấu tranh, hậu thính thử ngữ dĩ, dục hướng bỉ
thuyết, ba-dật-đề” nghĩa là: nếu Tỷ-kheo-ni đã nhận
dục rồi, sau lại mắng chửi, phạm ba-dật-đề. Nếu các
Tỷ-kheo-ni gây gổ lẫn nhau rồi lại nhận dục của người
đó, phạm ba-dật-đề. Một điểm cần lưu ý khác là
trật tự của các giới trong bản dịch tiếng Anh và nguyên
tác trong Ðại Tạng không ăn khớp từ giới này, dẫn đến
các giới sau cũng không tương ứng (chú thích của người
dịch).
[19]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỳ-kheo-ni sân nhuế cố bất
hỷ, đả bỉ Tỳ-kheo-ni giả, ba dật-đề” nghĩa là nếu
một vì Tỳ-kheo-ni vì sân giận, không vui mà đánh một vì
Tỳ-kheo-ni khác phạm ba-dật-đề (chú thích của người dịch).
[20]
Tác giả dịch sang tiếng Anh như sau: Not to make the legs of a
chair larger than the eight fingers breath. Nếu dịch sát câu trên
là: không được làm các chân ghế rộng hơn 8 ngón tay. Chúng
tôi đối chiếu với bản Ðại Chánh Tạng, câu này được
viết: “Nhược Tỷ-kheo-ni tác thằng sàng nhược mộc sàng
túc ưng cao Phật bát chỉ, trừ nhập bệ khổng thượng, nhược
tiệt cánh quá giả, ba-dật-đề. Câu trên có nghĩa là: Nếu
Tỳ-kheo-ni làm giường dây, hoặc giường gỗ, chân giường
không cao quá tám ngón tay của Phật, đã trừ lỗ mộng để
ráp trở lên, nếu quá tiêu chuẩn trên thì phạm tội Ba-dật
đề, phải cắt bỏ.
[21]
Mùa an cư chấm dứt sau 3 tháng, và bắt đầu sau ngày rằm
tháng 6 hoặc 7 âm lịch. Xem thêm chi tiết Upasak, pp. 198-199.
[22]
(Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p. 749) ghi khổ của khăn tắm
chiều dài 6 gang tay đức Phật, rộng bằng 2 gang rưỡi tay
đức Phật.
[23]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỷ-kheo-ni phùng tăng-già-lê
quá ngũ nhật, trừ nan sự khởi, ba-dật-đề” nghĩa là nếu
một Tỷ-kheo-ni may y Tăng-già-lê quá năm ngày thì phạm tội
ba-dật-đề, trừ khi có vấn đề khó khăn phát sinh.
[24]
Sáu giới của Thức-xoa-ma-na (Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, pp.
756.1432.1048):
(1)
Cấm dâm dục.
(2)
Cấm trộm cắp.
(3)
Cấm sát sanh.
(4)
Cấm nói láo.
(5)
Cấm ăn sái giờ.
(6)
Cấm uống rượu.
[25]
Nội dung giới này không có trong Ðại Chánh Tạng. Ðại Chánh
Tạng ghi: “Nhược Tỷ-kheo-ni tri như thị nhân, dữ thọ cụ
túc giới giả, ba-dật-đề” nghĩa là nếu Tỷ-kheo-ni biết
người ấy như vậy mà cho thọ giới cụ túc thì phạm ba-dật-đề.
Người dịch nghĩ rằng, “người như vậy”, ở đây muốn
chỉ trường hợp của giới 126, nghĩa là cấm cho thọ cụ
túc giới đối với một phụ nữ đã cưới gả được 12
năm, trải qua 2 năm tu tập Thức-xoa, nhưng không được
Tăng đoàn đồng ý (chú thích của người dịch).
[26]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỷ-kheo-ni tri nữ nhân dữ
đồng nam, nam tử tương kính ái sầu ưu sân nhuế nữ nhân,
độ linh xuất gia thọ cụ túc giới giả, ba-dật-đề”;
nghĩa là nếu Tỷ-kheo-ni biết người nữ ấy cùng với thiếu
niên, thanh niên yêu thương, quý trọng lẫn nhau mà sanh sầu
bi khổ não mà độ cho người ấy xuất gia, thọ cụ túc giới
thì phạm ba-dật-đề (chú thích của người dịch).
[27]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Nhược Tỳ-kheo-ni bất mãn nhất tuế,
thọ nhân cụ túc giới giả, ba-dật-đề” nghĩa là: nếu
Tỳ-kheo-ni chưa đủ một năm mà truyền giới cụ túc
cho người thì phạm Ba-dật-đề. Tác giả dịch sang tiếng
Anh như sau: “Not to ordain two Śīkṣamāṇas in the same year as
a preceptor” nghĩa là không được truyền giới cụ túc
cho hai Thức-xoa-ma-na trong cùng một năm (chú thích của
người dịch).
[28]
Ngày tụng giới (Uposatha) vào ngày cuối tháng và 14 hoặc 15
của tháng âm lịch. Nghi thức chính trong ngày lễ là tụng
Giới Bổn (prātimokṣa). Tất cả Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni phải
có mặt trong ngày lễ này. Trong lúc đọc Giới Bổn, mỗi
Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni phải tự mình thú tội. Theo Wijaratna,
(p. 136), lễ tụng giới của Tỳ-kheo-ni được tổ chức trong
giảng đường, nơi đó họ được tôn xưng là “Thánh
Ni (Pāli: Arya).”
[29]
Sa-di là “chú tiểu” hay còn gọi là “điệu”. Ðây là
thứ lớp thứ nhất trong ba thứ lớp trong Ni đoàn.
[30]
Trong nguyên tác tiếng Anh, tác giả viết: Observe the rainy season
retreats which come twice a year except in case of illness; nghĩa là
“Phải tuân thủ vũ an cư 2 lần trong một năm, ngoại trừ
khi bệnh”. Câu này dễ làm cho độc giả hiểu lầm là một
năm có hai lần an cư (chú thích của người dịch).
[31]
Chướng nạn hay còn gọi là “già-nạn”. Nếu một vị ni
mắc vào một trong 24 già nạn thì không được thọ đại
giới. Xem chi tiết trong Sacred Buddhist Books. Tập XX, pp. 375-379
hoặc bản dịch của Bà Horner, pp. 145-154. Các già-nạn không
được thọ giới cụ túc của Tỳ-kheo, xem thêm tác phẩm
của bà Wijayaratna, p. 120.
[32]
Trong nguyên tác tiếng Anh, tác giả chỉ dùng lối khuyên “hãy”
(Greet….) chứ không dùng cách thức bắt buộc “not to…”
(chú thích của người dịch).
[33]
Jung Hee Kang, "The Buddhist View of Women: Women's Education Manifested
in Bhik.su.nii-Vinaya "(Luận án Cao học) (Seoul: Tongguk University,
1983), pp. 48-9. Tôi có tham khảo phần khái quát của Kang
về các giới thuộc Ba-dật-đề nhưng tôi rút ngắn phần
phân loại khác về các tội.
[34]
Mizu, p. 709.
[35]
Sacred Buddhist Books. Tập XX, p. 385.
[36]Murcott,
p. 67.
[37]
Sách đã dẫn, p. 4.
[38]
Kabilsingh, p. 106.
[39]
Sacred Buddhist Books. Tập XI, p. 289; hoặc Ðại Chánh Tạng, Tập
XXII, pp. 652-653.
[40]
Sách đã dẫn. Tập XI, p. 293; hoặc Ðại Chánh Tạng, Tập
XXII, p. 652
[41]
Sách đã dẫn. Tập XIII, p. 187; hoặc Ðại Chánh Tạng, Tập
XXII, p. 720
[42]
Sách đã dẫn. Tập XIII, p. 189.
[43]
Gross, p. 36.
[44]
Có 33 lần, 25 lần trong phần Ba-dật-đề và 8 lần trong Ba-dật-đề-đề-xá-ni
của Tỳ-kheo-ni.
[45]
Sacred Buddhist Books. Tập XX, p. xiv.
[46]
Mặc dù không có thời gian cố định cho các tập sự nam,
nhưng họ phải hoàn thành một số giai đoạn tu tập trước
khi thọ cụ túc giới (Tỳ-kheo). Wijayaratna (p.120) giải thích:
“Theo các giới này, người tập sự phải trải qua thời
gian chuẩn bị và được dạy dỗ theo sự hướng dẫn
của vị Thầy. Giai đoạn tu tập này được thực hiện khoảng
trước lúc thọ cụ túc giới hoặc thời gian khoảng giữa
thọ sa-di và cụ túc. Sa-di phải đợi đến khi đủ 20 tuổi
mới được thọ cụ túc giới.
[47]
Mizu, p. 707.
[48]
I. B. Horner, Women Under Primitive Buddhism, p. 251.
[49]
Sacred Buddhist Books. Tập XX, p. 385.
[50]
Sách đã dẫn, Tập XIII, p. 361, hoặc Ðại Chánh Tạng, Tập
XXII, pp. 754-755.
[51]
Sách đã dẫn, p. 363, hoặc cùng trang và Sách đã dẫn.
[52]
Karma Lekshe Tsomo, "Prospects for an International Bhikṣuṇī Saṅgha,"
in Sakyadhītā: Daughters of the Buddha, ed. Karma Lekshe Tsomo (Ithaca,
New York: Snow Lion Publications, 1988), pp. 237-8.
[53]
Sacred Buddhist Books. Tập XIII, p. 371.
[54]
I. B. Horner, Women Under Primitive Buddhism, p. 141.
[55]
Sacred Buddhist Books. Tập XIII, p. 377, hoặc Ðại Chánh Tạng,
Tập XXII, pp. 761-762.
[56]
Sách đã dẫn, p.377, hoặc Sách đã dẫn, 761-762.
[57]
Kabilsingh, p. 103. Tám đức hạnh (Sacred Buddhist Books. Tập XI,
pp. 265-266, hoặc Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, p.646): một người
có đức hạnh, có đời sống giới luật tinh nghiêm, có tư
cách và ứng xử đúng pháp, thấy nguy hiểm trong các lỗi
nhỏ nhặt, tu tập đúng theo các điều luật, tinh thông, có
trí nhớ siêu việt, có kiến thức rộng.
[58]
I. B. Horner, Women Under Primitive Buddhism, p. 127.
[59]
Nancy Auer Falk, "The Case of Vanishing Nuns: The Fruits of Ambivalence
in Ancient Indian Buddhism," in Unspoken Worlds, ed. Nancy Auer Falk and
Rita M. Gross (Belmont: Wadsworth Publishing Company, 1989), 159.
[60]
Wijayaratna, pp. 161-162.
[61]
Jampa Tsedroen, "The Significance of the Conference," in Sakyadhītā:
Daughters of the Buddha (Ithaca, New York: Snow Lion Publications, 1988),
p. 48.
[62]
Sacred Buddhist Books. Tập XI, p. 45.
[63]
Sách đã dẫn, p. 323.
[64]
Sách đã dẫn, Vol. XIII, p. 317.
[65]
Sách đã dẫn, p. 319.
[66]
Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, pp. 647-695, 1018-1020.
[67]
Giới này giống như giới thứ 8 của Tỳ-kheo-ni trong phần
Ba-dật-đề-đề-xá-ni. Luật Pāli (Sacred Buddhist Books. Tập
XI, p. 341) ghi rõ 8 loại thức ăn: ghee, chesse (làm từ sữa),
dầu, mật, đường, thịt, sữa và sữa chua.
[68]
Nguyên tác bản tiếng Anh, tác giả đã dùng từ Sugata (chú
thích của người dịch).
[69]
Đại Chánh Tạng, Tập XXII, pp. 678-679.
[70]
Sách đã dẫn, pp. 716-717.
[71]
Prebish, p. 17.
[72]
Kabilsingh, pp. 152-4.
[73]
Sacred Buddhist Books. Tập XX, pp. 378-379.
Đọc
Thêm: Tứ Phần Luật, Việt dịch:
Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng